Diễn giải Kỳ Môn Độn Giáp vận sầu sách hoạch cho trăm việc đời thường
Diễn giải Kỳ Môn Độn Giáp vận sầu sách hoạch cho trăm việc đời thường
Đối với người mới học Kỳ Môn Độn Giáp, việc vận sầu (lập kế hoạch và thao túng) quả thực rất khó đạt được. Trước hết, cần phải học nền tảng của Kỳ Môn, vừa học vừa thực hành, tăng cường sự hiểu biết, ghi nhớ và tổng kết. Trải qua một thời gian rèn luyện, bạn sẽ từ một người ngoại đạo trở nên hiểu biết, rồi nhập môn và cuối cùng là tinh thông. Trong quá trình học và ứng dụng, điều đầu tiên cần làm là nắm bắt Dụng thần. Nếu bắt đúng Dụng thần thì khả năng phân tích sự việc đã đạt được 60%. Sau đó, thông qua phân tích, tỷ lệ chính xác sẽ được nâng cao rất nhiều.
Dụng thần chính là chủ thể của sự việc cần dự đoán. Ví dụ:
Đoán hôn nhân: Với người đã có gia đình, trước hết xem Lục Hợp, Hưu Môn, sau đó là Ất – Canh, ngày can và can hợp với nó. Với người chưa kết hôn: xem can hợp với nhật can, sau đó đến Lục Hợp, Trực Sử, Cảnh Môn... Cần phân rõ chính phụ để giải thích từng chi tiết.
Đoán bệnh: Lấy Thiên Nhuế làm bệnh, xem mối quan hệ tương ứng cần đoán.
Đoán công việc: Xem mối quan hệ giữa cung Dụng thần với Khai Môn, Sinh Môn, v.v.
Một cuộc cục có thể đoán nhiều việc, dựa vào các Dụng thần liên quan trong cục để lần lượt phân tích và giải thích.
Ví dụ: Một người đàn ông hỏi vợ mình đi đâu. Thông tin đầu tiên là Ất rơi vào cung nào, cấu trúc trong cung đó ra sao, rồi phân tích theo tượng. Đã hỏi vợ đi đâu, thì một thông tin khác cho thấy anh ta đang nghi ngờ vợ. Bạn có thể phân tích Ất và Canh mỗi bên rơi vào cung nào. Nếu tương sinh thì vợ chồng hòa thuận; nếu tương khắc thì thường xuyên mâu thuẫn. Các mối quan hệ vợ chồng, gia đình có thể lần lượt phân tích và giải thích thông từ các cung đại diện.
Tiếp theo là luận Chủ - Khách. Phàm mọi việc đều có Âm trong Dương, Dương trong Âm. Người động trước là Chủ, người động sau là Khách; hoặc bàn là Chủ, trời là Khách; người đến là Khách, người ngồi chờ là Chủ. Đều phân theo chủ thể của sự việc. Ví dụ: Bạn đi làm thủ tục nộp tiền hoặc đi khám bệnh. Khi bạn vừa đến, người tiếp là Chủ, bạn là Khách. Khi thủ tục xong hoặc khám xong đi nộp tiền, lúc đó bạn là Chủ, người kia là Khách, vì bạn muốn nộp thì nộp, không muốn thì thôi, bạn có quyền chủ động. Trước và sau cùng một việc, Chủ và Khách cũng có thể thay đổi theo không gian và thời gian. Đó chính là nguyên lý Âm Dương hoán đổi.
Quay lại vấn đề "một cục đoán nhiều việc" đã nói ở trên, điều này cũng bao gồm hướng bức xạ sau khi đoán một cung đơn lẻ. Sau khi đoán một cung cụ thể, có thể bức xạ ra các mối quan hệ liên quan đến cung đó: cung sinh cung này thì có lợi cho tôi, cung khắc tôi thì gây trở ngại, cung tôi sinh là điều tôi đang theo đuổi... qua đó mở rộng hướng tư duy.
