BÍ TÀNG THÔNG HUYỀN BIẾN HÓA LỤC ÂM ĐỘNG VI ĐỘN GIÁP CHÂN KINH CHÍNH GIẢI
BÍ TÀNG THÔNG HUYỀN BIẾN HÓA LỤC ÂM ĐỘNG VI ĐỘN GIÁP CHÂN KINH CHÍNH GIẢI
TỰA
(Lưu ý: "Lục Âm Động Vi Chân Kinh" thực chất là sự biến thông của Lục Giáp phi cung, đây là câu chân ngôn tinh túy nhất của thiên này. Nếu mê tín tế luyện, thì khác xa với bản chất, đó cũng là một biểu hiện của sự tò mò và sức khỏe tâm lý của người học. Thoát khỏi khuôn khổ của Kỳ, Môn và Cửu Cung thì không thể gọi là Kỳ Môn Độn Giáp. Đọc phần Trung thiên "Lục Âm Ẩn Bí Yếu Biến" sẽ hiểu được. Đằng sau việc hô thần khiến tướng là sự tinh vi diệu ảo của phương pháp số thuật. Một âm một dương là đạo, chính là chữ "Ngộ" mà thôi.)
Sự hiểu biết của tôi về Kỳ Môn Độn Giáp bắt đầu từ những truyền thuyết thần kỳ về nó mà tôi nghe được từ sớm. Sau đó, nhờ làn gió cải cách của đất nước, cùng với sự cởi mở trong nghiên cứu tư tưởng Kinh Dịch, và việc dỡ bỏ cấm đối với các sách cổ xuất bản, tôi đã may mắn được chiêm ngưỡng diện mạo thực sự của môn học thần bí này. Sau đó, tôi dành trọn hai mươi năm tâm huyết, phấn đấu trong lĩnh vực dự đoán số thuật truyền thống, những tâm đắc đạt được không dám cất giữ, xin được dâng hiến cho đông đảo những người yêu thích Dịch học, để Kỳ Môn Độn Giáp – môn thuật bí truyền ngàn năm – trở lại đúng diện mạo vốn có, phát huy ánh sáng xứng đáng của nó.
Sự kế thừa của Kỳ Môn Độn Giáp đại thể chia làm hai tông:
Số thuật dự đoán và sử dụng.
Phù ấn, chú văn, pha trộn một số ảo thuật mang tính thôi miên.
Tôn chỉ của nó vẫn là một, tức là dự đoán Kỳ Môn Độn Giáp và nắm bắt thời không để sử dụng, giành thắng lợi trong đấu tranh quân sự và được – mất trong nhân sự. Còn phù chú thuộc về cảm ứng thiên nhân hợp nhất. Nhưng điều ẩn chứa thực chất trong nó là bất ngôn chi bí của số thuật. Pháp thuật đều thuộc về cảnh giới hư vô phiêu miểu.
Ở quê tôi có một câu chuyện khá thực: Vào thời xã hội cũ, có một nhà giàu, chủ nhà họ Trương, ưa thích đạo thuật, thường được gọi là Trương Thần Tiên. Nghe đồn ông ta thông hiểu Kỳ Môn Độn Giáp. Vào một đêm mùa đông, mấy người nông dân làm thuê trong nhà muốn xem đạo thuật của chủ, và nói ông ta đưa họ lên chơi chốn Dao Trì tiên cảnh. Sau một hồi thi triển phép thuật, mấy người thấy mình lên được thiên cung, cảnh đẹp kỳ hoa dị thảo ngắm chẳng hết. Đến sáng, mấy người mới phát hiện ra mình chỉ quanh quẩn bên sân lúa suốt đêm, tuyết dưới chân đã bị giẫm nát thành đường. Mấy người như vừa tỉnh mộng.
