Cách xem “thông khí” trong Kỳ Môn Độn Giáp?
Cách xem “thông khí” trong Kỳ Môn Độn Giáp?
Khi dự đoán bằng Kỳ Môn, làm thế nào để xác định phương vị của người cầu đoán mà chọn dụng thần?
1. Thông khí
Thông khí (còn gọi là đồng khí) là chỉ hai cung có mối quan hệ tương quan với nhau, ví dụ như chứa cùng một ký hiệu thiên can, hoặc có mối quan hệ Tiên Thiên – Hậu Thiên bát quái. Những cung thông khí với nhau thì các ký hiệu có tính tương quan, liên đới, tính chung; tác dụng tương sinh hoặc tương khắc giữa chúng sẽ lớn hơn. Nếu trong cung thông khí lại chứa Tứ Cương (can của năm, tháng, ngày, giờ) thì hiện tượng càng rõ ràng. Thông khí bao gồm các dạng sau:
Hai cung chứa cùng một ký hiệu thiên can. Ví dụ: cung Càn có tổ hợp “Canh + Tân”, cung Cấn có tổ hợp “Tân + Mậu”, cả hai cung này đều chứa Tân, do đó cung Càn và cung Cấn thông khí với nhau.
Hai cung có mối quan hệ Tiên Thiên – Hậu Thiên bát quái. Ví dụ: hậu thiên bát quái của cung 6 là quẻ Càn, tiên thiên quẻ Càn ở cung 9, vì vậy cung Càn 6 và cung Ly 9 cũng thông khí với nhau (bởi đều chứa quẻ Càn).
Thông khí hình thành giữa Can Ẩn với Thiên Bàn Can hoặc Địa Bàn Can. Do Can Ẩn mang tính chất lúc ẩn lúc hiện, nên dạng thông khí này không rõ ràng hoặc không ổn định. Loại thông khí này không có thông tin rõ nét bằng thông khí hình thành giữa Thiên Bàn Can và Địa Bàn Can.
2. Phương vị
Phương vị mô phỏng còn gọi là phương vị tương đối, phương vị thực tế còn gọi là phương vị tuyệt đối. (Hiện nay, trước khi dự đoán bằng Kỳ Môn Độn Giáp, nếu người cầu đoán không ở trước mặt, trước tiên hỏi người đó đang ở vị trí nào, dùng bản đồ lấy “tôi” – nhà hoạch định Kỳ Môn – làm trung tâm để xem người cầu đoán ở phương vị nào. Nếu người cầu đoán ở trước mặt, thì lấy phương vị hiện tại của họ để chọn dụng thần.)
Phương vị trong phong thủy, hoặc dùng cho các cục Kỳ Môn cải vận, nhất thiết phải dùng phương vị thực tế, bắt buộc phải dùng la bàn đến hiện trường khảo sát. Đối với trường hợp người cầu đoán không có mặt tại hiện trường, cũng cần xác định theo phương vị thực tế.
Người xưa trên chiến trường thường không có la bàn, trong đời sống hiện đại cũng không phải lúc nào cũng mang theo la bàn, hoặc không kịp dùng la bàn để xác định phương vị thực tế, thì có thể sử dụng phương vị mô phỏng. Trong dự đoán Kỳ Môn tại hiện trường, đặc biệt là khi có nhiều người cùng tham dự, thường cần dùng phương vị tương đối để mô phỏng Cửu Cung, sau đó dựa theo Cửu Cung để phân biệt dụng thần của những người ở các vị trí khác nhau. Thông thường có các trường hợp sau:
Tôi (nhà hoạch định Kỳ Môn) ở giữa phòng lớn hoặc giữa đám đông, lấy “tôi” làm trung tâm: chính phía trước là Ly, chính phía sau là Khảm, chính bên trái là Chấn, chính bên phải là Đoài.
Tôi đang ở trên bục giảng (phía trước đại sảnh), nếu tôi đang cầm cục Kỳ Môn trên tay, hoặc cục Kỳ Môn được đặt trên bàn trước mặt tôi, và tôi đang đối diện với mọi người. Lúc này, lấy cuối đại sảnh (xa bục giảng nhất) làm quẻ Ly, phía trước đại sảnh (gần bục giảng) làm quẻ Khảm. Nghĩa là phương vị tương đối của đại sảnh trùng với phương vị của cục Kỳ Môn đặt trên bục giảng.
Tôi ở trên bục giảng phía trước đại sảnh, cục Kỳ Môn được viết trên bảng đen, và tôi đang quay lưng về phía mọi người. Lúc này, lấy phía trước đại sảnh nhất (gần bục giảng) làm quẻ Ly, phía sau đại sảnh (xa bục giảng nhất) làm quẻ Khảm. Về cơ bản là đặt bảng đen nằm ngang, phương vị tương đối của đại sảnh trùng với phương vị của cục Kỳ Môn trên bảng đen.
Trong bữa tiệc trên bàn rượu, nếu bản thân đã nắm rõ hoàn cảnh, đã biết rõ phương hướng Đông – Tây – Nam – Bắc thì dùng phương vị thực tế; nếu bản thân không biết phương vị thực tế thì dùng phương vị tương đối. Nếu bản thân đã biết đại khái phương vị nhưng không thực sự chắc chắn, thì khi ý niệm đầu tiên xuất hiện là phương vị thực tế thì dùng phương vị thực tế, nếu cảm thấy muốn dùng phương vị tương đối thì dùng phương vị tương đối. Không được sử dụng cả hai, chỉ chọn một. Khi dùng phương vị mô phỏng, thì lấy cung tọa (cung rơi) theo phương vị tương đối của người cầu đoán làm dụng thần cho người đó.
