CÁCH CỤC BẤT LỢI TRONG KỲ MÔN – TAM KỲ BỊ CHẾ. VẠN SỰ KHÔNG THỂ TIẾN HÀNH

CÁCH CỤC BẤT LỢI TRONG KỲ MÔN – TAM KỲ BỊ CHẾ. VẠN SỰ KHÔNG THỂ TIẾN HÀNH

Tam Kỳ bị chế (Ba kỳ bị khắc chế)

Vương Chương viết: Ất Kỳ lâm vào cung Càn (Khôn? Cần kiểm tra: nguyên văn "幹" có thể là Càn hoặc Khôn. Thực tế "幹" là Can, nhưng trong Kỳ Môn, "Can" thường chỉ thiên can. Ở đây "臨幹" có thể là lâm vào cung Càn? Đọc kỹ: "乙奇臨幹驚門庚辛囚死" – "臨幹" có thể là "lâm Càn"? Tuy nhiên câu sau "丙奇臨坎休門" rõ ràng là cung Khảm. Vậy "臨幹" có thể là lâm vào cung Càn (số 6). Cung Càn hành Kim, Ất mộc bị Kim khắc. Dịch: Ất Kỳ lâm cung Càn, gặp cửa Kinh, Canh Tân là tù tử, đó là Mộc nhập Kim hương). Tôi sẽ dịch chính xác.

Vương Chương viết: Ất Kỳ lâm cung Càn (số 6), gặp cửa Kinh, Canh Tân tù tử, ấy là Mộc vào đất Kim. Bính Kỳ lâm cung Khảm (số 1), gặp cửa Hưu, Nhâm Quý tù tử, ấy là Hỏa vào đất Thủy. Đây gọi là Tam Kỳ bị chế, vạn sự không thể làm được.

Bài ca Ngũ bất ngộ (Năm lần không gặp thời):

Ngũ bất ngộ thời long bất tinh,
Hiệu vi nhật nguyệt tổn quang minh.
Thời can lai khắc nhật can thượng,
Giáp nhật tu tri thời kỵ Canh.

Dịch:
Thời Ngũ bất ngộ rồng chẳng tinh,
Ví như nhật nguyệt tổn hao minh.
Thời can đem khắc can ngày ấy,
Giáp nhật nên phòng thời khắc Canh.

Cát Hồng nói: Ngũ bất ngộ thời là chỉ ngày cương (can dương) và ngày nhu (can âm) tương khắc, làm tổn hại ánh sáng của chúng. Dù có Kỳ môn cũng chẳng thể làm trăm việc, hung.

  • Ngày Giáp: giờ Canh Ngọ

  • Ngày Ất: giờ Tân Tỵ

  • Ngày Bính: giờ Nhâm Thìn

  • Ngày Đinh: giờ Quý Mão

  • Ngày Mậu: giờ Giáp Dần

  • Ngày Kỷ: giờ Ất Sửu

  • Ngày Canh: giờ Bính Tý

  • Ngày Tân: giờ Đinh Dậu

  • Ngày Nhâm: giờ Mậu Thân

  • Ngày Quý: giờ Kỷ Mùi

Đó là lúc thời can khắc nhật can, dương khắc dương can, âm khắc âm can, gọi là chủ bản bất hòa, cực kỳ hung.

Bài ca Tam Kỳ nhập mộ (Ba kỳ vào mộ):

Tam Kỳ nhập mộ hảo tư suy,
Giáp nhật na kham kiến vị cung.
Bính kỳ thuộc hỏa hỏa mộ Tuất,
Thử thời chư sự bất tu vi.
Cánh kiến lục ất lai lâm vị,
Tinh kỳ lâm bát diệc đồng luận.

Dịch:
Tam Kỳ nhập mộ hãy suy tư,
Ngày Giáp làm sao thấy cung Mùi.
Bính kỳ thuộc hỏa hỏa mộ Tuất,
Giờ ấy muôn việc chớ nên làm.
Lại thấy lục Ất lâm cung Vị,
Tinh kỳ lâm cung Bát cũng đồng.

Đây là nói Ất, Bính, Đinh ba kỳ lâm vào cung thứ sáu (Tuất), gọi là nhập mộ. Không chỉ khi kỳ lâm vào mộ, mà ngày Bính gặp giờ Tuất cũng vậy.

