CÁCH SỬ DỤNG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP ĐỂ DỰ ĐOÁN TÌNH HÌNH CÔNG VIỆC VÀ VIỆC LÀM

CÁCH SỬ DỤNG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP ĐỂ DỰ ĐOÁN TÌNH HÌNH CÔNG VIỆC VÀ VIỆC LÀM

Sử dụng Kỳ Môn Độn Giáp để dự đoán công việc và việc làm, bao gồm nhiều khía cạnh như: tìm việc làm, cạnh tranh giành vị trí, thăng cấp chức danh, điều chuyển công tác, v.v.

Thông thường:

  • Khai Môn đại diện cho công việc văn phòng và đơn vị công tác.

  • Đỗ Môn đại diện cho công việc vũ trang (quân đội, cảnh sát...) và đơn vị công tác.

  • Niên Cán (Thiên Can của năm) đại diện cho cấp lãnh đạo cấp trên.

  • Trực Phù đại diện cho cấp trên trực tiếp.

  • Nguyệt Cán (Thiên Can của tháng) đại diện cho đồng nghiệp.

  • Nhật Cán (Thiên Can của ngày) đại diện cho người xem bói (chính bản thân).

  • Thời Cán (Thiên Can của giờ) đại diện cho cấp trên hoặc tập thể nhân viên trong đơn vị.

Cụ thể:

  • Nếu Nhật Cán hoặc Niên Mệnh (năm sinh của người xem) rơi vào cung vượng tướng, lại được cửa lành (Cát Môn), cách lành (Cát Cách), thần lành (Cát Thần) thì biểu thị bản thân có điều kiện tốt, được thiên thời địa lợi. Nếu lại được Khai Môn hoặc Đỗ Môn tương sinh (sinh cho Nhật Cán/Niên Mệnh) thì việc xin việc hoặc được bổ nhiệm chức vụ sẽ thuận lợi.

  • Nếu Nhật Cán hoặc Niên Mệnh khắc được Khai Môn hoặc Đỗ Môn, thì sau khi nỗ lực cũng có thể có được công việc hoặc chức vụ.

  • Nếu bản thân không được thiên thời địa lợi (cung không vượng tướng, không có Cát Môn, Cát Tinh...), lại bị Khai Môn hoặc Đỗ Môn xung khắc thì chắc chắn sẽ không đạt được chức vụ hoặc công việc.

Phân tích theo từng trường hợp cụ thể:

  • Khai Môn khắc dụng thần (Nhật Cán/Niên Mệnh): quan văn bị giáng chức hoặc điều chuyển xuống.

  • Đỗ Môn khắc dụng thần: quan võ bị giáng chức.

  • Phản ngâm (Phản Ngâm Cục - một dạng cục diện): chủ về việc được điều chuyển công tác.

  • Không vong (Không Vong): chắc chắn sẽ bị cách chức.

  • Nhập mộ (Nhập Mộ): không những bị giáng phạt mà còn có thể gặp tai họa, bị buộc tội.

  • Thái Tuế (Niên Cán) khắc dụng thần: cấp lãnh đạo cấp trên không ưa.

  • Trực Phù khắc dụng thần: cấp trên trực tiếp không hài lòng.

  • Nguyệt Cán khắc dụng thần: đồng nghiệp bất hòa.

  • Thời Cán khắc dụng thần: dễ bị người khác tố cáo, kiện tụng.

Phân loại tính cách cấp trên qua Cửu Tinh:

Lấy Khai Môn làm quan tinh (sao chỉ quan chức), dựa vào Cửu Tinh mà Khai Môn lâm (tức sao trùng với Khai Môn) để xét phẩm chất:

  • Khai Môn gặp sao tốt (Cát Tinh) là người tốt, gặp sao xấu (Hung Tinh) là người xấu.

    • Thiên Phụ Tinh: văn nhã, thanh lịch.

    • Thiên Nhậm Tinh: từ ái, hiền lành.

    • Thiên Tâm Tinh: chính trực, ngay thẳng.

    • Thiên Cầm Tinh: trung hậu, chất phác.

    • Thiên Xung Tinh: phong cách mạnh mẽ, cương quyết.

    • Thiên Anh Tinh: mơ hồ, nóng nảy, u tối.

    • Thiên Nhuế Tinh: tham lam, độc ác.

    • Thiên Trụ Tinh: gian trá, xảo quyệt.

    • Thiên Bồng Tinh: đại ác, hung bạo.

Đối với cán bộ, chiến sĩ trong quân đội chuyển ngành hoặc xuất ngũ:

Thông thường lấy Đỗ Môn làm quan trưởng (cấp chỉ huy), lấy Nhật Cán làm người chuyển ngành/xuất ngũ.

