ĐỘN GIÁP DIỄN NGHĨA – PHẦN 1

ĐỘN GIÁP DIỄN NGHĨA – PHẦN 1

LỜI NÓI ĐẦU

《Độn Giáp Diễn Nghĩa》 gồm bốn quyển, do Trình Đạo Sinh đời nhà Minh soạn. Trình Đạo Sinh tự là Khả Sinh, người huyện Hải Ninh, tỉnh Chiết Giang. Cuộc đời của ông không rõ. Trong sách thường trích dẫn các niên hiệu Gia Tĩnh, Vạn Lịch đời Minh, muộn nhất là năm Vạn Lịch thứ 42 (năm 1613), do đó có thể thấy sách này được viết vào cuối đời Minh. Đời nhà Thanh, sách được đưa vào 《Tứ Khố Toàn Thư》, sau đó có bản in Tứ Khố Trân Bản.

Xét theo ý nghĩa của tên sách 《Độn Giáp Diễn Nghĩa》, có thể suy ra đây là tác phẩm thuật số nhằm trình bày và mở rộng nghĩa lý của Kỳ Môn Độn Giáp. Sách này khái quát nghĩa lý của Độn Giáp tương đối toàn diện và rõ ràng, có thể coi là đại diện cho các tác phẩm Độn Giáp thời Minh – Thanh.

Các nhà thuật số thường truy nguyên nguồn gốc của Độn Giáp đến thời Hoàng Đế, Huyền Nữ, Chu Công Đán và Hán Trương Tử Phòng. Nhưng xét về mặt xây dựng lý luận Độn Giáp một cách chân chính, có lẽ phải đến cuối thời Nam – Bắc triều mới bắt đầu hoàn thiện, với các tác phẩm 《Độn Giáp Kinh》 của Tín Đô Phương và 《Tam Nguyên Độn Giáp Đồ》 của Cát Bí ra đời. Đến đời Đường tiếp tục phát triển, và phát triển đến cao trào vào thời Hai Tống (Bắc Tống, Nam Tống). Vào thời Tống Nhân Tông, Dương Duy Đức là đại diện đã hệ thống hóa và tổng kết lý luận Nhâm thức trước đó. Nhưng từ khi Trần Đoàn, Thiệu Ung phát hiện ra quan niệm Dịch học Tiên Thiên và Hậu Thiên, đã thúc đẩy lý luận Độn Giáp có sự biến đổi, đồng thời dung hợp cả phù triện của Đạo gia, khiến nó phát triển theo hướng kỳ quái.

Độn Giáp và Lục Nhâm có điểm thông nhau, chỉ là mỗi bên có chỗ chú trọng khác nhau. Độn Giáp được người đời dùng nhiều hơn trong quân sự, nó trích dẫn nhiều hơn các khái niệm về thiên văn và tiết khí. Dựa trên cơ sở Cửu Cung, phối hợp với Tam Kỳ, Lục Diệu, Bát Môn, Cửu Tinh, xem xét sự cát hung của chúng khi gia lâm, rồi phối hợp với Cửu Cung để khởi Phù và Sứ, làm phương pháp hoạt động, xu hướng tránh dữ. Trích dẫn nhiều chú ngữ phù triện của Đạo gia là một đặc điểm của 《Độn Giáp Diễn Nghĩa》《Tứ Khố Toàn Thư Đề Yếu》 nói: "Bộ sách này lời lẽ cô đọng, về việc dùng kỳ, đặt nhuận đều khá đầy đủ. Đến phần luận về bản mệnh hành niên, cho rằng muốn thừa cát tinh sinh vượng trong cuộc cục, thuyết này cũng là điều chưa có trong các sách khác." Sách này không lấy phép bàn binh trong 《Độn Giáp Phù Ứng Kinh》, cho nên được người sau nói về Độn Giáp thường dùng.


ĐỘN GIÁP DIỄN NGHĨA – QUYỂN 1

ĐỘN GIÁP NGUỒN GỐC

Xưa kia, Hoàng Đế bắt đầu sáng tạo ra Kỳ Môn, pháp 4320 cục, đó là theo năm, chia Bát quái làm 8 tiết, mỗi tiết có 3 khí, một năm có khoảng 24 khí. Mỗi khí có Tam hậu (Thiên, Địa, Nhân), một năm có khoảng 72 hậu. Mỗi hậu có 5 ngày, một năm có khoảng 360 ngày. Mỗi ngày có 12 giờ, một năm có khoảng 4320 giờ. Mỗi giờ một cục, cho nên Kỳ Môn có 4320 cục.

