ĐỘN GIÁP DIỄN NGHĨA - QUYỂN 3

ĐỘN GIÁP DIỄN NGHĨA - QUYỂN 3

CỬU TINH SỞ THUỘC

  • Đại ích khu kinh Thiên Phụ Vũ Khúc Kỷ Tinh (Sao Vũ Khúc, chủ về văn hóa)

  • Chấp khánh cương ngật Thiên Cầm Liêm Trinh Cương Tinh (Sao Liêm Trinh, chủ về trung chính)

  • Tổng cương tinh liên trú tổng thừa phù nguyên Thiên Tâm Văn Khúc Nữu Tinh (Sao Văn Khúc, chủ về trí tuệ)

  • Ngưng cách hảo hóa Thiên Xung Phá Quân Quan Tinh (Sao Phá Quân, chủ về xông pha)

  • Anh minh tập cách Thiên Nhâm Tinh (Sao Nhâm, chủ về đức độ)

  • Âm tập đại diễn Thiên Bồng Ẩn Quang Hữu Bật Tinh (Sao Hữu Bật, chủ về ẩn náu)

  • Dương điệt phu khánh Thiên Nhuế Động Minh Tả Phụ Tinh (Sao Tả Phụ, chủ về trợ giúp)

  • Chiếu trung huân lệnh Thiên Anh Tham Lang Thái Tinh (Sao Tham Lang, chủ về tham vọng)

  • Thông huyền tu biến Thiên Trụ Lộc Trinh Tinh Tinh (Sao Lộc Tồn, chủ về kiên cố)

《Tam Nguyên Kinh》 nói: Sao Phụ, Cầm, Tâm là thượng cát; sao Xung, Nhâm là thứ cát, lẽ cần phân minh. Đại hung là sao Bồng và Nhuế; tiểu hung là sao Trụ và Anh. Lại luận về ngũ hành vượng tướng khí, cát hung nặng nhẹ tự nhiên phân ra. Đại hung gặp vượng tướng thì hung giảm nhỏ; tiểu hung gặp vượng tướng gọi là trung bình. Sao cát gặp vượng tướng thì cát vô cùng; nếu không có khí thì cũng trung bình. Phàm sao tốt cũng cần gặp vượng tướng, nếu gặp hưu tù phế một (không còn khí), cũng không thể dùng. Kinh nói: Nếu sao thượng cát, thứ cát không có khí vượng, thì trung bình; cưỡi khí vượng tướng thì đại cát; cưỡi khí tử, hưu, tù, phế thì thành hung. Nên dùng ý để xét mà dùng. Chín sao hưu vượng: Mỗi sao vượng ở tháng cùng loại (đồng hành); tướng ở tháng sinh ra nó; hưu ở tháng nó sinh; tù ở tháng khắc nó (quan quỷ); tử ở tháng nó khắc (thê tài). Ngày, giờ cũng vậy.

NGŨ HÀNH VƯỢNG TƯỚNG HƯU TÙ

  • Mộc: Vượng Đông, tướng Bắc, hưu Nam, tù Tây.

  • Hỏa: Vượng Nam, tướng Đông, hưu Tây, tù Bắc.

  • Kim: Vượng Tây, tướng Nam, hưu Bắc, tù Đông.

  • Thủy: Vượng Bắc, tướng Tây, hưu Đông, tù Nam.

  • Thổ: Vượng ở bốn góc (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), không nơi nào không dùng được.

CỬU TINH - VƯỢNG, TƯỚNG, HƯU, TÙ, PHẾ

 
 
SaoHànhVượngTướngHưuPhế
Thiên BồngThủyHợi, TýDần, MãoThân, DậuTỵ, NgọThìn, Tuất, Sửu, Mùi
Thiên Nhuế, Thiên Cầm, Thiên NhâmThổThìn, Tuất, Sửu, MùiThân, DậuTỵ, NgọHợi, TýDần, Mão
Thiên Xung, Thiên PhụMộcDần, MãoTỵ, NgọHợi, TýThìn, Tuất, Sửu, MùiThân, Dậu
Thiên AnhHỏaTỵ, NgọThìn, Tuất, Sửu, MùiDần, MãoThân, DậuHợi, Tý
Thiên Trụ, Thiên TâmKimThân, DậuHợi, TýThìn, Tuất, Sửu, MùiDần, MãoTỵ, Ngọ

CHI TIẾT CÁC SAO

Thiên Bồng, tên Tử Cầm. Nên an ủi biên cương, tu bổ thành trì. Xuân hè xuất binh đại thắng, thu đông hung vong. Lính tráng lợi cho chủ, không lợi cho khách. Cưới hỏi đều hung, dời nhà mất lửa, đấu tranh thấy huyết quang, vào cung lửa trộm cướp, sửa sang cung thất, buôn bán đều hung.