Kiến thức Kỳ Môn Độn Giáp | Diễn giải Kỳ Môn Độn Giáp vận sầu sách hoạch cho trăm việc đời thường
【Kỳ Môn chia làm bốn tầng: Trời, Đất, Người, Thần】
Cửu Tinh (Chín sao) đại diện cho Trời. Cửu Tinh rất quan trọng. Ví dụ đoán tài lộc, Cửu tinh của Sinh Môn là sao Thiên Trụ thuộc Kim. Nếu vào mùa Hè, sao Thiên Trụ không được lệnh, Sinh Môn không được thần trợ, do đó tài lộc không tốt. Vào mùa Thu, tài lộc tương đối sẽ vượng hơn. Vì vậy, chúng ta có thể dựa vào đó để phán đoán và chọn thời không điểm tối ưu.
Cửu Tinh nói về ảnh hưởng của thời không. Lực lượng của Cửu Tinh chủ yếu tác động lên năm, tháng, ngày, giờ, sau đó thông qua Tứ Trực tác động lên Cửu Cung, chứ không phải tạo ra lực lượng lên các cửa và thiên can địa chi trong cung. Sao Thiên Bồng ở vị trí cung Khảm, là sao đại hung, bị tù ở bốn quý, tướng (tương đối vượng) vào mùa Đông, vượng vào mùa Xuân. Ví dụ như cầu đoán hôn nhân: Đinh – Nhâm hợp, Đinh ở cung Tốn (Mộc sinh Hỏa) có lợi cho nam, Nhâm ở cung Khôn (Thổ khắc Thủy) không lợi cho nữ; thời cơ này xử lý đối tượng rõ ràng là không tốt. Khi quái cung tiết (làm hao tổn) Dụng thần, để ngăn cản lực tiết của quái cung, có thể chọn thời không chế khắc đối với quái cung để điều chỉnh. Ví dụ: cung Tốn khi gặp sao Thiên Tâm thì bị chế khắc, do đó có thể dùng dưới Tứ Trực tương hòa với Thiên Tâm, như tháng ngày Thân, Dậu. Thông qua tác dụng của Cửu Tinh để làm giảm lực khắc của quái cung lên Dụng thần. Đinh Hỏa có thể đại diện cho cá nhân nhân vật, sự vật, cũng có thể đại diện cho điểm kết nối liên hệ giữa bốn lực lượng Trời – Đất – Người – Thần, có thể thông qua mối quan hệ Đinh – Nhâm, lợi dụng Cửu Tinh làm cho chúng vượng tướng lên.
Cửu Cung (Chín cung) tức là Địa lợi, là gốc rễ của Kỳ Môn Độn Giáp. Cửu Cung lấy trung cung làm đầu mối, bên ngoài gặp tám cung, lại phân làm tám tiết. Chúng ta đều biết Bát Thần biến hóa vô thường, ẩn nấp theo sự biến hóa của Trực Phù, nhưng vẫn ẩn dưới Cửu Cung để lộ ra hành tung. Trong cổ thư, Cửu Cung thuộc tĩnh, thuộc Đất, thuộc thực, thuộc hình, thuộc mẫu. Trời động Đất tĩnh, mà con người có cơ động – tĩnh; Trời sinh Đất thành, mà sự việc có biến hóa từ đầu đến cuối. Cho nên nói Trời là khởi đầu, Đất là kết thúc, thành bại quyết định ở Cửu Cung.
Cửu Cung chủ yếu dùng để điều chỉnh địa lý. Ví dụ: Quý Thủy rơi vào cung Chấn, cá nhân phải gánh vác trách nhiệm cho địa phương. Chỗ này có thể dùng Kim sau đó dùng Thổ bố cục để hóa giải, ví dụ đặt một miếng vải vàng có bọc Ngũ Đế Tiền. Bởi vì Quý Thủy sinh Ất Mộc, cung Chấn lại là Mộc, rồi Mộc sinh Hỏa (sao Thiên Anh, Cảnh Môn), Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, tạo thành mối quan hệ sinh tương sinh tuần hoàn để hóa giải về mặt địa lợi.