Từ câu chuyện này, người học cần biết: pháp thuật chẳng qua chỉ là ảo thuật thôi miên hư ảo mà thôi, cũng gọi là "Chú Do". Trên thực tế, pháp thuật không thể thay đổi được thế giới vĩ mô, những gì thấy được chỉ là ảo giác về tâm lý. Người thi triển thôi miên đã khống chế ý thức của người khác. Đây cũng là lý do chính mà trong cổ sử có ghi chép về pháp thuật Kỳ Môn nhưng không thấy ai thành công. Bởi vì phương pháp này có phạm vi thi triển rất nhỏ, không thể khống chế được đại cuộc. Cũng bởi vì nếu sử dụng không đúng cách sẽ gây hại cho xã hội và người khác, nó trái với đạo, nên bị cấm. Nhưng khi thi triển nó có thể liên quan đến thời không được dự đoán, đồng thời cần kết hợp với thuật bảo nhất tu luyện của Đạo gia.
Tác giả của bộ kinh này là Triệu Phổ, cũng là tác giả gốc của thiên "Yên Ba Điếu Tẩu Phú" trong Kỳ Môn Độn Giáp. Ông ta vừa rành số thuật vừa rành pháp thuật, điều này để người học tự liên tưởng. Có người nói Kỳ Môn là thuật của đế vương, là hệ thống dự đoán cao siêu, đã từng bị tầng lớp thống trị sửa đổi, đó cũng có thể xem là một chứng cớ.
HƯỚNG DẪN ĐỌC
Khi dịch bài viết này, tôi cố gắng chuyển tải ý nghĩa pháp thuật của nó và mối quan hệ mật thiết với số thuật. Nếu người học vẫn muốn tìm kiếm chân tướng từ những pháp thuật hư ảo, thì đã đi ngược lại mục đích ban đầu của tôi khi dịch cuốn Kỳ Môn Độn Giáp này. Nhưng nó là một phương pháp biến thông của Kỳ Môn số thuật, điều này cần được khẳng định.
Chúng ta thường dùng tiết khí và bố cục chỉ là Kỳ Môn dương dụng, nó là một tọa độ của thiên thể, thuộc về trời, do đó có thể dự đoán được kết quả cát hung của sự việc. Còn có một loại Kỳ Môn nữa, đó là cái bóng của tọa độ này in xuống đất, thuộc về đất, là âm, là kết quả biến ảo. Nó thể hiện quy luật Dịch: một âm một dương là đạo. Phương pháp này cực kỳ đơn giản, người xưa không muốn cho người đời biết, đã thiết kế ra tông phái phù chú để kế thừa, phần lớn sử dụng ẩn ngữ. Ví dụ, nếu đổi những thứ thuộc về thần quỷ thành lý thuyết tượng số của Dịch, thì lớp sương mù trên nó sẽ dần dần được vén lên. Phương pháp này là phương pháp xảo thuật của Dịch học, người mới học khó thể lĩnh hội, nhưng lâu ngày sẽ có ngộ ra.
Đối với chú ngữ, nó có thể làm người ta an tĩnh, là phương thức tự thôi miên, đều là bạch thoại, tôi hầu hết dịch nguyên văn, vì cũng không có cách nào dịch khác. Đối với các công dụng khác nhau của phù, nó tương tự như các loại dự đoán khác nhau của Kỳ Môn Độn Giáp chính thống, còn bản thân lá phù thì dường như không có ý nghĩa thực tế lắm. Phần lớn chúng là những nét vẽ phóng đại, cách điệu hình sao Bắc Đẩu, thêm chữ "quỷ" bên dưới hoặc bên trong. Quỷ là âm thể, đại khái Lục Giáp âm phù là sử dụng tượng ẩn. Tổng thể mà nói, nó chính là phương pháp sử dụng biến thông của Lục Giáp phi cung trong Kỳ Môn Độn Giáp.
Trong cách gọi đối với Cửu Cung: dương là Cương, âm là Đẩu, tức là đạp cương bộ đẩu. Tượng của Bát Quái là "phạm vi thiên địa nhi bất quảng, khúc thành vạn vật nhi bất di". Kỳ Môn Độn Giáp là một nhánh chính trong sự phát triển của văn hóa Dịch. Nếu thoát khỏi tượng, số, lý của văn hóa Dịch thì sẽ không còn gì để bàn.
Đối với ảo tượng pháp thuật hư vô, trí tưởng tượng của con người là vô biên. Nó thỏa mãn lý tưởng và ham muốn tò mò của nhân loại, nhưng trong hiện thực nó không thể thực hiện được. Dương có thể dự đoán, âm là vô hình. Lục Đinh bí pháp, chính là sự biến thông của Lục Giáp phi cung. Đây là yếu chỉ của bộ kinh này.
