CẢNH HỰU ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH (Thượng Quyển)
CẢNH HỰU ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH (Thượng Quyển)
Giới thiệu chung:
《Độn Giáp Phù Ứng Kinh》gồm ba quyển, do Dương Duy Đức đời Tống soạn. Dương Duy Đức, không rõ quê quán, niên biểu. 《Tống Sử - Phương Kỹ Truyện》 chép rằng ông có thể truyền thụ pháp thuật về Hỗn Nghi. 《Độn Giáp Phù Ứng Kinh》 ba quyển không thấy ghi chép trong 《Đông Sử - Nghệ Văn Chí》, nhưng được ghi lại trong 《Thông Chí》của Trịnh Tiều và 《Thuật Cổ Đường Thư Mục》của Tiền Tuân Vương, đều chép là ba quyển. Mã Đoan Lâm trong 《Văn Hiến Thông Khảo》 ghi chép là hai quyển. Sách này bàn về việc sử dụng Độn Giáp để xét việc hành quân tránh hung xuất cát, cũng như cát hung cho trăm việc. 《Tứ Khố Vị Thu Thư Đề Yếu》 khen rằng sách này "lập thuật tinh mật, khảo cứu tường minh, đáng lẽ không bị các nhà Ngũ hành bỏ qua". Có bản 《Uyển Ủy Biệt Tàng》.
CẢNH HỰU ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH
Xét rằng, sách Độn Giáp xuất phát từ Hà Đồ. Vào thời Hoàng Đế, sai Phong Hậu đặt tên, khởi xướng lập nên Âm Độn và Dương Độn, tổng cộng một nghìn tám mươi cục. Đến thời Chu Công, ước lược thành bảy mươi hai cục. Lưu Hầu (Trương Lương) phò tá nhà Hán, bàn định mười tám cục, suy lịch định giờ, siêu thần tiếp khí, bày cửa hiển đức, xem xét việc quân để nghiệm chứng, từ đó phân minh thắng bại, không gì là chẳng tốt lành. Bởi thế, bậc vương giả xuất quân, thuận lẽ trời để đánh kẻ nghịch, trước dùng cỏ thi và mai rùa bói xem, được quẻ trung chính của đất trời, suy xét rồi mới nói, bàn bạc rồi mới hành động, hành động chẳng gì là chẳng tốt, có lẽ chính là nói điều đó chăng? Trẫm nối tiếp cơ mưu của ba đời thánh, ở trên muôn dân, trong lúc xử lý muôn vàn công việc, vẫn nghĩ đến mọi việc sản xuất, thuận theo lẽ trời mà bày binh pháp, dùng đạo thần bí mà thiết lập giáo hóa. Nghĩ đến kho sách ở núi Bồng Lai, có chứa bí kinh Rồng Xanh, tuy sách vở nhiều, nhưng văn tự rườm rà, công kích những thuyết dị đoan, biến hóa muôn vàn. Chọn lấy phần tinh túy, mong sự ứng nghiệm rõ ràng, bèn lấy sách ấy, sai các quan Thái tử Tẩy mã kiêm Tư Thiên Xuân Quan Chính Quyền, Đồng phán Giám Dương Duy Đức, Xuân Quan Phó Vương Dụng Lập, Hàn Lâm Thiên Văn Lý Tự Chính, Hà Trạm... cùng biên soạn tại Tư Thiện Đường, lại sai Nội Thị Tỉnh Đông Đầu Cung Phụng Quan Quản Cú, Ngự Dược Viện Nhiệm Thành Lượng, Đặng Bảo Tín, Hoàng Phủ Kế Hòa, Chu Duy Đức tổng quản công việc. Trải qua vài tháng, sách thành ba quyển, đặt tên là: Cảnh Hựu Độn Giáp Phù Ứng Kinh. Xưa Cơ Tử diễn giải Lạc Thư, Vũ Vương nhờ thế mà kế thừa cơ nghiệp nhà Thương; Tiêu Hà thu thập sách vở nhà Tần, phò tá Cao Tổ nên thành nhà Hán rực rỡ. Huống chi lời thánh hiền có thể thông suốt đức của trời đất, chẳng rời khỏi lòng bàn tay mà có thể đạt đến học vấn thông suốt trời người. Trẫm noi theo đạo của thượng cổ, mong muốn đem lại sự yên ổn cho muôn nước. Xem sách ấy ba quyển, âm dương biến hóa, nghìn mối trăm đầu, người hiền há dễ đã biết hết, người trí há dễ đã dùng hết, người xem ngày há dễ đã làm hết được? Nếu không phải người ưa thích thì chưa chắc nhà nào có bản ấy. Ta đã dốc lòng theo đuổi nghề này nhiều năm. Đem lên thì dùng cho quốc gia, đem xuống thì dùng cho dân chúng, tất cả mọi việc làm, đều nên dùng cả. Xưa nhà Hán tìm cầu sách cũ trong thiên hạ, lại sai Lưu Hướng hiệu đính sách trong cấm cung, khiến cho sự văn vật thịnh suy không hổ thẹn với điều đó.
CẢNH HỰU ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH – QUYỂN THƯỢNG
ĐỘN GIÁP TỔNG TỰ
Phép xưa: Độn là ẩn, là đạo u huyền. Giáp là nghi, chỉ Lục Giáp và Lục Nghi cùng làm Trực Phù, là vị thần quý của trời. Thường ẩn nấp dưới Lục Mậu, bởi lẽ dùng vào việc binh cơ, thông suốt đức của thần minh, cho nên lấy tên là Độn Giáp.
PHÉP LÀM THỨC (MÔ HÌNH ĐỘN GIÁP)
Xưa Hoàng Đế nhận được phép Long Đồ, sai Phong Hậu diễn giải mà thành Độn Giáp, làm thức ba tầng, phép tắc Tam Tài: Tầng trên tượng trưng cho trời, bày Cửu Tinh; tầng giữa tượng trưng cho người, mở Bát Môn; tầng dưới tượng trưng cho đất, bày Bát Quái, để trấn giữ tám phương. Theo Đông Chí và Hạ Chí, lập Âm Độn và Dương Độn, một thuận một nghịch, để bày bố Tam Kỳ, Lục Nghi.
