ĐẠI TOÀN CÁCH CỤC HUNG TRONG KỲ MÔN – SÁU CÁCH CỤC KÍCH HÌNH TRONG CỔ THƯ

ĐẠI TOÀN CÁCH CỤC HUNG TRONG KỲ MÔN – SÁU CÁCH CỤC KÍCH HÌNH TRONG CỔ THƯ

1. Canh gia năm, tháng, ngày, giờ – lần lượt gọi là cách niên, cách nguyệt, cách nhật, cách thời. Canh là thần ngăn trở. Năm, tháng, ngày, giờ lần lượt là dụng thần. Dụng thần bị ngăn trở, tự nhiên không lành, thành hung. Nhưng nếu gặp phá án, tìm đồ mất, tìm người đi lạc… thì gặp cách này lại hóa thành cát. Hung phạm bị bắt, đồ mất tìm thấy, người đi xa trở về – tự nhiên là việc lành.

2. Năm, tháng, ngày, giờ gia Canh – tức là thiên bàn là can năm, tháng, ngày, giờ, địa bàn là Canh. Dụng thần bị ngăn trở, tự nhiên cũng không lành. Nhưng nếu dụng thần cần bị ngăn trở, thì lại biến hung thành cát.

3. Lục Nghi kích hình (Sáu nghi đánh hình)

Trong cổ thư chỉ nói sáu hình thức kích hình do lục Giáp rơi vào cung, cụ thể:

  • Giáp Tý Mậu gia cung 3 (Chấn) – hình Tý Mão.

  • Giáp Tuất Kỷ gia cung 2 (Khôn) – hình Tuất Mùi.

  • Giáp Thân Canh gia cung 8 (Cấn) – hình Thân Dần.

  • Giáp Ngọ Tân gia cung 9 (Ly) – hình Ngọ Ngọ (tự hình).

  • Giáp Thìn Nhâm gia cung 4 (Tốn) – hình Thìn Thìn (tự hình).

  • Giáp Dần Quý gia cung 4 (Tốn) – hình Dần Tỵ.

Sáu Giáp trên rơi vào cung tạo thành kích hình, đều là hình cách do địa chi của lục Giáp với địa chi ngầm trong địa bàn tạo thành.

KỲ MÔN HUNG CÁCH ĐẠI TOÀN – SÁU KÍCH HÌNH CÁCH TRONG CỔ THƯ

Thực ra, ngoài ra, giữa thiên bàn và địa bàn với tam kỳ lục nghi cũng có thể hình thành kích hình cách. Ví dụ: Thiên bàn Giáp Ngọ Tân gia địa bàn Giáp Ngọ Tân – hình Ngọ Ngọ tự hình. Giáp Thìn Nhâm gia Giáp Thìn Nhâm – hình Thìn Thìn tự hình. Giáp Thân Canh gia Giáp Dần Quý – hình Thân Dần tương hình.

Lục Nghi kích hình là hung. Nhẹ thì mâu thuẫn, hao tài tốn của; nặng thì đau ốm, thương tích, hoặc kiện tụng tù ngục.

4. Tam Kỳ nhập mộ (Ba kỳ vào mộ)

  • Ất kỳ rơi cung Càn (số 6) – vào mộ Tuất.

  • Bính kỳ rơi cung Càn (số 6) – vào mộ Tuất.

  • Đinh kỳ rơi cung Cấn (số 8) – vào mộ Sửu.

Tam Kỳ nhập mộ, khó phát huy lực lượng, việc cát không cát, việc hung không hung – tượng vô lực.

5. Tam Kỳ bị chế (Tam Kỳ bị khắc – còn gọi là Tam Kỳ thụ hình)

  • Bính, Đinh rơi cung Khảm (số 1) – Hỏa bị Thủy khắc.

  • Ất rơi cung Đoài, Càn (số 7, 6) – Mộc bị Kim khắc.

Tác dụng cát của chúng khó phát huy. Tuy nhiên, còn phải dựa vào nguyệt lệnh để phân tích suy vượng của tam kỳ và cung, không thể phán đoán một cách máy móc.