NGUYÊN VĂN: TỜ BIỂU DÂNG CỦA TRIỆU PHỔ – THƯỢNG THƯ HỮU BỐC XẠ ĐỜI TỐNG
Thần nghe: Trời có thể đo được, thì che chở muôn vật ắt rộng; người có kỳ tài, thì lập công không khó. Giả sử thời vận trời đang hanh thông, ắt gặp hội mây gió.
Thần Triệu Phổ này, từ đầu theo phò bệ hạ, thu phục các nước, chưa từng không lấy được đồ binh thư ở phủ bí mật, công tuy không bằng Tiêu Hà đời Hán, nhưng chí của thần thì không khác. Vả lại, các các của tàng thư, có thể nói là mật. Như các sách "Thái Bạch Âm Kinh", "Khu Lôi Binh Tam Thập Lục Phủ Khí Vận Đồ", "Khởi Phong Vân Thập Nhị Giới Pháp", "Súc Thủy Quy Điển", "Bạt Mộc Thần Kinh", những mật văn như thế, không thể kể xiết. Nhưng xét cho cùng, chẳng khó lắm sao? Nghĩa của nó mờ mịt, lời lẽ dây cà dây muống; hoặc sau khi thụ giới, cả đời không uống rượu; có pháp rồi, cả họ không ăn mặn. Đã phụng thứ này, thì không thể phụng thứ khác. Tu đặt nếu có trái, ắt có trọng tai, không thể cứu vãn kịp. Thần ngu muội xem xét, chưa thấy điều thiện.
Một hôm, có ẩn sĩ Lưu Hãn ở núi La Phù đến yết kiến thần, nói: "Xưa có mật văn huyền bí, chắc ông đã có được?" Thần đáp: "Vâng." Lưu Hãn cho là chưa. Bèn lấy từ túi tử sắc một cái hộp đặt lên án, rồi đốt hương, thiết lễ bái, mở hộp lấy sách, trao cho thần và nói: "Hoàng Đế có được nó để đánh Xi Vưu ở cánh đồng Trác Lộc, cất giữ ở phủ trời, sau đó truyền cho Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ. Đời Chiến Quốc bị thất truyền, Tần Thủy Hoàng một mình có được, khuất phục thần âm trợ giúp, sau khi thống nhất thiên hạ, lại vì vô đạo mà đánh mất. Từ Tần sang Hán, sau chư hầu có được, rơi rớt khắp bốn bể nhiều lắm. Than ôi! Kẻ có được mà không thể phụng trì, kẻ thực hành mà không cung kính, đều không thể thành công. Chỉ có Trần Bình đời Tiền Hán, Đặng Vũ đời Hậu Hán, Gia Cát Lượng đời Thục Hán, Quách Tử Nghi, Lý Tĩnh đời Đường, năm người này có được, cung kính cẩn thận mà thực hành, mỗi lần dùng kỳ kế, người không thể lường. Phàm xuất quân hành trận, đánh úp đồn địch, sấm sét mưa gió tùy thời mà đến. Từ năm người ấy trở đi, pháp này không còn nghe trên đời nữa. Kẻ thảo dân lười nhác, ẩn cư ở núi La Phù, đã nhiều năm. Tiên sư trân tàng văn này, đã qua nhiều đời. Từng giới rằng: 'Sau này có bậc thánh minh chân chúa mở vận, ắt có chân nhân giúp đức, nên đem kinh này dâng. Nếu ông có thể cung kính cẩn thận, tin tưởng mà thực hành, thì công không kém gì năm người kia.'"