Vương Chương viết: Tam Kỳ mộ là chỉ: Lục Ất Nhật Kỳ (ngày kỳ) hạ lâm nhị cung (Khôn), Lục Bính Nguyệt Kỳ đến lục cung (Càn), Lục Đinh Tinh Kỳ hạ lâm bát cung (Cấn), đó gọi là Tam Kỳ nhập mộ.
Ví dụ Âm Độn cục 4, ngày Bính Tân giờ Canh Dần, Lục Bính Nguyệt Kỳ hạ lâm lục cung, gọi là Nguyệt Kỳ nhập mộ. Phàm gặp Tam Kỳ nhập mộ, dù có Kỳ môn cũng không được cất quân, trăm việc đều hung.

Kinh rằng:
Tam Kỳ nhập mộ hà thời thần?
Bính kỳ càn thượng ất lâm Khôn,
Hoặc ngộ bính kỳ cư Tuất thượng,
Hoàn gia đinh hướng Sửu trung tồn.

Bài ca:
Hựu hữu thời can nhập mộ cung,
Khóa trung thời hạ kỵ tương phùng.
Mậu Tuất Nhâm Thìn kiêm Bính Tuất,
Quý Mùi Đinh Sửu kỷ đồng hung.

Dịch:
Lại có thời can vào mộ cung,
Trong quẻ giờ ấy kỵ gặp chung.
Mậu Tuất, Nhâm Thìn cùng Bính Tuất,
Quý Mùi, Đinh Sửu, Kỷ đều hung.

Cát Hồng nói: Tam Kỳ là chỉ giờ Bính Tuất, đó là lúc Nguyệt Kỳ nhập mộ. Lại nói: Phàm gặp ngày Ất Canh, giờ Đinh Sửu, là Đinh Kỳ nhập mộ; hoàng hôn là giờ Bính Tuất, cho nên gọi là Nguyệt Kỳ nhập mộ, đó là Tam Kỳ nhập mộ.

  • Giờ Bính Tuất: Bính thuộc dương hỏa, mộ của hỏa tại Tuất.

  • Giờ Nhâm Thìn: Nhâm thuộc dương thủy, mộ của thủy tại Thìn.

  • Giờ Đinh Sửu: Đinh thuộc âm hỏa, mộ của hỏa tại Sửu.

  • Giờ Quý Mùi: Quý thuộc âm thủy, mộ của thủy tại Mùi.

  • Giờ Mậu Tuất: Mậu thuộc dương thổ, mộ của thổ tại Tuất.

  • Giờ Kỷ Sửu: Kỷ thuộc âm thổ, mộ của thổ tại Sửu.
    Bởi vì Mậu Kỷ là thổ trung ương, nương tựa vào mẹ mà sinh. Mậu đồng với Bính hỏa sinh tại Dần, Tỵ; Kỷ đồng với Đinh hỏa sinh tại Dậu. Sáu giờ trên có can vào mộ, cũng không thể dùng.

Bài ca Lục Nghi kích hình (Sáu nghi đánh hình):

Lục Nghi kích hình hà thái hung?
Giáp Tý trực phù sầu hướng đông.
Tuất hình tại Mùi, Thân hình Dần,
Dần, Tỵ, Thìn, Thìn, Ngọ hình Ngọ.

Dịch:
Lục Nghi kích hình sao quá hung?
Giáp Tý trực phù lo hướng đông.
Tuất hình Mùi, Thân hình Dần,
Dần, Tỵ, Thìn, Thìn, Ngọ hình Ngọ.

Lục Giáp địa chi tương hình và tự hình. Như Giáp Tý gặp Mão, Giáp Tuất gặp Mùi, Giáp Thân gặp Dần, Giáp Dần gặp Tỵ là tương hình; Giáp Thìn gặp Giáp Thìn, Giáp Ngọ gặp Giáp Ngọ là tự hình.

Cát Hồng nói: Lục Nghi kích hình là chỉ lục giáp trực phù gia lên đất bị hình. Cụ thể:

  • Giáp Tý trực phù gia Mão, Mão hình Tý.

  • Giáp Tuất trực phù gia Mùi, Tuất hình Mùi.

  • Giáp Thân trực phù gia Dần, Thân hình Dần.

  • Giáp Ngọ trực phù gia Ngọ, Ngọ tự hình.

  • Giáp Thìn trực phù gia Thìn, Thìn tự hình.

  • Giáp Dần trực phù gia Tỵ, Dần hình Tỵ.