  • Đỗ Môn sinh cho Nhật Cán: chủ về công việc cần người, cấp trên có ý giữ bạn lại, không cho phép chuyển ngành hoặc xuất ngũ.

  • Đỗ Môn khắc Nhật Cán: thì cho phép chuyển ngành/xuất ngũ.

  • Đỗ Môn hòa với Nhật Cán (cùng cung, bổ trợ): cũng cho phép chuyển ngành/xuất ngũ.

  • Nếu Nhật Cán đi kèm với cách Thanh Long Đào Tẩu (Thanh Long chạy trốn) hoặc Huỳnh Nhập Bạch (Hỏa nhập Kim), chắc chắn sẽ phải xuất ngũ/chuyển ngành.

  • Nếu Nhật Cán đi kèm với cách Bạch Nhập Huỳnh (Kim nhập Hỏa) hoặc Hổ Cuồng (Hổ dữ), thì không thể xuất ngũ/chuyển ngành.

  • Nếu Nhật Cán lâm vào cách Xà Yêu Kiểu (Rắn uốn éo), thì có thể bị vướng vào kiện tụng, muốn xuất ngũ/chuyển ngành cũng không được.

  • Nếu gặp cách Đại Cách (Đại Cách) hoặc Tước Đầu Giang (Chim sẻ xuống sông - hung cách), thì có thể bị sa thải, đuổi việc.

Tổng kết các yếu tố then chốt:

  • Nhật Cán, Niên Mệnh rơi vào cung vượng tướng, lại được Cát Môn, Cát Cách, Cát Thần, Cát Tinh: bản thân có điều kiện tốt. Nếu lại được dụng thần (Khai Môn/Đỗ Môn) tương sinh thì việc xin việc thuận lợi.

  • Nếu cung của Nhật Cán, Niên Mệnh khắc được cung của dụng thần: sau khi nỗ lực cũng có thể có được việc làm.

  • Nếu cung của Nhật Cán, Niên Mệnh không có Cát Môn, Cát Tinh, Cát Cách, Cát Thần, lại không có khí vượng tướng, hơn nữa lại bị cung dụng thần xung khắc: việc xin việc, cầu công việc ắt sẽ không thành.

  • Nếu Nhật Cán, Niên Mệnh cùng cung với dụng thần của công việc cần xin, nếu cung đó không phải Không Vong thì việc xin việc này ắt sẽ thành công.

Về thăng chức, thăng hạng chức danh:

  • Niên Mệnh, Nhật Cán lạc cung vượng tướng, được Tam Kỳ (Ất, Bính, Đinh) , Tam Cát Môn (Khai, Hưu, Sinh) sinh trợ: bản thân có điều kiện tốt, vận khí tốt. Nếu lại được Trực Phù, Niên Cán lạc cung sinh trợ thì chắc chắn có thể thăng chức hoặc có được công việc.

  • Nếu Niên Mệnh, Nhật Cán lạc cung vượng tướng, được Tam Kỳ, Tam Cát Môn sinh trợ, khắc được Khai Môn hoặc Trực Phù, Niên Cán lạc cung: sau khi nỗ lực cũng có thể có được công việc hoặc chức vụ.

  • Nếu Niên Mệnh, Nhật Cán lạc cung rơi vào các địa vị Hưu, Tử, Mộ, Tuyệt (suy yếu, ngưng trệ): sẽ không có được công việc hoặc không thể thăng chức. Việc thăng hạng chức danh cũng tương tự như vậy.

Kết luận cuối cùng về sự thành công trong việc xin việc:

Cuối cùng, để phán đoán việc xin việc có thành công hay không, cần đánh giá mối quan hệ giữa Khai Môn và người xem (bao gồm Nhật Cán và Niên Mệnh) , đồng thời tham khảo thêm các yếu tố từ cung của Niên Cán, Nguyệt Cán, Thời Cán.

  • Nhật Cán và Niên Mệnh có điều kiện bản thân tốt, lại được Khai Môn tương sinh: chủ về xin việc thuận lợi.

  • Nhật Cán khắc được Khai Môn: sau khi nỗ lực chủ quan cũng có thể xin được việc.

  • Nếu bản thân điều kiện không tốt (không được sinh trợ, vượng tướng) lại bị Khai Môn xung khắc thì ắt xin việc không thành.

Xét về địa điểm và thời gian:

  • Khai Môn và Nhật Cán lạc vào Nội Bàn (cung nội - thường là Khảm, Cấn, Chấn, Tốn): nên xin việc trong khu vực bản địa hoặc thăng/chuyển trong nội bộ đơn vị hiện tại; chủ về nhanh và gần.

  • Khai Môn và Nhật Cán lạc vào Ngoại Bàn (cung ngoại - thường là Ly, Khôn, Đoài, Càn): nên phát triển ở quê người hoặc điều chuyển ra khỏi đơn vị hiện tại; chủ về chậm và xa.