CỬU TINH SỞ TRỊ CUNG
Phép xưa: Trời có Cửu Tinh, để trấn giữ Cửu Cung; Đất có Cửu Địa, để ứng với Chín Châu. Thức ấy mượn chuyến Linh Quy xuất Lạc, Đầu đội 1, chân đạp 9, trái 3, phải 7, hai vai là 2 và 4, hai chân là 6 và 8, 5 ở Trung Cung. Trung Cung thuộc Thổ, là con của Hỏa, mẹ của Kim, nên gửi lý tại cung Tây Nam (Khôn).
Thiên Bồng chủ quản cung 1 (Khảm)
Thiên Nhuế chủ quản cung 2 (Khôn)
Thiên Xung chủ quản cung 3 (Chấn)
Thiên Phụ chủ quản cung 4 (Tốn)
Thiên Cầm chủ quản cung 5 (Trung)
Thiên Tâm chủ quản cung 6 (Càn)
Thiên Trụ chủ quản cung 7 (Đoài)
Thiên Nhâm chủ quản cung 8 (Cấn)
Thiên Anh chủ quản cung 9 (Ly)
PHÉP BÁT MÔN
Phép xưa: Trời có Bát Phong, để thẳng với Bát Quái; Đất có Bát Phương, để ứng với Bát Tiết. Mỗi Tiết có ba Khí, mỗi Khí có ba Hậu. Như thế, lấy Tám Tiết nhân với ba, thành hai mươi bốn Tiết Khí; lại nhân với ba, đủ bảy mươi hai Hậu.
SUY BÁT TIẾT LẤY CHỦ QUÁI LÀM SƠ TRỰC
Đông Chí: cung 1 Khảm (Quái Khảm)
Lập Xuân: cung 8 Cấn (Quái Cấn)
Xuân Phân: cung 3 Chấn (Quái Chấn)
Lập Hạ: cung 4 Tốn (Quái Tốn)
Hạ Chí: cung 9 Ly (Quái Ly)
Lập Thu: cung 2 Khôn (Quái Khôn)
Thu Phân: cung 7 Đoài (Quái Đoài)
Lập Đông: cung 6 Càn (Quái Càn)
PHÉP BỐ CỤC DƯƠNG ĐỘN
Đông Chí: Thiên Nguyên [1, 7, 4]
Tiểu Hàn: Địa Nguyên [2, 8, 5]
Đại Hàn: Nhân Nguyên [3, 9, 6]
Lập Xuân: Thiên Nguyên [8, 5, 2]
Vũ Thủy: Địa Nguyên [9, 6, 3]
Kinh Trập: Nhân Nguyên [1, 7, 4]
Xuân Phân: Thiên Nguyên [3, 9, 6]
Thanh Minh: Địa Nguyên [4, 1, 7]
Cốc Vũ: Nhân Nguyên [5, 2, 8]
Lập Hạ: Thiên Nguyên [4, 1, 7]
Tiểu Mãn: Địa Nguyên [5, 2, 8]
Mang Chủng: Nhân Nguyên [6, 3, 9]
PHÉP BỐ CỤC ÂM ĐỘN
Hạ Chí: Thiên Nguyên [9, 3, 6]
Tiểu Thử: Địa Nguyên [8, 2, 5]
Đại Thử: Nhân Nguyên [7, 1, 4]
Lập Thu: Thiên Nguyên [2, 5, 8]
Xử Thử: Địa Nguyên [1, 4, 7]
Bạch Lộ: Nhân Nguyên [9, 3, 6]
Thu Phân: Thiên Nguyên [7, 1, 4]
Hàn Lộ: Địa Nguyên [6, 9, 3]
Sương Giáng: Nhân Nguyên [5, 8, 2]
Lập Đông: Thiên Nguyên [6, 9, 3]
Tiểu Tuyết: Địa Nguyên [5, 8, 2]
Đại Tuyết: Nhân Nguyên [4, 7, 1]
PHÉP BỐ CỤC
Một (cung Khảm) là Bồng, sao Bồng đóng, cửa Hưu; Nhuế, Đại, Thương, Xung, Phụ không rời bốn cung là đầu mối. Cầm ở cung 5 (Trung) là Tử, Tâm ở cung 6 (Càn) là Khai; Trụ ở cung 7 (Đoài) là Kinh; Nhậm ở cung 8 (Cấn) là Sinh; Anh ở cung 9 (Ly) là Cảnh.
CHÚ THÍCH: Đã có 4 tiết, 12 khí, mỗi khí chia làm Thiên - Địa - Nhân tam nguyên (thượng, trung, hạ tam cục). Sau Đông Chí là Dương Độn, sau Hạ Chí là Âm Độn, theo từng tiết khí, Dương độn thuận, Âm độn nghịch mà bày bố.
Phép bố Thượng - Trung - Hạ cục: Đây gọi là Giáp, Kỷ Phù Đầu.
Ngày Giáp, Kỷ ở thế "Trọng" (giữa) là Thượng cục: Giáp Tý, Kỷ Mão, Giáp Ngọ, Kỷ Dậu làm đầu Thượng cục. Từ Giáp Tý đến Mậu Thìn, Kỷ Mão đến Quý Mùi, Giáp Ngọ đến Mậu Tuất, Kỷ Dậu đến Quý Sửu: 20 ngày này dùng Thượng cục.
Ngày Giáp, Kỷ ở thế "Mạnh" (đầu) là Trung cục: Kỷ Tỵ, Giáp Thân, Kỷ Hợi, Giáp Dần làm đầu Trung cục. Từ Kỷ Tỵ đến Quý Dậu, Giáp Thân đến Mậu Tý, Kỷ Hợi đến Quý Mão, Giáp Dần đến Mậu Ngọ: 20 ngày này là Trung cục.
Ngày Giáp, Kỷ ở thế "Quý" (cuối) là Hạ cục: Giáp Tuất, Kỷ Sửu, Giáp Thìn, Kỷ Mùi làm đầu Hạ cục. Từ Giáp Tuất đến Mậu Dần, Kỷ Sửu đến Quý Tỵ, Giáp Thìn đến Mậu Thân, Kỷ Mùi đến Quý Hợi: 20 ngày này là Hạ cục.
Ví dụ: Từ Giáp Tý đến Mậu Dần (15 ngày) là Tam nguyên Thượng - Trung - Hạ, mỗi 5 ngày một nguyên.