Vương Chương nói:

  • Giáp Tý trực phù gia tam cung (cung Chấn – Mão)

  • Giáp Tuất trực phù gia nhị cung (cung Khôn – Mùi)

  • Giáp Thân trực phù gia bát cung (cung Cấn – Dần)

  • Giáp Ngọ trực phù gia cửu cung (cung Ly – Ngọ)

  • Giáp Thìn trực phù gia tứ cung (cung Tốn – Thìn)

  • Giáp Dần trực phù gia tứ cung (cung Tốn – Tỵ)
    Các trường hợp trên đều là Lục Nghi kích hình.

Quách Phác luận: Tam hợp chi hình – Kim cương hỏa cường, các hình bản phương, thủy lưu xu hướng đông, mộc lạc phản bản.

  • Cục Hỏa: Giáp Dần, Giáp Ngọ, Giáp Tuất hình Tỵ, Ngọ, Mùi (phương Nam).

  • Cục Kim: Tỵ, Dậu, Sửu hình Thân, Dậu, Tuất (phương Tây).

  • Cục Thủy: Giáp Thân, Giáp Tý, Giáp Thìn hình Dần, Mão, Thìn (phương Đông).

  • Cục Mộc: Hợi, Mão, Mùi hình Hợi, Tý, Sửu (phương Bắc).

Ví dụ: Đông chí thượng nguyên Dương Độn cục 1, ngày Giáp Kỷ nửa đêm, Giáp Tý là trực phù, đến lúc mặt trời mọc (giờ Mão), ấy là Lục Nghi kích hình. Đến giờ Canh Ngọ, lấy Giáp Tý trực phù gia lên lục Canh ở tam cung, tức là giờ Lục Nghi kích hình. Giờ ấy cực kỳ hung, không thể dùng việc.

Bài ca Phục ngâm (Kêu vang nằm – trùng phục):

Tựu trung phục ngâm vi tối hung,
Thiên Bồng gia trước địa Thiên Bồng.

Dịch:
Trong đó phục ngâm là tối hung,
Thiên Bồng trên thêm với Thiên Bồng dưới.

Cửu tinh phục ngâm: bàn trên là Thiên Bồng, gia lên bàn dưới cũng là Thiên Bồng, tức là chín sao vẫn ở bản cung không động, gọi là phục ngâm, chủ tang phục, tổn hại nhân khẩu.

Thang Vị nói: Giáp Tý đến gia Giáp Tý là phục ngâm, không nên dùng binh, chỉ nên thu liễm tài hóa. Phàm các giờ thuộc lục Giáp, cửa và sao đều là phục ngâm.
Ví dụ: Đông chí thượng nguyên Dương Độn cục 1, ngày Giáp Kỷ nửa đêm, giờ Giáp Tý sinh, Thiên Bồng trực phù gia lâm nhất cung, thời can ở nhất cung, đây gọi là cửa và sao đều phục ngâm.

Bài ca Phản ngâm (Kêu vang ngược – xung khắc):

Thiên Bồng nhược đáo Thiên Anh thượng,
Tu tri tức thị phản ngâm cung.

Dịch:
Nếu như Thiên Bồng đến Thiên Anh trên,
Phải hay đó chính là cung phản ngâm.

Cửu tinh phản ngâm: bàn trên sao Bồng ở cung 1 gia lên bàn dưới sao Anh ở cung 9 là phản ngâm, 8 sao còn lại cùng cung (nghĩa là các cặp xung khắc).
Đây là trực phù phản ngâm, tức bàn trên Giáp Tý gia bàn dưới Giáp Ngọ, bàn trên Giáp Tuất gia bàn dưới Giáp Thìn. Nếu gặp Kỳ môn che chở thì không đến nỗi hung hại; bằng không thì tai họa lập tức đến.

Thang Vị nói: Tý đến gia Ngọ là phản ngâm. Lúc này không lợi cho việc cất quân, động chúng, chỉ nên làm việc tán tế, xuất kho. Phàm sao và phù xung nhau đều là phản ngâm.
Ví dụ: Đông chí thượng nguyên Dương Độn cục 1, ngày Giáp Kỷ giờ Ất Sửu, lục Ất ở cửu cung, lấy Thiên Bồng trực phù trên trời gia lâm thời can ở cửu cung, tức là trực phù phản ngâm. Phản ngâm và phục ngâm, nếu cửa gặp phải, dù có được Kỳ môn cũng không thể dùng.