6. Thời can nhập mộ

Khi dùng việc hoặc cầu đoán, thời can rơi vào cung nào đó mà địa bàn của cung đó chính là mộ của nó. Không chỉ giới hạn ở sáu giờ: Mậu Tuất, Kỷ Sửu, Bính Tuất, Đinh Sửu, Nhâm Thìn, Quý Mùi. Trong ứng dụng cụ thể, còn phải căn cứ vào suy vượng của thời can để phân biệt là "nhập mộ" hay "nhập khố". Nhập mộ thì mức độ hung lớn, việc khó thành công. Nhập khố thì tạm thời bị khốn, chờ lúc xung ra thì vẫn có thể thành việc.

  • Giờ Bính Tuất: Bính thuộc dương hỏa, thiên bàn gia lâm cung Càn (số 6) là thời can Bính nhập mộ.

  • Giờ Nhâm Thìn: thiên bàn Nhâm gia địa bàn cung Tốn (số 4) là thời can Nhâm nhập mộ.

  • Giờ Quý Mùi: thiên bàn Quý gia địa bàn cung Khôn (số 2) là thời can Quý nhập mộ.

  • Giờ Mậu Tuất: thiên bàn Mậu gia địa bàn cung Càn (số 6) là thời can Mậu nhập mộ.

  • Giờ Kỷ Sửu: thiên bàn Kỷ gia địa bàn cung Cấn (số 8) là thời can Kỷ nhập mộ.

  • Giờ Đinh Sửu: thiên bàn Đinh gia địa bàn cung Cấn (số 8) là thời can Đinh nhập mộ.

7. Môn bách (Cửa ép cung – Môn khắc cung)

Chỉ cửa khắc cung. Cửa cát khắc cung, cát chẳng thành; cửa hung khắc cung, họa chồng họa. Nghĩa là: cửa cát khắc cung, không cát, việc lành khó thành; cửa hung khắc cung, chẳng những việc không thành, còn gây ra phiền phức, thậm chí tai họa. Trong ứng dụng cụ thể, còn phải lấy nguyệt lệnh làm cương lĩnh, phân biệt suy vượng giữa cửa và cung. Cửa hưu tù không thể khắc được cung vượng tướng; cửa vượng tướng mới có thể khắc được cung hưu tù.

8. Bội cách (Cách nghịch loạn)

  • Bính gia lục Giáp trực phù, hoặc lục Giáp trực phù gia Bính, hoặc Bính gia trên năm, tháng, ngày, giờ – người xưa gọi là "bội cách".

  • Bội nghĩa là trái với lẽ thường, trái với chính đạo. Bởi Bính là dương hỏa, là uy trời, tính cách bạo liệt, làm việc dễ thiên lệch quá lửa, làm hỏng việc.

  • Vì vậy, khi phát huy tác dụng cát của Bính kỳ, cũng cần đề phòng hành vi quá khích, tránh gây rối, gây phiền phức. Nếu được hội với tam cát môn thì có thể dùng, không thể nhất loạt phán là hung.

9. Phục ngâm (Kêu vang nằm – Trùng phục)

Chín sao, tám cửa đều ở cung cũ không động hoặc quay về cung cũ, gọi là phục ngâm.
Có ba trường hợp: sao phục ngâm, cửa phục ngâm, cả sao và cửa đều phục ngâm.

  • Sao phục ngâm: thời tiết bất lợi.

  • Cửa phục ngâm: nhân hòa kém.

  • Cả sao và cửa đều phục ngâm: càng xấu.

Phục ngâm về thời gian chủ chậm, trễ; về không gian chủ gần, chủ bản địa, chủ nội bộ. Phục ngâm thường không cát. Phục ngâm không nên động, động thì hao tài tốn của, tổn thương người, tổn thương tâm. Mức độ hung còn phải kết hợp với cách cục của dụng thần.

Tuy nhiên, phục ngâm lợi cho chủ. Lúc này nên thu liễm tài hóa, đòi nợ thúc khoản. Nếu là thi đấu thể thao, thì lợi cho đội chủ nhà, đội chủ thường thắng.

Trong đó, lục Giáp chi thời cũng là sao cửa phục ngâm, nhưng lại biến thành "thiên hiển thời cách", cũng có thể hành động. Cát hung cụ thể còn phải kết hợp với sao, cửa, thần, cách cục mà dụng thần lâm đến.

10. Phản ngâm (Kêu vang ngược – Xung khắc)

Chín sao, tám cửa rơi vào cung xung với cung cũ của nó, gọi là phản ngâm.
Có ba trường hợp: sao phản ngâm, cửa phản ngâm, cả sao và cửa đều phản ngâm.