Siêu Thần Tiếp Khí, Tháo Cục Bổ Cục
Ví dụ: Ngày Giáp Kỷ ở thế Quý (cuối), ngày thứ 20 gặp Canh, Kỷ là Lập Xuân, thì dùng Hạ cục của Lập Xuân chỉ được 4 ngày, đến ngày thứ 15 Giáp Kỷ lại bổ đủ Hạ cục, tổng cộng 5 ngày đủ 60 thời khắc. Các khí Vũ Thủy cũng theo đó. Đây là phép tháo cục, bổ cục, khí siêu thần tiếp khí đã rõ.
Khí Ứng Biến Cục
Ví dụ: Đến giờ Tỵ ngày Giáp Tý giao tiết Đông Chí, mới được dùng Dương Độn Thiên Nguyên Thượng cục. Trước giờ Thìn chỉ dùng Âm Độn, Thượng cục của Đại Tuyết.
Thiên Ất Trực Phù Sứ Khởi Cung Dị Sở
Vương Chương nói: Thiên Ất (Trực Phù) và Trực Sứ khởi từ các cung khác nhau, gọi là trực môn tương xung. Âm Dương nhị độn, mỗi độn có hai sứ (Âm sứ và Dương sứ). Ví dụ sau Đông Chí, Dương sứ khởi đầu từ cung 1 (Khảm), Âm sứ khởi đầu từ cung 9 (Ly). Sau Hạ Chí, Âm sứ khởi đầu từ cung 9 (Ly), Dương sứ khởi đầu từ cung 1 (Khảm), cho nên gọi là khởi từ chỗ khác nhau. Sở dĩ gọi là "trực môn tương xung": Sau Đông Chí, Dương sứ khởi từ cửa Hưu, Âm sứ khởi từ cửa Cảnh. Sau Hạ Chí, Âm sứ khởi từ cửa Cảnh, Dương sứ khởi từ cửa Hưu. Cho nên gọi là trực môn tương xung. Ngày nay dùng Độn Giáp, từ sau Đông Chí 182 ngày 62,5 phần (nửa năm) trải qua phía Đông của Tý, Ngọ, Dương khí hành sự, chỉ dùng Dương Độn (và) Âm sứ; sau Hạ Chí 182 ngày 62,5 phần trải qua phía Tây của Tý, Ngọ, Âm khí hành sự, chỉ dùng Dương sứ (và) Âm Độn. Kinh xưa nói: "Sau Đông Chí dùng Âm sứ, sau Hạ Chí dùng Dương sứ", là điều mà kinh thuật chẳng hiển bày những việc u ẩn. Đó là lẽ cùng trời đất, sánh với tạo hóa, để thông suốt đức của thần minh, để phân loại tình của vạn vật. Sự xoay vần của ba ánh sáng (Nhật, Nguyệt, Tinh), sự qua lại của bốn mùa, hoặc tiêu hoặc tức, hoặc thăng hoặc giáng, mà vận hành trong cái vô hình, bày bố trong cái vô tượng, có điều chẳng thấy, để lại cho người sau.
Một thuận một nghịch ứng với tiết khí biến hóa
Cát Hồng nói: Sau Đông Chí, khí ứng, Dương sứ đi thuận, Âm sứ đi nghịch. Sau Hạ Chí, khí ứng, Âm sứ đi thuận, Dương sứ đi nghịch. Ứng với tiết khí biến hóa, nay dùng phép tính toán để tìm đúng giờ giao Đông Chí, Hạ Chí cho hợp với khí ứng, nhằm làm sáng tỏ. Hai mươi bốn tiết khí, mỗi tiết tìm giờ giao, dùng phép Siêu Thần Tiếp Khí của Độn Giáp. Điều tinh yếu cốt sao cho cát hung có chỗ dựa, dùng thì không sai lầm.
Hai độn (Âm Dương) trực phù hợp ở Trung Cung
Cát Hồng nói: Hợp ở Trung Cung là: Dương Độn, Dương sứ, sau Đông Chí, Thượng nguyên ngày Giáp Kỷ nửa đêm sinh Giáp Tý, khởi đầu từ cung 1, trải qua 5 thời khắc đến Mậu Thìn ở cung 5. Âm sứ khởi đầu từ cung 9, đi nghịch trải qua 5 thời khắc, Mậu Thìn cũng ở cung 5. Âm Độn, Âm sứ sau Hạ Chí, Thượng nguyên ngày Giáp Kỷ sinh Giáp Tý, khởi đầu từ cung 9, trải qua 5 thời khắc đến Mậu Thìn ở cung 2. Dương sứ khởi đầu từ cung 1, đi thuận trải qua 5 thời khắc, đến Mậu Thìn cũng ở cung 5. Cho nên gọi là: Hợp ở Trung Cung.
Hai độn xuất phát từ sáu bốn
Cát Hồng nói: Vượt ra khỏi ngũ thổ (cung 5), quy về cửu nhất (cung 9 và 1) nghĩa là: Dương Độn Dương sứ khởi từ cung 1 (số 1) và kết thúc ở cung 9 (số 9); Âm Độn Âm sứ khởi từ cung 9 và kết thúc ở cung 1. Quy về cung 9, cho nên gọi là: Vượt qua ngũ thổ, quy về cửu nhất.
Âm Dương nhị độn
Thang Vị nói: Âm Dương nhị độn nghĩa là: Sau Đông Chí, từ cung 1 đến cung 5 là Dương Độn, từ cung 5 đến cung 9 là Âm Độn. Sau Hạ Chí, từ cung 9 đến cung 5 là Dương Độn, từ cung 5 đến cung 1 là Âm Độn. Lấy cung 5 làm nơi Âm Dương cùng độn. Sau Đông Chí, nửa phía nam cung 5 là Dương Độn, nửa phía bắc là Âm Độn. Sau Hạ Chí, nửa phía bắc cung 5 là Dương Độn, nửa phía nam là Âm Độn. Phàm khi Trực sứ ở cung 5, chủ khách thắng bại khó phân, đó gọi là hung, cho nên nói: Tránh cung 5 (Bị Ngũ).
Cửu Tinh cát hung
Tam Nguyên Kinh nói: Vào thời khắc có Thiên Phụ, Thiên Cầm, Thiên Tâm là thượng cát; được Thiên Xung, Thiên Nhâm là thứ cát; được Thiên Bồng, Thiên Nhuế là đại hung; Thiên Anh, Thiên Trụ là tiểu hung. Lại xét theo hành vượng, tướng, hưu, tù, tử của ngũ hành. Nếu sao đại hung gặp vượng tướng khí thì thành tiểu hung; sao tiểu hung gặp vượng tướng khí thì thành trung bình; nếu sao thượng cát, thứ cát không có khí (vượng tướng) thì thành trung bình. Nên suy xét kỹ mà dùng.