Phong Hậu chế ra Kỳ Môn thành 1080 cục: lấy Đông Chí dương sinh, khởi từ 4 quẻ Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, thống 12 khí, hậu kế 36, phân cục 540, làm Dương Độn; lấy Hạ Chí âm sinh, khởi từ 4 quẻ Ly, Khôn, Đoài, Càn, thống 12 khí, hậu kế 36, phân cục 540, làm Âm Độn. Hợp Âm Dương nhị độn thành 1080 định cục. Đây là gộp 4 hậu cùng xem 60 giờ định cục, bốn cái 1080 định cục thì vẫn là 4320 cục.

Thái Công (Khương Tử Nha) thông hiểu binh pháp, giỏi bày Kỳ Môn, dùng Bát quái chia 8 tiết, mỗi tiết chia 3 khí, mỗi khí chia 3 hậu, một năm kế 72 hậu, lập 72 hoạt cục, mỗi cục 60 giờ, 72 cục kế 4320 giờ.

Hán Trương Tử Phòng (Trương Lương) cắt giảm, lấy Đông Chí 12 khí, chia 36 hậu, gộp 4 hậu làm Dương Độn 9 cục. Lấy Hạ Chí 12 khí, chia 36 hậu, gộp 4 hậu làm Âm Độn 9 cục. Phương pháp hoạt đồ này càng tiện lợi hơn.

Phàm 18 cục và 72 cục đều không vượt ra ngoài 1080 cục. Làm cứng cục thì đều là 1080 cục; làm hoạt cục thì có 72 cục, 18 cục. Tuy nhiên, 18 cục tuy đơn giản, nhưng dùng tinh, nghi, phù, sứ của Kỳ Môn, đều định sẵn bố trí trong cục, thì số khóa 4320 hiện rõ trước mắt, điều chưa làm chỉ là việc gia lâm mà thôi. Nếu muốn gia lâm, chỉ cần theo cục đã định, xoay đúng hai bàn, thì khóa sẽ thành. Cho nên pháp của Phong Hậu là vạn đời không thay đổi.


NIÊN GIA KỲ MÔN (Kỳ Môn Năm)

Thượng nguyên khởi Giáp Tý tại cung 1 (Khảm), Trung nguyên khởi Giáp Tý tại cung 4 (Tốn), Hạ nguyên khởi Giáp Tý tại cung 7 (Đoài). Đều nghịch phi Lục nghithuận bố Tam kỳ. Theo trong Tam nguyên, mỗi năm can chi, xét ở trong tuần Giáp nào, thì lấy đầu Giáp đó làm Trực Phù, cửa trên phù làm Trực Sứ. Đem sao Trực Phù đầu Giáp, xoay theo năm can, Trực Sứ theo năm chi nghịch phi, xét phương hướng, thấy Kỳ Môn đến thì tốt.

Từ năm Giáp Tý thứ 43 niên hiệu Gia Tĩnh (1564) khởi Đỗ môn, mười năm dời một lần, đến năm Giáp Ngọ Vạn Lịch (1594) dời sang Hưu môn.

Tam nguyên niên độn: Thượng nguyên 60 năm, dùng Âm Độn 1 cục thêm vào; Trung nguyên 60 năm, dùng Âm Độn 4 cục thêm vào; Hạ nguyên 60 năm, dùng Âm Độn 7 cục thêm vào.


NGUYỆT GIA KỲ MÔN (Kỳ Môn Tháng)

Phân cục theo Tam nguyên:

  • Gặp Giáp Kỷ ở Tứ Mạnh (Dần, Tỵ, Thân, Hợi) là Thượng nguyên, khởi Giáp Tý ở cung 1 (Khảm).

  • Gặp Giáp Kỷ ở Tứ Trọng (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) là Trung nguyên, khởi Giáp Tý ở cung 7 (Đoài).

  • Gặp Giáp Kỷ ở Tứ Quý (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) là Hạ nguyên, khởi Giáp Tý ở cung 4 (Tốn).

Đều nghịch bố Lục nghithuận bố Tam kỳ. Mỗi một nguyên quản 5 năm.

Phàm suy nguyệt kỳ môn, trước hết xét năm ấy ở trong nguyên nào, theo trên bố môn, bay kỳ, sau đó suy nguyệt kiến của năm ấy, thuộc về đầu Giáp nào làm Trực Phù, dò dưới địa bàn nguyệt can, xoay cửa trên phù làm Trực Sứ, theo nguyệt chi bay tới, xem phương hướng, được Kỳ Môn đến thì rất lợi.

Từ tháng 11 năm Giáp Tý thứ 42 niên hiệu Gia Tĩnh (1563) khởi Hưu môn tại Khảm, ba tháng dời một lần, đến tháng 11 năm Giáp Tý thứ 41 niên hiệu Vạn Lịch (1613), khởi Hưu môn tại Khảm.

Tam nguyên nguyệt độn, dùng Ngũ Hổ độn (tháng) để đối chiếu với nguyệt kiến, lục thập niên độn, ba kỳ Ất, Bính, Đinh và tám môn phương vị đều giống.