Phản ngâm về thời gian chủ nhanh, mau; về không gian chủ xa, chủ ngoại địa, chủ bên ngoài. Phản ngâm về sự vật chủ phản phục, lặp đi lặp lại. Thường cũng là hung.

Phản ngâm lợi cho khách. Nếu không chủ động nỗ lực làm hết việc người, thì việc thường đổ vỡ nửa chừng. Đoán hôn nhân thì không thành, cầu tài thì công dã tràng.

Phản ngâm cũng có mặt tốt:

  • Đoán thi đấu thể thao: phản ngâm lợi cho đội khách, đội khách thường thắng.

  • Đoán người đi lạc: phản ngâm thì người có thể về.

  • Đoán mất đồ: phản ngâm có thể tìm lại được.

  • Đoán hình sự phá án: phản ngâm có thể phá án bắt cướp.

  • Đoán bệnh tật: nếu mới mắc bệnh thì phản ngâm sẽ khỏi; nếu bệnh lâu ngày thì phản ngâm rất hung.

Mức độ cát hung của phản ngâm cũng phải kết hợp phân tích cụ thể với sao, cửa, thần, cách cục mà dụng thần lâm đến.

11. Ngũ bất ngộ thời (Năm lần chẳng gặp thời)

Chỉ khi cầu đoán hoặc dùng việc, can của giờ khắc can ngày, và nhất định phải là dương can khắc dương can, âm can khắc âm can. Trong lý mệnh tứ trụ gọi là "thất sát", trong Kỳ Môn gọi là "ngũ bất ngộ thời".

Người xưa có luận: "Ngũ bất ngộ thời, người tướng thệ" – nếu đoán bệnh gặp ngũ bất ngộ thời thì đại hung, bệnh nhân có thể qua đời.

Thực tế chứng minh, khi xuất hành, yết quý, cầu học, cầu hôn, cầu tài, cầu quan, xuất ngoại, nhậm chức... tốt nhất nên tránh ngũ bất ngộ thời. Bằng không, nhẹ thì không thuận, nặng thì có tai ương. Phàm ngũ bất ngộ thời, đại hung, dù được tam kỳ hoặc cát môn cũng không thể dùng.

Khi cầu đoán, nếu gặp ngũ bất ngộ thời thì chưa chắc đã hung. Hơn nữa, ngũ bất ngộ thời chỉ là yếu tố bất lợi xét từ góc độ thời gian. Cát hung cụ thể của sự việc còn phải kết hợp tổng hợp với sao, cửa, thần, cách cục mà dụng thần lâm đến.

12. Đại cách (Cách lớn)

Canh + Quý: trăm việc hung, cầu người không thấy, buôn bán phá sản, xuất hành xe hỏng ngựa chết, chỉ thích hợp truy bắt tội phạm.

13. Thượng cách (Cách trên – còn gọi là Tiểu cách)

Canh + Nhâm: đi xa lạc đường, mưu cầu phá sản, mắc bệnh. Lại gọi là "di đãng cách" (cách lay động dời đổi), đoán công việc thường có biến động.

14. Hình cách (Cách hình)

Canh + Kỷ: chủ quan phủ bị hình phạt, buôn bán phá sản, xuất hành mắc bệnh.

15. Kỳ cách (Cách kỳ)

Canh + (Ất, Bính, Đinh) tam kỳ:

  • Canh + Ất: gọi là "hợp cách".

  • Canh + Bính: gọi là "tặc cách".

  • Canh + Đinh: gọi là "phá cách".

16. Phục cung cách (Cách cung phục)

Canh + Mậu: chủ khách đều bất lợi, cầu người không thấy, đợi người không đến, xuất hành trên đường dễ gặp trộm cướp, hoặc xe gãy ngựa chết, trăm việc chẳng thuận.

17. Phi cung cách (Cách cung bay)

Mậu + Canh: đại hung, đặc biệt bất lợi cho khách. Chiến đấu thì chủ bại vong, đại tướng bị bắt; làm ăn phá sản, phải thu xếp địa phương.

18. Thiên căng tứ trương (Lưới trời giăng bốn)

Quý + Quý: lúc này không thể khởi sự, không thành, trái lại có tai họa.