Thần cung kính làm theo, được khoảng nửa năm, hoặc nghe có người bên tai nói việc quân lợi hại, thần quay nhìn trong phòng chẳng thấy ai. Nghi hoặc trong lòng mở ra, hoặc có người nói: "Ta là Lục Giáp Thiên Thần, chớ nên nghi kỵ." Thần từ đó càng thêm kính sợ. Về sau bên tai báo ứng, từng việc một, không thể kể hết. Cho đến khi thân phò bệ hạ, thu phục các giặc, thế như chẻ tre, chẳng phải mưu kế dài lâu của thần, thực là công của Lục Thần. Vả lại, trong những ngày xuất quân, các tướng Vương Toàn Quang, Thôi Ngạn Địch, Lưu Quang Nghĩa, Tào Bân… đều chỉ biết thần lo việc này. Thần bảo họ: "Ngày nào đó mưa, ngày nào đó gió, ngày nào đó hỏa thiêu đồn trại." Muôn phần không sai một. Pháp ấy có thể gọi là thông huyền tiện kính.
Lưu Hãn há phải người phàm? Người ấy sau đó ẩn độn, lặn mất không rõ kết cục, há chẳng phải trời trao cho nhà Tống ta ư? Thực là gói ghém bí mật của các nhà, thực là văn huyền diệu không truyền. Viết thẳng sự việc, cẩn thận ghi chép dâng lên. So sánh đầu cuối, phù chú chỉ hơn nghìn chữ, xin cất vào ngọc quỹ, cũng để muôn năm giữ nước, cậy nhờ cảm ứng của thần trời.
Ngày mồng một tháng bảy năm Khai Bảo thứ tư (971 SCN), vâng thánh chỉ cất vào ngọc quỹ, yên vị ở Bí Thư Các.
BẢN DỊCH (Tờ biểu của Triệu Phổ)
Triệu Phổ là gia thần của Triệu Khuông Dận, vị hoàng đế khai quốc nhà Tống. Vì ông làm việc cẩn trọng, rất được hai đời vua Thái Tổ, Thái Tông trọng dụng. Được ban họ Triệu, từng ba lần làm tướng, đọc sách không nhiều, nổi tiếng với câu nói "Nửa bộ Luận Ngữ hiến vua, nửa bộ Luận Ngữ trị thiên hạ", là một trong những danh thần tài giỏi trong lịch sử. Sau đời Tống, Kỳ Môn Độn Giáp có thể được bảo tồn nhờ công lao biên tập của ông.
Kỳ Môn Độn Giáp mỗi khi đến thời loạn lạc lại xuất hiện trên vũ đài lịch sử, đó là lý do tư tưởng binh âm dương của nó đặc biệt xuất sắc trong lĩnh vực số thuật. Ẩn sĩ Lưu Hãn truyền Kỳ Môn Độn Giáp cho Triệu Phổ, cũng giống như Cửu Thiên Huyền Nữ truyền Kỳ Môn cho Hiên Viên Hoàng Đế, Hoàng Thạch Công đời Tần mạt truyền cho Trương Lương, để làm cho tư tưởng này có một địa vị uy quyền đáng tin cậy. Trong lĩnh vực huyền học ngày nay, cũng rất bình thường khi tồn tại những người được dị nhân truyền thụ, hoặc hậu duệ chính thống của Khương Thái Công, Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn rao bán nền văn hóa cổ truyền này. Xét về lời nói thì khó tin.
Văn bản được gọi là "huyền bí chi văn" này chính là Kỳ Môn Độn Giáp, có thể hiểu rất đơn giản. Để không cho hậu thế biết được sự thật của môn số thuật này, nó được viết bằng ẩn ngữ. Chức năng chính của Kỳ Môn Độn Giáp là dự đoán và quyết định sử dụng, nó là một nhánh chính của văn hóa Dịch, điều này không thể nghi ngờ. Bất kỳ bộ môn dự đoán nào, nếu thoát khỏi nguồn cội văn hóa Kinh Dịch thì đều không có cơ sở.
Câu "Nếu gặp thánh minh chân chúa mở vận, ắt có chân nhân giúp đức" có khả năng là Triệu Phổ mượn Kỳ Môn Độn Giáp để tìm một cái cớ thiên mệnh hợp lý cho việc nhà Tống soán ngôi nhà Hậu Chu. Trong lịch sử Trung Quốc, loại kỹ thuật dùng thiên mệnh để lừa gạt dân chúng này không hiếm, là một trong những thủ đoạn quen thuộc của giai cấp thống trị.