Ví dụ: Sau Đông Chí, thời khắc có Thiên Nhâm là sao tốt, lại gặp vượng tướng khí, thì là thượng cát.
Chín sao hưng vượng (Cửu Tinh Hưu Vượng)
Tam Nguyên Kinh nói: Chín sao hưng vượng nghĩa là: mỗi sao vượng vào tháng sinh ra nó (ngã sinh giả), tướng vào tháng cùng hành với nó (đồng loại), tử (tuyệt) vào tháng sinh ra nó (sinh ngã giả), tù vào tháng khắc nó (quan quỷ), hưu vào tháng nó khắc (tài). Ví dụ: sao Thiên Bồng (Thủy) vượng vào tháng Dần, Mão (Mộc); tướng vào tháng Hợi, Tý (Thủy); tử vào tháng Thân, Dậu (Kim sinh Thủy); tù vào các tháng cuối mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi - Thổ khắc Thủy); hưu vào tháng Tỵ, Ngọ (Hỏa - Thủy khắc Hỏa). Ngày, giờ cũng tương tự.
Chín sao chủ quản (Cửu Tinh sở chủ)
Sao Thiên Bồng: Thích hợp yên ổn biên cương, tu bổ thành trì. Xuân, Hè, tả tướng thắng lớn; Thu, Đông, hung vong. Quân lính lợi chủ, không lợi khách. Cưới hỏi đều hung. Dời nhà gây hỏa hoạn, tranh đấu thấy máu. Ra làm quan gặp nhiều trộm cướp. Tu sửa cung điện, buôn bán đều hung.
Sao Thiên Nhuế: Thích hợp sùng thượng tu đạo, kết giao bạn bè, thọ nghiệp thầy dạy thì tốt. Không nên dùng binh, cưới hỏi, kiện tụng, dời nhà, xây nhà. Thu Đông tốt, Xuân Hè hung.
Sao Thiên Xung: Thích hợp xuất quân báo thù. Xuân Hè tả tướng thắng, Thu Đông không công. Không nên cưới hỏi, dời nhà, ra làm quan, xây nhà, tế tự, buôn bán.
Sao Thiên Phụ: Thích hợp ẩn dật giữ đạo, lập giáo hóa tu sửa. Cầm quân Xuân Hè thắng, được đất bằng phẳng ngàn dặm. Cưới hỏi nhiều con cháu. Dời nhà, buôn bán, ra làm quan, tu sửa, Xuân Hè dùng có hỷ sự.
Sao Thiên Cầm: Thích hợp tế tự, cầu phúc, diệt trừ bọn hung. Cầm quân bốn mùa đều tốt, trăm phúc trợ giúp. Không đánh mà dùng mưu, kẻ địch sợ phục. Thưởng công, phong tước, dời nhà, ra làm quan, tế tự, buôn bán, cưới hỏi đều tốt.
Sao Thiên Tâm: Thích hợp chữa bệnh, bào chế thuốc. Cầm quân Thu Đông thắng, được đất ngàn dặm, Xuân Hè không lợi. Cưới hỏi, ra làm quan, xây nhà, tế tự, buôn bán: Thu Đông tốt, Xuân Hè hung. Lợi gặp quân tử, không lợi gặp tiểu nhân.
Sao Thiên Trụ: Thích hợp đóng quân giữ vững, ẩn tích giấu hình. Cầm quân xe hỏng ngựa đau, quân sĩ bại vong. Không nên dời nhà, ra làm quan, buôn bán. Nên cưới hỏi, xây sửa, tế tự.
Sao Thiên Nhâm: Thích hợp yết kiến, thông tài. Cầm quân bốn mùa đều tốt, muôn thần trợ giúp, địch tự hàng. Cưới hỏi tốt cho con cháu. Ra làm quan tốt. Dời nhà, xây nhà hung.
Sao Thiên Anh: Thích hợp xuất hành, đi xa, uống rượu vui chơi. Lợi cho cưới hỏi. Không nên xuất binh, dời nhà, ra làm quan, xây nhà, tế tự, buôn bán.
Ví dụ: Đông Chí Thượng nguyên, Dương Độn cục 1, ngày Giáp Kỷ nửa đêm sinh, Giáp Tý khởi cung 1, đi thuận đến giờ Bính Dần, ở cung 3, thời khắc đó có sao Thiên Xung trực, xuất quân báo thù, mùa Xuân gặp vượng khí.
Ví dụ: Hạ Chí Thượng nguyên, Âm Độn cục 9, ngày Giáp Kỷ nửa đêm sinh, Giáp Tý khởi cung 9, tức sao Thiên Anh là sao trực ở cung đó, đến giờ Ất Sửu, cung 8, thời khắc đó có sao Thiên Nhâm, thích hợp yết kiến, thông tài lợi.
Tám cửa chủ quản (Bát Môn sở chủ)
Cửa Khai (Khai Môn): Thích hợp đi xa, chinh phạt, đi đến đâu cũng thông đạt.
Cửa Hưu (Hưu Môn): Thích hợp hòa hợp mọi việc, điều binh, học nghề.
Cửa Sinh (Sinh Môn): Thích hợp yết kiến người quý, khởi đầu công việc xây dựng.
Cửa Thương (Thương Môn): Thích hợp săn bắn, đánh bắt, truy bắt, đi đường gặp trộm cướp.
Cửa Đỗ (Đỗ Môn): Thích hợp chặn đánh, mai phục, trừng trị kẻ phản nghịch.
Cửa Cảnh (Cảnh Môn): Thích hợp dâng thư, sai sứ, đột trận, phá vây.
Cửa Tử (Tử Môn): Thích hợp hành hình, giết chóc, viếng người chết, đưa đám.
Cửa Kinh (Kinh Môn): Thích hợp bắt giữ, đấu tố, công kích, gây kinh động.
Trong tám cửa trên, ba cửa Khai, Hưu, Sinh là cửa tốt (cát môn), nên xuất hành theo hướng đó. Nếu lại gặp thêm Tam Kỳ và các sao tốt thì là thượng cát. Năm cửa hung (Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh) không nên xuất hành theo hướng đó, nên tránh.
