Bàn về cách phán đoán phương vị cát hung sau khi định cục trong Kỳ Môn Độn Giáp

Bàn về cách phán đoán phương vị cát hung sau khi định cục trong Kỳ Môn Độn Giáp

Kỳ Môn Độn Giáp là một chất chứa lớn của thời không. Người xưa khi làm việc thường chọn lựa thời gian và phương vị tốt nhất, điều này thường cũng là chọn lựa thời thần và cung vị cát lợi nhất.

"Tốt nhất" và "cát lợi nhất" tuy có sự khác biệt, nhưng trong phần lớn trường hợp là một. Việc lựa chọn giờ lành phương tốt thời cổ đại có thể được xác định sau khi so sánh các đặc điểm giữa các cách cục cát khác nhau hoặc cung chuyên dụng, bàn, sao. Trong tình huống thông thường, khi người xưa không quá xem xét tỉ mỉ các cách cục, họ cũng thường trực quan quan sát phương vị được biểu thị bởi các cụm chữ màu đỏ trên cục bàn, đồng thời xem xét thêm các điều kỵ đặc biệt được đánh dấu trên Địa Bàn, từ đó có thể có được một ấn tượng tổng thể.

Theo sách cổ, trên cục bàn, các phương vị có chữ màu đỏ đánh dấu ba cửa cát Khai, Hưu, Sinh; tam kỳ Ất, Bính, Đinh; bốn vị thần cát Giá Phù, Cửu Thiên, Thái Âm, Lục Hợp; cùng với phương vị của Giá Phù, Giá Sử, Thiên Ất (là những vị "chủ tể nhất thời của Tam Kỳ Bát Môn"), và phương vị được thời can tương trợ, đều thuộc về cát. Nếu trên bốn bàn là Thiên Bàn, Địa Bàn, Nhân Bàn (Bát Môn) và Thần Bàn (Đỉnh Bàn), những yếu tố cát này trùng hợp tại một phương vị, hình thành cách cục hai tầng, ba tầng thậm chí bốn tầng, thì đương nhiên càng cát lợi hơn.

Trong tình huống thông thường, trong số các yếu tố cát, nên lấy cát môn làm chính, cát tinh thứ đến, cát thần phụ trợ. Phương vị có môn cát mà không có kỳ cát, cũng có thể tính là cát; phương vị có kỳ cát mà không có môn cát, thì không được coi là cát. Nếu cả kỳ lẫn môn đều không có, thì nên thuộc về phương hung.

Tuy nhiên, sách cổ đặc biệt chỉ ra rằng, các phương cát nêu trên chỉ là hiện tượng bề ngoài: trước khi đưa ra phán đoán, còn phải xem thời can có khắc nhật can hay không, hình thành cách cục hung "Ngũ bất ngộ thời".

Còn phải xem xét kỹ lưỡng xem có phạm phải những đại kỵ được đánh dấu đặc biệt trên Địa Bàn hay không:

  • Hình: Lục Nghi kích hình

  • Chế: Môn bức cung (môn khắc cung)

  • Mộ: Tam Kỳ nhập mộ, Thời can nhập mộ

Nếu gặp phải những cách cục đại hung này, thì phương cát cũng chuyển thành phương hung.

Nếu không có các cách cục trên, lại gặp cát môn, cát tinh đang ở trạng thái vượng tướng, thì có thể xác định là phương cát.

Khi phán đoán cát hung, tuyệt đối không thể xem nhẹ trạng thái sinh khắc và vượng, tướng, hưu, tù giữa các bàn với nhau: Bát Môn, Cửu Tinh, Tam Kỳ Lục Nghi đều như vậy. Không chỉ có mối quan hệ sinh khắc khác nhau giữa chúng, mà trong các mùa vụ khác nhau và các phương vị khác nhau, trạng thái sinh khắc vượng tướng mà bản thân chúng phải chịu từ bên ngoài cũng hoàn toàn khác biệt. Thậm chí vì vậy mà cát có thể giảm cát hóa hung, hung cũng có thể giảm hung hóa cát.

Ví dụ: Khai môn thuộc Kim, thì Ất đến cung Khôn số 2 (thuộc Thổ), cung Cấn số 8 (thuộc Thổ), Thổ có thể sinh Kim; lại càng thích hợp vào mùa Thu Đông, lúc Kim vượng hoặc Thổ vượng sinh Kim. Lúc này mới gọi là cách cục thực sự cát, được đắc địa lại đắc thời. Sao trên Thiên Bàn cũng vậy, gặp tháng mùa vượng tướng, mới gọi là có khí, nếu không có khí thì mức độ cát hung giảm đi rất nhiều. Tam Kỳ và Lục Nghi chú trọng phân tích mối quan hệ sinh, khắc, chế, hóa giữa chúng với môn, cung, địa bàn, kỳ, nghi theo thời điểm. Ví dụ Ất Kỳ thuộc Mộc, Ất đến Hưu môn (cát môn), thì ba cung Khảm (Thủy), Chấn (Mộc), Tốn (Mộc), thành thế Thủy sinh Mộc hoặc đồng loại hòa hợp; nhưng nếu đến Kim môn (như Kinh môn, Khai môn) và cung Đoài số 7 (thuộc Kim), thì thành thế Kim khắc Mộc.

Khi phán đoán cát hung, cuối cùng còn phải phân rõ chủ và khách, theo như sách cổ thì đây là điều căn bản và vô cùng quan trọng. Nếu không thì dễ bị đảo ngược, và đưa ra kết luận cát hung trái ngược.

Phân rõ chủ khách, tức là giải quyết vấn đề trong không gian, bên nào là đại diện cho người dùng việc (chủ thể hành động) trong cặp mâu thuẫn của cùng một sự vật. Việc phân biệt chủ thể và khách thể tương đối dễ dàng, thông thường có thể phân tích từ bốn phương diện:

  1. Người (bên) hành động trước là chủ, người (bên) hành động sau là khách;

  2. Bên (người) động là khách, bên (người) tĩnh là chủ;

  3. Bên (người) chủ động là khách, bên (người) bị động là chủ;

  4. Thiên Bàn là khách, Địa Bàn là chủ.

Còn về việc cục tượng là lợi cho chủ hay lợi cho khách, ngoài việc xem xét các loại cục tượng cụ thể hình thành và trạng thái sinh khắc vượng tướng, còn phải xem xét âm dương khai hợp. Nói chung, trong năm giờ dương (thời can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu), Độn Giáp khai thời, có lợi cho khách; trong năm giờ âm (thời can là Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý), Độn Giáp hợp thời, có lợi cho chủ.

Vì vậy, ngoại trừ các cách cục đặc biệt, để tiện cho việc quan sát và phân tích tương đối toàn diện trong phán đoán cát hung phức tạp, tạm thời soạn một bài quyết, có thể có tác dụng tổng kết như sau:

Một xem Thời can
Hai xem Hình,
Ba xem Nhập Mộ
Bốn Môn bức (Môn khắc cung);
Thời Địa sinh khắc quan Vượng tướng,
Âm Dương khai hợp phân Chủ Khách.

Theo chín bước quy trình này để quan sát, dù không tra xét nhiều cách cục, nhưng việc phán đoán phương vị cát hung trên đại thể, kết quả của hai cách (tra cụ thể và làm theo quy trình) chắc hẳn sẽ không khác nhau nhiều.