NGUYÊN VĂN: ĐỘN GIÁP THẦN KINH XUẤT XỨ TỰA
Xưa Xi Vưu nổi loạn, Hoàng Đế nhiều lần đánh không thắng. Đế nói: "Nghe nói Phục Hy trị thiên hạ không có binh, nay Xi Vưu chỉ là kẻ thường dân, sinh ra yêu khí, đánh mà không có công, chiến mà không thắng, là lỗi của ta." Bỗng trước mắt có mây ngũ sắc từ trên trời giáng xuống, trong mây có sáu nữ ngọc hầu sách, ra hai đồng nói: "Phụng thánh mệnh của Cửu Thiên Huyền Nữ, sai đem ba quyển Độn Giáp Phù Kinh xuống, bảo rằng hãy dùng để đánh. Xin hãy truyền văn này. Đây là phúc họa của trời đất, là cát hung của bát quái, biện biến động của phong vân, nhận thức thành bại của khí hậu, xem thịnh suy của nhật nguyệt, luận thuận nghịch của âm dương, biết hung cát của sao, hiểu thắng bại của lòng người. Pháp này là pháp vạn biến vạn hóa." Đế bèn quỳ dài mà nhận lấy. Hai đồng và sáu nữ ngọc cưỡi mây bay đi.
Đế bèn mở hộp, được ba quyển "Âm Phù Kinh": thượng quyển là thuật thần tiên luyện đan bảo nhất, nói về phép trường sinh; trung quyển là phép an bang định quốc, phủ an vương dân; hạ quyển bàn về việc chiến đấu. Độn Giáp là pháp của Huyền Nữ. Đế có được nó, lập đàn, tạo ấn, kiếm, lệnh, theo thứ tự đánh Xi Vưu ở cánh đồng Trác Lộc, sau đó thắng lợi, cất trong kim điện. Sau đại loạn, Thang, Văn có được nó, truyền cho đời thường. Ai có được nó, quyết thắng như tiên, nên cẩn thận, chớ truyền cho kẻ phàm phu hạ đẳng.
Lục Đinh là chính thần trong thiên hạ, khác với các thần thường như Thanh Long, Minh Đường, Thái Âm, thường theo sát Ngọc Nữ, chịu sự sai khiến. Trong trời đất, như thân âm độn hành, tay trái cầm đao, nín thở một hơi, quay sang phải vẽ một vòng tròn dưới đất. Nếu có kẻ ác ở trong vòng, thì làm cuộc cục 6 thước ở bên ngoài; nếu kẻ ác ở ngoài vòng, thì làm cuộc cục 6 thước ở bên trong; nếu ở ngoài đồng, thì làm cuộc cục ở ngoài đồng.
Biến thần dùng toán tử (thẻ tre) 6 cái, mỗi cái dài 1 thước 2 tấc, theo từng tuần, lần lượt sắp xếp theo Thanh Long. Thả thẳng toán tử đến cửa Ngọc Nữ, tay trái kéo, các toán nằm ngang thì đóng cửa, rồi từ Thiên Môn, Địa Hộ mà đi. Sau khi đóng cửa, thân ẩn độn. Mỗi toán tử tồn tại như một người. Ngọc Nữ đến Thái Âm, người ngoài không thấy ta.
Trước hết đọc chú tịnh khẩu, tịnh thân, tay trái kết ấn, tay phải cầm kiếm, bước bắc đẩu đinh cương bộ, để tóc xõa, chống gươm, đọc xong chú tịnh khẩu tịnh thân, nhắm mắt, giấu tinh, mặc niệm tên bảy sao một lượt, đoạn quan thổ địa. Đọc chú quyết, phải hướng về phương vượng lấy khí thổi vào, rồi mới thực hành. Pháp này dùng trong xuất hành, hành quân, chẳng kể hung thần ác sát, đều vào đất tránh né, không dám cản đường. Dù quân ít địch nhiều, hoặc vạn quân vây khốn, chỉ cần nhìn sao Thiên Cương lấy khí, chỉ vào phương nào mà đi, nghìn quân không thấy, vạn quân không biết.
Đây là khẩu quyết huyền diệu, nghìn vàng không truyền, vạn vàng không độ, chớ để lộ thiên cơ, là bảo vật hộ quốc, không thể cho người thấy.
