BINH CHIẾM VẬN SÁCH CHI PHÁP – GIẢI TÍCH CHÂN NGHĨA ĐÌNH ĐÌNH BẠCH GIAN TRONG ĐỘN GIÁP
BINH CHIẾM VẬN SÁCH CHI PHÁP – GIẢI TÍCH CHÂN NGHĨA ĐÌNH ĐÌNH BẠCH GIAN TRONG ĐỘN GIÁP
Đình Đình Bạch Gian là phương pháp vận sách trong binh chiếm (dự đoán việc quân). Thế nào là Đình Đình? Đình Đình là Quý thần của trời. Thế nào là Bạch Gian? Bạch Gian là Gian thần của trời. Kinh viết: “Quay lưng về Đình Đình, đánh vào Bạch Gian, trăm trận trăm thắng”.
Thế nào là phương Đình Đình? Phương pháp tìm thần: lấy Nguyệt tướng (tướng của tháng) gia lên Giờ chính (giờ hiện tại), tìm nơi Thần Hậu (vị thần) lâm đến trên Địa bàn, đó chính là phương “Đình Đình”. Nguyệt tướng cũng gọi là Địa tướng, có mười hai vị thần: Thần Hậu, Đại Cát, Công Tào, Thái Xung, Thiên Cương, Thái Ất, Thắng Quang, Tiểu Cát, Truyền Tống, Tòng Quỳ, Thiên Khôi (Hà Khôi), Đăng Minh.
Công thức tìm Địa tướng: Thần Hậu khởi Tý, Đăng Minh kết thúc tại Hợi. Cụ thể:
Thần Hậu (Tý)
Đại Cát (Sửu)
Công Tào (Dần)
Thái Xung (Mão)
Thiên Cương (Thìn)
Thái Ất (Tỵ)
Thắng Quang (Ngọ)
Tiểu Cát (Mùi)
Truyền Tống (Thân)
Tòng Quỳ (Dậu)
Thiên Khôi (Hà Khôi – Tuất)
Đăng Minh (Hợi)
Thế nào là phương Bạch Gian? Phương pháp tìm thần: lấy Nguyệt tướng gia lên Giờ chính, tìm nơi Công Tào (Dần), Thắng Quang (Ngọ), Thiên Khôi (Tuất) lâm đến phương Mạnh Thìn, đó chính là phương “Bạch Gian”.
Nguyên tắc ứng dụng Đình Đình Bạch Gian: Hai vị thần này hợp (hợp) tại các cung “Tỵ – Hợi”, cách (cách, ngăn trở) tại các cung “Dần – Thân”. Trong binh chiếm vận sách, khi hợp thời (Tỵ – Hợi) thì nên chiến đấu, khi cách thời (Dần – Thân) thì nên phòng thủ. Ngoài bốn thời điểm này, tám thời điểm còn lại (Tý – Ngọ – Mão – Dậu, Thìn – Tuất – Sửu – Mùi), đều là: quay lưng về Đình Đình, đánh vào Bạch Gian, sẽ đại thắng.
Dùng cục Cổ Tinh Môn Độn Giáp để giải thích chi tiết cách ứng dụng pháp “Đình Đình Bạch Gian”. Có tổng cộng ba loại trường hợp:
Hợp thời (Tỵ – Hợi)
Cách thời (Dần – Thân)
Các thời gian còn lại (Tý – Ngọ – Mão – Dậu, Thìn – Tuất – Sửu – Mùi)
Người viết sẽ lần lượt giải thích. Dưới đây xét trường hợp Cách thời trước, lập cục Cổ Tinh Môn Độn Giáp như sau:
Giải thích của Uẩn Kỳ: Ở cục trên, Nguyệt tướng là Thái Ất (Tỵ). Giờ chính là “Mùi”. Nguyệt tướng Tỵ gia lên Mùi, Ngọ gia lên Thân, Mùi gia lên Dậu, Thân gia lên Tuất, Dậu gia lên Hợi, Tuất gia lên Tý, Hợi gia lên Sửu, Tý gia lên Dần, Sửu gia lên Mão, Dần gia lên Thìn, Mão gia lên Tỵ, Thìn gia lên Ngọ.
Phương Đình Đình là nơi Thần Hậu lâm đến trên Địa bàn, đó là phương “Dần”. Phương Bạch Gian: Dần lâm Thìn là Quý (tháng quý), Tuất lâm Tý là Trọng (tháng trọng), chỉ có Ngọ lâm Thân là Mạnh Thìn (tháng mạnh), vì vậy phương “Thân” là phương Bạch Gian. Phương Đình Đình là “Dần”, phương Bạch Gian là “Thân”. Pháp tắc viết: “Cách tại Dần Thân, cách thời nghi thủ”. Vì vậy, trong thời gian này của binh chiếm, không thích hợp chiến đấu, thích hợp phòng thủ.
Tiếp theo xem trường hợp Hợp thời, lập cục Cổ Tinh Môn Độn Giáp như sau:
Giải thích của Uẩn Kỳ: Ở cục trên, Nguyệt tướng là Thắng Quang (Ngọ). Giờ chính là “Hợi”. Nguyệt tướng Ngọ gia lên Hợi, Mùi gia lên Tý, Thân gia lên Sửu, Dậu gia lên Dần, Tuất gia lên Mão, Hợi gia lên Thìn, Tý gia lên Tỵ, Sửu gia lên Ngọ, Dần gia lên Mùi, Mão gia lên Thân, Thìn gia lên Dậu, Tỵ gia lên Tuất.