NHẬT GIA KỲ MÔN (Kỳ Môn Ngày)

Chia Âm Dương nhị độn, theo tiết khí suy sắp, ba ngày một cục. Thuận hành Lục Giáp, tuần hoàn trở lại. Hưu, Khai, Sinh, Cảnh là cát, được sinh vượng, hợp với Tam Kỳ gia lâm thì càng lợi.

Khởi quyết:

  • Giáp, Mậu, Nhâm, Tý ở Khảm.

  • Đinh, Tân, Ất, Mão ở Khôn.

  • Canh, Giáp, Mậu, Mã ở Chấn.

  • Đinh, Quý, Tân, Kê ở Tốn.

  • Canh, Bính, Thử ở Càn.

  • Kỷ, Quý, Mão đi Tây (Đoài).

  • Bính, Nhâm, Xích Mã ở Cấn.

  • Ất, Tỷ, Kê bay Ly.

Phương pháp: từ cung Khảm khởi Giáp Tý, mỗi ba ngày đổi một lần, thuận phi tám phương, không nhập Trung Ngũ. Xem ngày đó đến cung nào, thì khởi Hưu môn, thuận lượn một vòng, ba cửa cát đến phương tiện thì xuất hành, làm việc tốt.

Ví dụ:

  • Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần: ở Khảm.

  • Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ: ở Khôn.

  • V.v… Các trường hợp khác suy theo đây.

Cụ thể:

  • Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần: Hưu môn ở Khảm.

  • Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ: ở Khôn.

  • Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân: ở Chấn.

  • Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi: ở Tốn.

  • Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần: ở Càn.

  • Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ: ở Đoài.

  • Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân: ở Cấn.

  • Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi: ở Ly.

  • Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần: ở Khảm.

  • Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ: ở Khôn.

  • Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân: ở Chấn.

  • Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi: ở Tốn.

  • Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần: ở Càn.

  • Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tỵ: ở Đoài.

  • Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân: ở Cấn.

  • Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi: ở Ly.

  • Nhâm Tý, Quý Sửu, Giáp Dần: ở Khảm.

  • Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ: ở Khôn.

  • Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân: ở Chấn.

  • Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi: ở Tốn.

  • Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần: lại khởi từ cung Khảm.

Cứ ba ngày dời một lần.

Niên cát không bằng nguyệt cát, nguyệt cát không bằng nhật cát, nhật cát không bằng thời cát. Kết hợp với nhật cát thì càng tốt.


THỜI GIA KỲ MÔN (Kỳ Môn Giờ)

Ví dụ: Dương Độn 1 cục:

  • Giáp Tý ở Khảm: Thiên Bồng làm Trực Phù, Hưu môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ, đến Quý Dậu hết.

  • Giáp Tuất ở Khôn: Thiên Nhuế làm Trực Phù, Tử môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ, đến Quý Mùi hết.

  • Giáp Thân ở Chấn: Thiên Xung làm Trực Phù, Thương môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ, đến Quý Tỵ hết.

  • Giáp Ngọ ở Tốn: Thiên Phụ làm Trực Phù, Đỗ môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ, đến Quý Mão hết.

  • Giáp Thìn ở cung 5 (Trung cung): Thiên Cầm làm Trực Phù, Tử môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ, đến Quý Sửu hết.

  • Giáp Dần ở Càn: Thiên Tâm làm Trực Phù, Khai môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ, đến Quý Hợi hết.

Đây là Dương Độn 1 cục, 5 ngày 60 giờ đủ. Các trường hợp khác suy theo đây.

  • Ất kỳ ở Ly, Bính kỳ ở Cấn, Đinh kỳ ở Đoài. Đó là Dương Độn: nghi thuận, kỳ nghịch.

  • Giáp Thìn (Trung cung) ký thác ở cung Khôn (2).

Ví dụ: Âm Độn 9 cục:

  • Giáp Tý ở Ly: Thiên Anh làm Trực Phù, Cảnh môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ, một lần đổi.

  • Giáp Tuất ở Cấn: Thiên Nhâm làm Trực Phù, Sinh môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ.

  • Giáp Thân ở Đoài: Thiên Trụ làm Trực Phù, Kinh môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ.

  • Giáp Ngọ ở Càn: Thiên Tâm làm Trực Phù, Khai môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ.

  • Giáp Thìn ở Trung cung: Thiên Cầm làm Trực Phù, Tử môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ.

  • Giáp Dần ở Tốn: Thiên Phụ làm Trực Phù, Đỗ môn làm Trực Sứ, quản 10 giờ.

Đây là Âm Độn 9 cục, 5 ngày 60 giờ đủ. Các trường hợp khác suy theo đây.

  • Đinh kỳ ở Chấn, Bính kỳ ở Khôn, Ất kỳ ở Khảm. Đó là Âm Độn: kỳ thuận, nghi nghịch.