{Ở đây, "Thông Huyền Biến Hóa Lục Âm Động Vi Độn Giáp Chân Kinh" và tựa của "Hoàng Đế Âm Phù Kinh" do Lý Thuyên đời Đường chú giải về cơ bản giống nhau, liệu có bị trộn lẫn không? Hậu thế cũng có nói "Âm Phù Kinh" chính là Độn Giáp Kinh. Cũng chia làm thượng, trung, hạ ba quyển, là tác phẩm kinh điển của Đạo gia, do Lý Thuyên gặp Lệ Sơn Lão Mẫu ở núi Thiếu Thất mà truyền, chú giải ý gốc. Đạo gia đặc biệt coi trọng nó, có câu: "Đạo Đức Linh Văn đầy năm ngàn, Âm Phù Bảo Tự hơn ba trăm. Xưa nay thượng tiên vô số kể, đều từ nơi này đạt đến chân thuyên."}
BẢN DỊCH (Nguồn gốc Độn Giáp Thần Kinh)
Hầu như tất cả các tác phẩm về Kỳ Môn Độn Giáp đều đẩy thời đại xuất hiện của nó lên thời kỳ Hiên Viên Hoàng Đế đánh Xi Vưu, Cửu Thiên Huyền Nữ truyền phù quyết Kỳ Môn cho Hoàng Đế để đánh Xi Vưu ở cánh đồng Trác Lộc. Không nghi ngờ gì nữa, nó là một phương pháp số thuật kết hợp với binh pháp.
"Thượng Thư" viết: "Thủ lĩnh của Cửu Lê, hiệu là Xi Vưu." Ông là thủ lĩnh bộ lạc Tây Phương Cửu Lê. Trong Kỳ Môn Độn Giáp, ông ta thực chất ẩn chứa là Canh trong thập thiên can. Hành Thổ thuộc Kim, là mùa thu, là Bạch Hổ phương Tây, chủ về binh qua, chiến loạn, là hung sát. Trên thiên văn tinh tượng là Thái Bạch, Trường Canh. Lý Thuyên đời Đường có viết binh pháp "Thái Bạch Âm Kinh", đều xuất phát từ tượng này.
Hoàng Đế ở vào trung ương, là vua Đức Thổ. Trong Kỳ Môn Độn Giáp, ông ta thực chất ẩn chứa là Mậu Thổ trong thập thiên can, ở vào trung ương của bốn mùa. Trong thứ tự lưu hành của ngũ hành (Mộc – Hỏa – Thổ – Kim – Thủy), thuận thì tương sinh, Mậu Thổ sinh Canh Kim. Thế sao ông ta lại đánh nhau với Canh Kim? Bởi vì Giáp được gọi là Trực Phù ẩn độn trong đó. Ông là thống soái của Lục Nghi (Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và Tam Kỳ (Ất, Bính, Đinh), cho nên phải nắm cơ ở trung ương. Kim dựa vào Thổ để sinh, Giáp Mộc khắc Mậu Thổ làm mất khí, khiến nguồn sống của Kim bị cắt đứt. Giáp Mộc là Đức, Canh Kim là Sát. Đạo trời ưa sinh, dùng hình thức phù Đức ức Sát để hoàn thành vận trình sinh sinh bất tức.
Mà Trực Phù Giáp Tý (Mậu) lại là hóa thân của sao Thiên Cương ở đầu cán bắc đẩu, thuộc về dương cương chi khí, theo tiết khí mà bố khắp tám phương. Nó khác với thuật Lục Nhâm dùng nghịch số hợp thần của nguyệt kiến làm nguyệt tướng, thuộc về âm nhu chi khí, là hệ thống phản Mộc tinh của thiên thể.
Kỳ Môn Độn Giáp do Cửu Thiên Huyền Nữ truyền, vậy Cửu Thiên Huyền Nữ sinh ra vì sao? Huyền là màu sắc trung ương của Tử Vi viên. "Sử Ký – Thiên Quan Thư" chép: "Sao Bắc Đẩu là xe của đế, vận hành ở trung ương, điều hòa bốn mùa, phân định ngũ hành, định chế khí hậu." Trung ương của thiên thể là Bắc Cực, chỉ có ngôi sao này ở giữa bất động, các sao vây quanh mà xoay. Nữ là âm tượng, chín là Cửu Cung Lạc Thư. Nó là sao Bắc Đẩu quay quanh sao Bắc Cực, cộng thêm hai sao Phụ Bật tạo thành.