Ví dụ: Đông Chí Thượng nguyên, Dương Độn cục 1, ngày Giáp Kỷ nửa đêm sinh Giáp Tý, lúc này là phục ngâm, cửa Sinh ở cung 8 (Cấn), thích hợp yết kiến người quý, khởi đầu việc xây dựng thì tốt.
Ba Giáp (Tam Giáp)
Thượng cục (Thượng cục) gọi là Trọng Giáp: Là ngày Giáp Kỷ nửa đêm sinh Giáp Tý, ngày Bính Tân giờ Ngọ là Giáp Ngọ. Lúc này quan cách, hình đức ở cửa, dùng binh ai ra tay trước sẽ bại, không thể xuất nhập. Lợi cho việc trốn chạy, chủ khách đều hung.
Trung cục (Trung cục) gọi là Mạnh Giáp: Là ngày Mậu Quý giờ Dần là Giáp Dần, ngày Ất Canh giờ Thân là Giáp Thân. Lúc này dương khí ở trong, âm khí ở ngoài, lợi cho việc giấu quân cố thủ, không thể xuất quân. Lợi chủ, không lợi khách.
Hạ cục (Hạ cục) gọi là Quý Giáp: Là ngày Đinh Nhâm giờ Thìn là Giáp Thìn, ngày Giáp Kỷ giờ Tuất là Giáp Tuất. Lúc này dương khí ở ngoài, âm khí ở trong, lợi cho việc xuất hành động chúng, trăm việc đều tốt. Lợi khách, không lợi chủ. Lại nói: Vào lúc nửa đêm ngày Lục Giáp, ba Giáp đều hợp, gọi là hôm nay Giáp trực phù và giờ đều là Giáp, cho nên gọi là Tam Giáp hợp.
Tam Kỳ đắc sứ
Cát Hồng nói: Nếu được Tam Kỳ làm sứ, càng tốt lành, nghĩa là ở trên Lục Giáp, tự được cái kỳ làm sứ cho nó. Giáp Tuất, Giáp Ngọ thì Ất làm sứ; Giáp Tý, Giáp Thân thì Bính làm sứ; Giáp Thìn, Giáp Dần thì Đinh làm sứ.
Ví dụ: Dương Độn cục 3, ngày Ất Canh, giờ Đinh Hợi, lúc này Lục Ất (Nhật kỳ) lâm cung 9 (Giáp Ngọ), đó là Ất kỳ đắc sứ.
Ví dụ: Âm Độn cục 3, ngày Bính Tân, giờ Nhâm Thìn, lúc này Lục Ất (Nhật kỳ) lâm cung 9 (Giáp Ngọ), là Ất kỳ đắc sứ.
Ví dụ: Dương Độn cục 5, ngày Đinh Nhâm, giờ Ngọ là Bính Ngọ, lúc này Bính kỳ lâm cung 1 (Giáp Tý), là Bính kỳ đắc sứ.
Ví dụ: Dương Độn cục 5, ngày Bính Tân, giờ Hợi là Kỷ Hợi, lúc này Đinh kỳ lâm cung 4 (Giáp Thìn), là Đinh kỳ đắc sứ.
Phàm dùng Độn Giáp, nếu Tam Kỳ đắc sứ lại hợp với các sao tốt, cửa tốt thì trăm việc đều tốt.
Tam Kỳ chi linh (Linh ứng của Tam Kỳ)
Cát Hồng nói: Linh ứng của Tam Kỳ, thích hợp dùng để xuất hành. Tam Kỳ là: Lục Ất gọi là Nhật kỳ, Lục Bính gọi là Nguyệt kỳ, Lục Đinh gọi là Tinh kỳ. Cùng với các thần tốt và ba cửa Khai, Hưu, Sinh thì là cát, gọi là Tam Kỳ chi linh. Trong ba cửa cát mỗi cửa đều có một kỳ cùng lâm một phương, đó là đạo thanh hư. Lúc này, phương này, xuất binh hành quân, chinh phạt cướp bóc, ra oai múa giáo, ra lệnh hành quân đều tốt. Lại thích hợp cầu phúc, an xã tắc, giáo hóa dân chúng.
Ví dụ: Đông Chí Hạ nguyên, Dương Độn cục 4, ngày Mậu Quý, giờ Ngọ là Mậu Ngọ, lúc này Lục Mậu ở cung 4, lấy Trực phù là Thiên Anh gia thời gian lên Lục Mậu tại cung 4 (Thiên Anh gia cung 4 vì cung 4 có Mậu), tức Lục Đinh (Tinh kỳ) lâm cung 6. Lấy Trực sứ là Cảnh môn gia cung 6, tức cửa Hưu cùng Lục Đinh Tinh kỳ lâm cung 6 (phía Tây Bắc), trăm việc tốt lành.
Ví dụ: Hạ Chí Thượng nguyên, Âm Độn cục 9, ngày Mậu Quý, giờ Mùi là Kỷ Mùi, Lục Kỷ ở cung 8, lấy Trực phù Thiên Phụ gia thời can Lục Kỷ lên cung 8, tức Lục Ất (Nhật kỳ) lâm cung 7. Lấy Đỗ môn làm Trực sứ gia cung 8, tức cửa Hưu hợp với Lục Ất Nhật kỳ lâm cung 7 (phía Tây Chính), tốt lành.
Cửu Thiên chi thượng Lục Giáp Tý
Vương Chương nói: Trên chín tầng trời (Cửu Thiên chi thượng) là Lục Giáp Tý, nghĩa là Lục Giáp làm Trực phù. Vào giờ Lục Giáp, quân sĩ nên tựa lưng vào cung mà Trực phù lâm tới, và đánh vào hướng xung (đối diện), thì không gì là không thắng. Kinh nói: Giương oai trên chín tầng trời (Dương binh ư Cửu Thiên chi thượng). Sở dĩ Giáp là Cửu Thiên chi thượng, bởi Kinh Dịch nói Càn nạp Giáp Nhâm. Càn là trời, đạo trời thăng lên, lấy Nhâm đến Giáp, số đó là 9, cho nên Lục Giáp là Cửu Thiên chi thượng. Sở dĩ Lục Giáp đều gọi là Giáp Tý, vì Giáp Tý là khởi đầu của Lục Giáp, là trưởng của can chi. Nêu đầu để hiểu các số còn lại, cho nên Lục Giáp đều gọi là Giáp Tý.