Phương Đình Đình là nơi Thần Hậu lâm đến trên Địa bàn, đó là phương “Tỵ”. Phương Bạch Gian: Dần lâm Mùi là Quý, Tuất lâm Mão là Trọng, chỉ có Ngọ lâm Hợi là Mạnh Thìn, vì vậy phương “Hợi” là phương Bạch Gian. Phương Đình Đình là “Tỵ”, phương Bạch Gian là “Hợi”. Pháp tắc viết: “Hợp tại Tỵ Hợi, hợp thời nghi chiến”. Vì vậy, trong thời gian này của binh chiếm, thích hợp chiến đấu, không thích hợp phòng thủ.
Tiếp theo xem trường hợp các thời gian còn lại (dư thời), lập cục Cổ Tinh Môn Độn Giáp như sau:
Giờ Tân Mùi (20h11) ngày 26 tháng 7 năm 2013
Tiết khí: Tiểu Thử: 06h34 ngày 07/07; Đại Thử: 23h55 ngày 22/07.
Giờ thực: 20h11 ngày 26/07/2013 theo giờ Bắc Kinh (kinh độ 116.38 độ Đông).
Âm lịch: Năm Quý Tỵ, tháng Sáu (tháng Mùi), ngày 19, giờ Tuất (19-21h).
Thập thần: Tỷ vai, Thất sát, Nhật chủ, Kiếp tài
Can chi: Quý Tỵ, Kỷ Mùi, Quý Tỵ, Nhâm Tuất
Tuần không: Ngọ Mùi (năm), Tý Sửu (tháng, ngày)
Tuần thủ: Giáp Dần
Trực phù: Thiên Anh tại cung 1
Trực sử: Cảnh môn tại cung 1
Cổ Tinh Môn Độn Giáp Chuyển Cung Pháp
| Kỷ Chu Tước Mùi Thiên Tâm Ất Khai môn Kỷ Đằng Xà Phế | Quý Câu Trần Hợi Thiên Bồng Nhâm Hưu môn Quý Trực Phù Vượng | Tân Lục Hợp (Mã) Dậu Thiên Nhâm Đinh (Cầm Mậu) Sinh môn Tân Cửu Thiên Tuyệt |
| Canh Cửu Địa Thân Thiên Trụ Bính Kinh môn Canh Thái Âm Hưu | Mậu Ngọ (Không có sao) | Bính Thái Âm Thìn Thiên Xung Canh Thương môn Bính Cửu Địa Thai |
| Ất Cửu Thiên (Không) Mão Thiên Nhuế Tân (Cầm Mậu) Tử môn Đinh Lục Hợp Tù | Nhâm Trực Phù (Không) Tuất Thiên Anh Quý Cảnh môn Nhâm Bạch Hổ Tử | Đinh Đằng Xà Tỵ Thiên Phụ Kỷ Đỗ môn Ất Huyền Vũ Một |
Giải thích của Uẩn Kỳ: Ở cục trên, Nguyệt tướng là Thắng Quang (Ngọ). Giờ chính là “Tuất”. Nguyệt tướng Ngọ gia lên Tuất, Mùi gia lên Hợi, Thân gia lên Tý, Dậu gia lên Sửu, Tuất gia lên Dần, Hợi gia lên Mão, Tý gia lên Thìn, Sửu gia lên Tỵ, Dần gia lên Ngọ, Mão gia lên Mùi, Thìn gia lên Thân, Tỵ gia lên Dậu.
Phương Đình Đình là nơi Thần Hậu lâm đến trên Địa bàn, đó là phương “Thìn”. Phương Bạch Gian: Dần lâm Ngọ là Trọng, Ngọ lâm Tuất là Quý, chỉ có Tuất lâm Dần là Mạnh Thìn, vì vậy phương “Dần” là phương Bạch Gian. Phương Đình Đình là “Thìn”, phương Bạch Gian là “Dần”. Pháp tắc viết: Hợp thời (Tỵ – Hợi) thì nên chiến, cách thời (Dần – Thân) thì nên thủ. Ngoài bốn thời điểm này, tám thời điểm còn lại (Tý – Ngọ – Mão – Dậu, Thìn – Tuất – Sửu – Mùi), đều là: quay lưng về Đình Đình, đánh vào Bạch Gian, sẽ đại thắng. Vì vậy, trong thời gian này của binh chiếm, thích hợp quay lưng về phương Đình Đình là “Thìn”, đánh vào phương Bạch Gian là “Dần”, sẽ đại thắng.
You should also read:
TAM KỲ NHẬP MỘ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP
TAM KỲ NHẬP MỘ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP 1. Tam Kỳ là gì? Vai trò trong Kỳ Môn Trước khi bàn về “Nhập Mộ”, cần hiểu rõ Tam Kỳ – ba Thiên Can đặc biệt: Ất (乙) – Kỳ thứ nhất, thuộc Âm Mộc, tượng trưng cho…
TAM KỲ ĐẮC SỬ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP
TAM KỲ ĐẮC SỬ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP 1. Khái niệm nền tảng: Tam Kỳ và Lục Nghi Trong hệ thống Kỳ Môn, Tam Kỳ (Ất, Bính, Đinh) và Lục Nghi (Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) là hai nhóm can cơ bản cấu thành nên trận pháp.
KHÔNG VONG & CÔ HƯ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP
KHÔNG VONG & CÔ HƯ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP 1. Giới thiệu: Cửa ngõ của hư và thực Trong Kỳ Môn Độn Giáp, mọi sự vật hiện tượng đều được quy về sự vận động của Can – Chi trong không gian và thời…