"Đường Thuật" chép: "Dưới đất có một quẻ, trên trời có một sao, xưa nay theo nhau." Trên trời là Cửu Tinh, dưới đất là Bát Quái, hợp với trung ương Hoàng Cực thành Cửu Cung. Mấy bộ môn số thuật lớn đều đang sử dụng phương pháp này, chỉ khác tên gọi.
Thời cuộc Kỳ Môn lấy:
Khảm 1 cung là Thiên Bồng Thủy tinh
Khôn 2 cung là Thiên Nhuế Thổ tinh
Chấn 3 cung là Thiên Xung Mộc tinh
Tốn 4 cung là Thiên Phụ Mộc tinh
Trung 5 cung là Thiên Cầm Thổ tinh
Càn 6 cung là Thiên Tâm Kim tinh
Đoài 7 cung là Thiên Trụ Kim tinh
Cấn 8 cung là Thiên Nhâm Thổ tinh
Ly 9 cung là Thiên Anh Hỏa tinh
Nhật cuộc Kỳ Môn ứng với Cửu Tinh là: Thái Ất, Nhiếp Đề, Hiên Viên, Chiêu Dao, Thiên Phù, Thanh Long, Hàm Trì, Thái Âm, Thiên Ất.
Ứng với Bát Môn:
Hưu môn – Tham Lang
Sinh môn – Tả Phụ
Thương môn – Lộc Tồn
Đỗ môn – Văn Khúc
Cảnh môn – Liêm Trinh
Tử môn – Cự Môn
Kinh môn – Phá Quân
Khai môn – Vũ Khúc
Ứng với Bát trạch dương trạch: Phục vị, Lục sát, Thiên y, Ngũ quỷ, Họa hại, Tuyệt mệnh, Diên niên, Sinh khí.
Ngoài ra, thuyết về vận trù bố soạn trong Kỳ Môn Độn Giáp có nguồn gốc từ rất sớm. Trong chương Độn Giáp của "Thái Bạch Âm Kinh" đời Đường đã chép các pháp "Chân nhân bích lục mậu", "Ngọc Nữ phản bế cuộc". Thực chất là sự hợp nhất giữa Độn Giáp và Lục Nhâm. Bế Lục Mậu là thức Độn Giáp, Ngọc Nữ phản bế cuộc là thức Lục Nhâm, có nguyệt tướng sắp xếp theo chiều ngược. Trong đó, Thiên Môn, Địa Hộ, Thái Âm phương là bàn người trong sử dụng: việc lành ra Thiên Môn thì không trở ngại, việc dữ vào Địa Hộ thì ẩn tàng. Khai môn là Thiên Môn, rất lợi cho đi xa; Đỗ môn là Địa Hộ, thích hợp cho ẩn hình; Tử môn là Nhân môn, Sinh môn là Quỷ lộ. Thái Âm là bàn ẩn của Độn Giáp.
NGUYÊN VĂN: CƯƠNG BỘ TÀNG HÌNH ẨN TÍCH
Bộ ngã cương khôi, ngã kiến kỳ nhân, nhân vô ngã tri. Động tắc như ý, xúc thanh quỷ tùy. Cấp như thủy hỏa, cổ vũ phong lôi. Biến trạch thành sơn, phiên địa phúc thiên. Ngã thân kiên cố, an nhiên mặc nhiên. Vạn tái trường sinh, dữ đạo hợp tiên. Cấp cấp như Cửu Thiên Huyền Nữ luật lệnh sắc.
BẢN DỊCH (Bước cương ẩn hình)
Bước theo cương của ta, ta thấy người ấy, người không biết ta. Động thì như ý, quát tiếng quỷ theo. Nhanh như nước lửa, múa gió reo sấm. Biến ao thành núi, lật đất che trời. Thân ta kiên cố, an nhiên lặng lẽ. Muôn năm trường sinh, hợp với đạo thành tiên. Cấp cấp như luật lệnh sắc của Cửu Thiên Huyền Nữ.