Cửu Địa chi hạ Lục Quý Dậu
Nói về vị trí của Lục Quý, đều gọi là dưới chín tầng đất (Cửu Địa chi hạ). Phàm việc trốn chạy, mai danh ẩn tích, nên xuất nhập theo hướng mà Thiên thượng Lục Quý lâm tới. Kinh Dịch nói Khôn nạp Ất Quý. Lại Khôn là đất, đạo đất hạ xuống, từ Ất đến Quý, cũng là 9, cho nên nói: Quý là Cửu Địa chi hạ. Sở dĩ Lục Quý, đều gọi là Quý Dậu, vì Quý Dậu là điểm kết thúc của Giáp Tý.
Tam Kỳ chi linh Lục Đinh Mão
Nói về Lục Đinh là linh ứng của Tam Kỳ, phàm việc đi lại, xuất nhập, dùng binh, đấu tranh đều tốt. Cho nên nói: Biết Lục Đinh thì ra vào chốn u minh, đến già không bị hình phạt, dao có kề cổ vẫn an nhiên không sợ. Lại nói: Lục Đinh là Âm của Lục Giáp. Thần Đinh Mão tên là Văn Bá, Đinh Sửu tên Văn Tôn, Đinh Hợi tên Văn Công, Đinh Dậu tên Văn Thông, Đinh Mùi tên Văn Khanh, Đinh Tỵ tên Văn Cự Khanh. Phàm việc đấu tranh, ra vào, đi lại, nên gọi tên của sáu vị thần Đinh. Sở dĩ gọi Tam Kỳ chi linh Lục Đinh Mão, vì Đinh Mão là Âm của Giáp Tý.
Lục Hợp chi trung Lục Kỷ Tỵ
Nói về vị trí của Lục Kỷ đều là trong Lục Hợp. Phàm những việc âm mưu, bí mật, mai phục ẩn náu, đều nên xuất hành theo hướng mà Thiên thượng Lục Kỷ lâm tới, người không thể thấy. Kinh nói: Lục Hợp là cửa riêng, một mình ra vào, không ai thấy. Sở dĩ Lục Kỷ là trong Lục Hợp, vì từ Giáp đến Kỷ, Giáp và Kỷ hợp, cho nên trong Lục Hợp, Lục Kỷ Tỵ cũng là nêu ý nghĩa của một tuần Giáp Tý, cho nên đều gọi là Lục Kỷ Tỵ.
Cửu Thiên, Cửu Địa, Thái Âm, Lục Hợp
Trương Lương nói: Trên chín tầng trời (Cửu Thiên) lợi để dàn trận; dưới chín tầng đất (Cửu Địa) lợi để mai phục ẩn náu. Trong Thái Âm, Lục Hợp có thể trốn chạy. Phàm sau Đông Chí, Dương Độn, Thiên thượng Trực phù lâm cung nào, thì phía sau một cung là Cửu Thiên, sau hai cung là Cửu Địa, trước hai cung là Thái Âm, trước ba cung là Lục Hợp. Sau Hạ Chí, Âm Độn, Thiên thượng Trực phù lâm cung nào, thì phía trước một cung là Cửu Thiên, trước hai cung là Cửu Địa, sau hai cung là Thái Âm, sau ba cung là Lục Hợp.
Ví dụ: Dương Độn Thượng nguyên cục 1, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần, Thiên thượng Trực phù lâm cung 8, thì sau một cung là Cửu Thiên lâm cung 1, sau hai cung là Cửu Địa lâm cung 6, trước hai cung là Thái Âm lâm cung 4, trước ba cung là Lục Hợp lâm cung 9.
Ví dụ: Âm Độn Thượng nguyên cục 9, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần, Thiên thượng Trực phù lâm cung 2, thì trước một cung là Cửu Thiên lâm cung 7, trước hai cung là Cửu Địa lâm cung 6, sau hai cung là Thái Âm lâm cung 4, sau ba cung là Lục Hợp lâm cung 3.
Phục ngâm (Vũ điệu trùng gia)
Tý đến gia Tý là phục ngâm, không nên dùng binh, thích hợp thu vén tiền của. Phàm vào giờ Lục Giáp, môn và phù đều phục ngâm. Các trường hợp khác cũng tương tự.
Phản ngâm (Vũ điệu xung đối)
Tý đến gia Ngọ là phản ngâm, không lợi cho việc cất quân động chúng, lợi cho việc tán tế, xuất kho. Môn và phù xung nhau, đều là phản ngâm.
Chọn ngày trong Độn Giáp (Độn Giáp trạch nhật)
Độn Giáp chọn ngày, xuất quân đánh dẹp, xây dựng trăm việc, trong đó có các ngày Bảo, Nghĩa, Chế, Hòa là tốt, ngày Phạt là hung.
Ngày Bảo (Bảo nhật) là thượng cát: Can sinh Chi. Đó là các ngày: Giáp Ngọ, Ất Tỵ, Bính Thìn, Bính Tuất, Đinh Sửu, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tý, Tân Hợi, Nhâm Dần, Quý Mão.
Ngày Nghĩa (Nghĩa nhật) là thứ cát: Chi sinh Can. Đó là các ngày: Giáp Tý, Bính Dần, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Canh Thìn, Canh Tuất, Ất Hợi, Kỷ Tỵ, Mậu Ngọ, Tân Sửu.
Ngày Chế (Chế nhật) là trung bình: Can khắc Chi. Đó là các ngày: Giáp Tuất, Ất Mùi, Ất Sửu, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tý, Kỷ Hợi, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Ngọ, Giáp Thìn, Quý Tỵ.
Ngày Hòa (Hòa nhật) là thứ cát: Can Chi cùng loại (cùng hành). Đó là các ngày: Mậu Thìn, Kỷ Sửu, Mậu Tuất, Bính Ngọ, Nhâm Tý, Giáp Dần, Ất Mão, Đinh Tỵ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Quý Hợi.
Ngày Phạt (Phạt nhật) là dưới khắc trên: Chi khắc Can. Đó là các ngày: Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tý, Đinh Hợi, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Ngọ, Tân Tỵ, Nhâm Thìn, Nhâm Tuất, Quý Sửu, Quý Mùi. Không nên xuất quân, hung.