Bát Môn (Tám cửa) nói về việc điều lý nhân sự. Ví dụ: Khai Môn ở Tây Bắc, ngũ hành thuộc Kim, là cửa đại cát. Cổ ngữ: Phàm được Khai Môn, gặp quan thì đắc quan, làm việc thì vui vẻ, đại diện cho sự khởi đầu, khai sáng, lãnh đạo.
Trong cung Chấn có Cảnh Môn, với Quý Thủy là thủy hỏa bất dung, rõ ràng về mặt địa lợi chỗ này cần điều chỉnh. Cảnh Môn đại diện cho phụ nữ trung niên. Do đó, phụ nữ trung niên ở chỗ này sẽ ảnh hưởng đến sự nghiệp của bạn, cần phải dời Cảnh Môn đi nơi khác. Ví dụ: Cô ta là bạn thân với lãnh đạo (lãnh đạo là Khai Môn), hãy dùng lãnh đạo để chế ngự cô ta. Lại vì Khảm Thủy đại diện cho lãnh đạo cấp trung, cô ta sợ vị lãnh đạo đó, do đó có thể dùng lãnh đạo cấp trung để đối phó. Giả sử bạn tham gia kỳ thi về công việc, Cảnh Môn đại diện cho trở ngại đầu tiên của bạn, chỉ cần xử lý được người mà Cảnh Môn đại diện, bạn có thể vượt qua một cách thuận lợi. Phương pháp hóa giải là tìm người có khắc chế đối với Cảnh Môn.
Nguyên tắc phá giải của Kỳ Môn là: sao đối sao, cung đối cung, môn đối môn (người đối người). Vấn đề về địa lý thì dùng địa lý để hóa giải; hóa giải về thời không (sao đối sao) thì từ thời không mà tiến hành hóa giải. Ví dụ: Hưu Môn đại diện cho người trong cửa quan, Cảnh Môn trong cung Chấn là kẻ phá hoại. Hưu Môn đại diện cho sông hồ nước, đại diện cho đồ thủy sản, những thứ có tính lưu động mạnh, rượu nước... Do đó, chúng ta có thể mời phụ nữ trung niên mà Cảnh Môn đại diện đi uống rượu, mua cá để hóa giải. Đó chính là phương thức hóa giải nhân sự.
Thần trợ không có vượng suy, chủ yếu đóng vai trò phụ trợ. Thông thường chúng ta đốt hương, niệm Phật chính là thần trợ. Cuối cùng nói về tác dụng của Bát Thần.
Trong Bát Thần, trước hết coi trọng Trực Phù. Trực Phù là thủ lĩnh của Bát Thần, là lãnh tụ của Cửu Tinh. Trực Phù ẩn dưới Mậu – Kỷ Thổ. Nếu dưới Trực Phù gặp Canh, Canh cũng không thể phát huy tác dụng, bị Trực Phù áp chế. Ba kỳ Ất, Đinh, Bính chủ yếu là để phát huy tác dụng cho Trực Phù, chứ không thể điều chỉnh vận thế của bạn. Thông qua mối quan hệ của chúng để dẫn động Trực Phù, nhờ Trực Phù giúp bạn. Trong Kỳ Môn, Cửu Thiên, Cửu Địa, Trực Phù, Thái Âm, Lục Hợp là những vị cát lành. Mỗi vị có công dụng riêng:
Điều chỉnh nhân sự quan hệ, công việc, chức vị thì dùng Trực Phù.
Điều động công việc đi xa thì dùng Cửu Thiên.
Người già bệnh muốn sống thêm vài ngày thì có thể dùng Thái Âm để điều giải. Đây là nhân tố duy nhất then chốt để thoát tử trường sinh.
Cửu Địa và Thái Âm có cách dùng hơi giống nhau. Điểm khác là Cửu Địa quản việc dương gian, Thái Âm quản việc âm gian.
Lục Hợp là người hòa giải, trung gian.