Chú thích:
Cương bộ cũng gọi là Vũ bộ hoặc Bộ đẩu. Cát Hồng trong "Bão Phác Tử" nói: "Phàm vạn pháp, ắt phải thông qua Vũ bộ." Có thể thấy tầm quan trọng của nó trong đạo thuật.
Chức năng của Kỳ Môn Độn Giáp phần lớn được chia làm ba loại:
Chỉ đạo tu luyện bảo nhất thủ trung chi thuật của Đạo gia (khí công nội đan).
Chỉ đạo vua chúa về chính trị an bang định quốc.
Chỉ đạo tướng quân trên chiến trường quyết thắng địch.
Cương bộ nói đơn giản, là dùng chân đi ra một đường đi theo con số Lạc Thư, hoàn thành một khuôn hình 9 cung. Trước khi đi phải vạch bộ cục, tục gọi là "Tứ tung ngũ hoành", vẽ một khuôn 9 cung đơn giản. Pháp này tương truyền do Đại Vũ trị thủy sáng tạo, truyền thuyết đại khái không cần phải tin.
Toàn bộ cương bộ Cửu Cung là sao Bắc Đẩu thất tinh của chòm Huyền Vũ, phương Bắc ngũ hành thuộc Thủy. Cương bộ ở đây là một Cửu Cung Lạc Thư kết hợp với Tiên Thiên Bát Quái. Tại sao lại dùng Tiên Thiên Bát Quái? Điều này liên quan đến tư tưởng của Đạo gia chú trọng phản phác quy chân.
Cấp như thủy hỏa (Thủy hỏa bất tương xạ)
Cổ vũ phong lôi (Lôi phong tương bạc)
Biến trạch thành sơn (Sơn trạch thông khí)
Phiên địa phúc thiên (Thiên địa định vị)
Cương bộ trong các đạo thuật khác nhau cũng khác nhau, nay xin giới thiệu một số loại để người yêu thích đạo học tham khảo:
| Trạch (Đoài) | Thiên (Càn) | Phong (Tốn) |
|---|---|---|
| Hỏa (Ly) | Thủy (Khảm) | |
| Lôi (Chấn) | Địa (Khôn) | Sơn (Cấn) |
| 4 | 9 | 2 |
|---|---|---|
| 3 | 5 | 7 |
| 8 | 1 | 6 |
Trích "Kinh Dịch – Hệ Từ" chương Tiên Thiên Bát Quái: "Thiên địa định vị, sơn trạch thông khí, lôi phong tương bạc, thủy hỏa bất tương xạ."
THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN LỤC ÂM NGỌC NỮ ĐỘNG VI KINH PHÁP – QUYỂN THƯỢNG
NGUYÊN VĂN
Thái Thượng viết: Kẻ muốn truyền thụ cho sĩ tử, cần phải tắm rửa, sạch thân, trang trọng. Trước hết đốt danh hương, ngước nhìn sao Bắc Đẩu, thành tâm chú hương.
Khải chú: "Khải bẩm Hạo Thiên Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Cửu Thiên Huyền Nữ Nguyên Quân, Thánh Sư Huyền Thiên Thượng Đế:
Thần là đệ tử của Thái Thượng, trước đã được thụ Lục Âm Động Vi Kinh Pháp của Thái Thượng Ngọc Nữ, nay phản quy thân cúng dường, y theo pháp thực hành.
Cúi mong trời giáng phúc hựu, đất ban trinh tường, đại đạo mau thành, nguyện tâm sớm mãn.
Thần sau khi bái thụ kinh này, đời đời thực hành, không khinh ngữ cuồng vọng, không dễ tiết lộ cho người không phải, không hoành dùng tà vi, không vọng cầu tạp sự.
Thần từ khi được pháp này, nguyện cầu trường sinh, sau là lợi bách tính, tế dân giúp nước, lui trọc vào thanh, đảo yêu trừ tà.
Chỉ mong Tam Thiên đại giám, vĩnh trinh tiên tri, ban cho thần thông linh, khiến thần được toại nguyện.
Nếu hoặc hoành hành yêu tà, thần can phạm thiên tru, thánh chân chớ phù. Cấp cấp như luật lệnh."