Độn Giáp lợi cho khách (Lợi khách)
Kinh nói: Sao Thiên Bồng gia cung 9 (Ly), lợi làm khách. Nếu vào các tháng mùa Thu Đông, các ngày Nhâm Quý, giờ Hợi Tý, khi giao chiến, có mây đen từ phương Bắc đến trợ chiến, khách thắng lớn.
Sao Thiên Trụ, Thiên Tâm gia cung 3, 4 (Chấn, Tốn), lợi làm khách. Nếu vào tháng mùa Thu và tháng cuối mùa Hạ, các ngày Canh Tân, giờ Thân Dậu, khi giao chiến, có mây trắng từ phương Tây đến trợ chiến, thắng lớn.
Sao Thiên Nhâm, Thiên Cầm, Thiên Nhuế gia cung 1 (Khảm), lợi làm khách. Nếu vào các tháng cuối mùa, các ngày Mậu Kỷ, các giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có mây vàng từ phương Đông Bắc đến trợ chiến, khách thắng lớn.
Sao Thiên Xung, Thiên Phụ gia cung 8, 2 (Cấn, Khôn), lợi làm khách. Nếu vào mùa Xuân Đông, các ngày Giáp Ất, giờ Dần Mão, có mây xanh từ phương Đông hoặc Đông Nam đến trợ chiến, khách thắng.
Sao Thiên Anh gia cung 7 (Đoài), lợi làm khách. Nếu vào tháng mùa Xuân Hè, các ngày Bính Đinh, giờ Tỵ Ngọ, có mây đỏ từ phương Nam đến trợ chiến, khách thắng lớn.
Lợi cho chủ (Lợi chủ)
Kinh nói: Sao Thiên Anh gia cung 1 (Khảm), lợi làm chủ thì tốt. Như lợi vào tháng mùa Đông, các ngày Nhâm Quý, giờ Hợi Tý, có mây đen từ chính Bắc đến trợ chiến, chủ thắng lớn.
Sao Thiên Nhâm, Thiên Cầm, Thiên Nhuế lâm cung 3, 4 (Chấn, Tốn), lợi làm chủ. Như vào tháng mùa Đông Hè, các ngày Giáp Ất, giờ Dần Mão, có mây xanh từ Đông Nam đến trợ chiến, chủ thắng lớn.
Sao Thiên Bồng gia cung 8 (Cấn), lợi làm chủ. Như vào các tháng cuối mùa, ngày Mậu Kỷ, giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có mây vàng từ Đông Bắc, Tây Nam đến trợ chiến, chủ thắng.
Sao Thiên Phụ, Thiên Xung gia cung 6, 7 (Càn, Đoài), lợi làm chủ. Như vào tháng cuối mùa Hạ và mùa Thu, ngày Canh Tân, giờ Thân Dậu, có mây trắng từ chính Tây, Tây Bắc đến trợ chiến, chủ thắng.
Sao Thiên Trụ, Thiên Tâm gia cung 9 (Ly), lợi làm chủ. Như vào tháng mùa Xuân Hè, ngày Bính Đinh, giờ Tỵ Ngọ, có mây đỏ từ chính Nam đến trợ chiến, chủ thắng.
Cửa bị ép (Môn bách)
Kinh nói: Cung chế ngự cửa, gọi là Môn bách (cửa bị ép). Cửa chế ngự cung, gọi là Cung bách (cung bị ép). Nếu cửa tốt bị ép (Môn bách), thì việc tốt chẳng thành. Cửa xấu bị ép, thì tai họa càng thêm nặng.
Ví dụ: Cửa Khai lâm cung 3, 4 (Chấn, Tốn); cửa Hưu lâm cung 9 (Ly); cửa Sinh lâm cung 1 (Khảm); cửa Cảnh lâm cung 7, 6 (Đoài, Càn): đó là cửa tốt bị ép, việc tốt chẳng thành. Nếu cửa Thương, Đỗ lâm cung 8, 2 (Cấn, Khôn); cửa Tử lâm cung 1 (Khảm); cửa Kinh lâm cung 3, 4 (Chấn, Tốn): đó là cửa xấu bị ép, tai họa càng thêm nặng.
Tam Kỳ ứng tĩnh (Ứng nghiệm lúc tĩnh)
Kinh nói: Dương Độn đi thuận, lấy phía trước mà dùng; Âm Độn đi nghịch, lấy phía sau mà dùng.
Ví dụ: Dương Độn cục 1, giờ Ngọ ngày Giáp Ngọ (Trực phù ở cung 3), đó là lấy thuận, hợp với Bính Kỳ ở cung 4, tức Nguyệt Kỳ ở cung Tốn đến ứng vào lúc giữa giờ. Như Tam Kỳ ở vị trí Trực phù là đầu giờ, phía trước một vị là giữa giờ, phía trước hai vị là cuối giờ.
Các cung và sự ứng nghiệm:
Cung Càn (Càn): Nhật kỳ (Ất) đến Càn: có người mặc áo vàng đến, hoặc có người buộc tiền đến. Nguyệt kỳ (Bính) đến Càn: có người mặc áo choàng đến, lại có chim đen thành đôi đến, trong trăm ngày tiến vào của cải của phụ nữ, phương Nam có người chết đẻ. Tinh kỳ (Đinh) đến Càn: có người cầm đao rìu, hoặc có kẻ dắt thú có sừng đến. Ba, bảy ngày tiến vàng bạc, và các vật phẩm sinh khí màu trắng vàng.
Cung Khảm (Khảm): Nhật kỳ đến Khảm: có người mặc áo đen đến, hoặc có tiếng trống ứng, sau khi dùng công, bảy ngày tiến tiền của, và người mặc áo đen đến nhà. Nguyệt kỳ đến Khảm: có người cầm gậy, hoặc có chim vàng trắng từ Tây Bắc đến, sáu mươi ngày, ngày nào cũng tiến khế thư. Nếu phía Đông có lửa lớn kinh động. Tinh kỳ đến Khảm: có người từ phương Nam đến, bồng con nhỏ đến, lại có mây đen đến, một bảy ngày tiến vật đen bay. Tây Bắc có người treo cổ, chết bệnh đột ngột, phát tài lớn.
Cung Cấn (Cấn): Nhật kỳ (Ất) đến Cấn: có người mặc áo xanh qua lại, hoặc người cầm đồ sắt đến, lại có chim đen bay thành đôi từ Bắc đến, hai bảy ngày tiến vàng bạc, một năm tiến ngựa trắng, tốt. Nguyệt kỳ (Bính) đến Cấn: có người mặc áo xanh đen đến, lại có người bán lưới, bán cá đến, hoặc chim bay thành đôi đến, có tiếng trẻ con khóc, đồ sắt qua lại, sau khi dùng công bảy ngày, tiến của cải người, một năm sau tiến vật phẩm sinh khí màu trắng hoa. Tinh kỳ (Đinh) đến Cấn: có người mang văn thư giấy bút đến, hoặc người bồng đồ sắt đến qua. Trong hai bảy ngày tiến vật màu xanh vàng, 120 ngày tiến nhân khẩu và khế tự, hoặc trâu sừng trắng.
Cung Chấn (Chấn): Nhật kỳ đến Chấn: có võ sĩ cầm thương nỏ, lại chủ về tiếng sấm, hoặc có tiếng trống ứng, hoặc có người bán lưới bán cá, người đi săn, và trẻ con thành đàn, tiến vàng bạc châu báu, nếu thấy phương Đông có đàn bà đẻ, phát tài lớn. Nguyệt kỳ đến Chấn: người bán lưới bán cá hoặc người đi săn đến, hoặc trẻ con thành đàn, giống Nhật kỳ. Bảy ngày tiến sinh khí, một năm sinh quý tử. Nếu phía Bắc có sấm đánh cây thì phát. Tinh kỳ đến Chấn: có đàn bà thành đôi đến, hoặc chim đen thành đôi đến. Một bảy ngày tiến vật vàng trắng, lúc có thú rượu, phía Đông có giết chóc thì phát tài lớn.
Cung Tốn (Tốn): Nhật kỳ đến Tốn: có người mặc áo trắng cưỡi ngựa đến, hoặc có trẻ con đến. Trong ba năm sinh quý tử, tiến của cải ruộng vườn bên ngoài. Thấy cây cối phương Đông tự khô, lửa kinh, người treo cổ thì phát. Nguyệt kỳ đến Tốn: có tiếng nhạc ứng, lại có tiếng hót, hoặc phương Đông Nam có việc kinh sợ. Một bảy tháng tiến người mặc áo đen, thì phát tài lớn. Tinh kỳ đến Tốn: có trẻ con cưỡi trâu đến, hoặc phương Nam có mây đen đến, thấy Bắc Đẩu. Một năm có người đẻ non chết, phát tài lớn.
Cung Ly (Ly): Nhật kỳ đến Ly: có người bệnh mắt, chân hoặc trẻ con cưỡi trâu ngựa, lại có chim trắng đen từ phương Đông đến. Trong bảy ngày tiến heo, chó, sinh tài lớn. Nguyệt kỳ đến Ly: có chim vàng đen thành đôi đến. Một bảy ngày hoặc sáu mươi ngày tiến hố, ruộng, tằm, tơ, rất tốt. Tinh kỳ đến Ly: có người mặc áo xanh đến, ba bảy ngày tiến tài hoạch (tiền bất ngờ). Nếu thấy phương Đông có đao binh tự hại thì phát tài lớn.
Cung Khôn (Khôn): Nhật kỳ đến Khôn: có người quấn khăn trắng và mặc đồ tang, và phương Tây có sấm đánh chết trâu ngựa, hoặc có tiếng trống ứng. Một bảy ngày tiến gà, heo, sáu mươi ngày tiến khế tự, rất tốt. Nguyệt kỳ đến Khôn: có người mặc áo đen, và chim quạ từ phương Nam, Bắc đến, hoặc tiếng trống ứng, sau khi dùng công bảy ngày, tiến của cải đàn bà phương Bắc. Một năm được ruộng của nhà tuyệt tự, lại có người mặc áo đen vào được của cải, thấy sấm phía Đông, phát tài lớn. Tinh kỳ đến Khôn: có người mặc áo xanh và chim đen đến, hoặc người gánh nước qua ứng, hai bảy ngày tiến đồ vật dưới nước, hải vị. Thấy phía Bắc có núi lở, nước vỡ, ruộng sụt, phát tài lớn.
Cung Đoài (Đoài): Nhật kỳ đến Đoài: có hai ba người đàn bà đến, hoặc có tiếng chim hót ứng, chim ác là báo tin vui. Ba bảy ngày, một trăm ngày tiến ruộng đất của người có giáp vũ hoặc thương âm, thấy phương Đông có trâu ngựa tự hại, phát tài lớn. Nguyệt kỳ đến Đoài: có người cầm gậy từ phương Đông đến, lại có người bồng trẻ con khóc đến, có tiếng trống. Một bảy ngày tiến của cải, một năm tiến nhân khẩu, ruộng đất. Phương Khôn, Cấn có người già chết thì phát. Tinh kỳ đến Đoài: có người mang văn thư, giấy bút đến, lại có người đánh cá, lưới qua, phương Tây có chim bay đến. Bảy ngày tiến heo gà v.v, phương Khôn, Cấn, Đoài có người chết đột ngột, hoặc phát hỏa ứng, phát tài lớn.
Đường ứng của Kỳ Môn (Kỳ Môn lộ ứng)
Kinh nói:
Ất kỳ gặp cửa Sinh: trên đường gặp người đau mắt, hai con chuột đánh nhau, hoặc người mặc đồ tang.
Ất kỳ gặp cửa Hưu: gặp trâu ngựa và người khiêng gỗ.
Ất kỳ gặp cửa Khai: gặp khách nhân hoặc người mặc áo đỏ, quan lại.
Bính kỳ gặp cửa Sinh: trên đường gặp người bị bệnh mắt (hoặc đau mắt) hoặc người đánh nhau.
Bính kỳ gặp cửa Hưu: trong vòng 50 dặm nghe tiếng trống hoặc nhạc khí.
Bính kỳ gặp cửa Khai: gặp người già cầm gậy hoặc tiếng khóc.
Đinh kỳ gặp cửa Sinh: gặp người đi săn hoặc chó.
Đinh kỳ gặp cửa Hưu: trong vòng 20 dặm gặp người phụ nữ mặc áo trắng đen.
Đinh kỳ gặp cửa Khai: trẻ con cầm gậy tre v.v ứng với điều đó.