Tụng đình cạnh tranh gặp Thiên Bồng, thắng tiệp uy linh vạn lý đồng.
Xuân hạ dùng chi đều đại cát, thu đông dùng thử tối vi hung.
Cưới hỏi viễn hành ưng tiểu lợi, táng mai tu tạo diệc nhàn không.
Tu đắc Sinh môn đồng Bính Ất, đồng chi vạn sự đắc xương vinh.

Thiên Nhuế, tên Tử Thành. Nên sùng thượng đạo đức, kết giao bạn bè. Thụ nghiệp sư trưởng tốt, không thể dùng binh, cưới hỏi, kiện tụng, dời nhà, xây phòng. Thu đông tốt, xuân hè hung.

Thụ đạo kết giao nghi Nhuế tinh, hành phương trực thử tối nan minh.
Xuất hành dụng nghiệp nghi tiên thoái, tu tạo an phần phát họa hình.
Đạo tặc ưu hoàng kinh tiểu khẩu, cánh nghi nhân sự hoạnh quan phi.
Túng đắc kỳ môn tòng thử túc, cầu kỳ cát sự dã hư danh.

Thiên Xung, tên Tử Kiều. Nên ra báo thù. Xuân hè binh tướng thắng, thu đông vô công. Không nên cưới hỏi, dời nhà, vào quan, xây phòng, tế tự, buôn bán.

Cưới hỏi an dinh sản nữ kinh, xuất hành di dật ngộ tao truân.
Tu tạo mai táng giai bất lợi, vạn ban tác sự thả tuần trì.

Thiên Phụ, tên Tử Khanh. Nên vỗ thân giữ đạo, lập giáo sửa sang. Xuất binh xuân hè thắng, được đất ngàn dặm. Cưới hỏi nhiều con cháu, lợi di dời, vào chợ, vào quan, tu sửa. Xuân hè có hỷ.

Thiên Phụ chi tinh viễn hành lương, táng mai khởi tạo phúc thêm dài.
Thượng quan di dật giai cát lợi, hỷ ích nhân tài vạn sự xương.

Thiên Cầm, tên Tử Công. Nên tế tự cầu phúc, đoạn tuyệt bầy hung. Xuất binh bốn mùa đều tốt, trăm phù trợ giúp. Không đánh mà dùng mưu, kẻ địch sợ phục. Thưởng công, phong tước, dời nhà, vào quan, tế tự, buôn bán, cưới hỏi đều tốt.

Thiên Cầm viễn hành thiên lợi, ngồi bán đi buôn đều xứng ý.
Đầu yết quý nhân lưỡng ích hoài, càng kiêm tạo táng giai phong toại.

Thiên Tâm, tên Tử Tương. Nên chữa bệnh pha thuốc. Xuất binh thu đông thắng, được đất ngàn dặm, xuân hè bất lợi. Cưới hỏi, vào quan, xây phòng, tế tự, buôn bán: thu đông tốt, xuân hè hung. Lợi gặp người quân tử, không lợi cho kẻ tiểu nhân.

Cầu tiên hợp dược kiến Thiên Tâm, thương đồ lữ phúc hựu hoàn tân.
Hựu tương thiên táng giai nghi lợi, vạn sự phùng chi phúc lộc thâm.

Thiên Trụ, tên Tử Trung. Nên giữ vững, tự vững, ẩn tích. Xuất binh xe thương lính chết, không nên dời nhà, vào quan, buôn bán. Nên cưới hỏi, tu tạo, tế tự.

Thiên Trụ tàng hình cẩn thủ trực, bất tu viễn xuất cập doanh vi.
Vạn chủng sở mưu giai lợi ích, viễn hành tòng khứ kiến tai nguy.

Thiên Nhâm, tên Tử Vi. Nên yết kiến, thông tài. Xuất binh bốn mùa đều tốt, vạn thần trợ giúp, kẻ địch tự hàng. Cưới hỏi nhiều con cháu, vào quan tốt. Dời nhà, xây phòng hung.

Thiên Nhâm cát túc sự giai thông, tế tự cầu quan cưới hỏi đồng.
Đoạn tuyệt quần hung di dật sự, thương cổ tạo táng hỷ trùng trùng.

Thiên Anh, tên Tử Uy. Nên ra vào viễn hành, uống tiệc vui chơi có lợi. Không nên cưới hỏi, xuất binh, dời nhà, vào cung, xây phòng, tế tự, buôn bán.

Thiên Anh chi tinh cưới hỏi hung, viễn hành di dật bất nghi phùng.
Thượng quan văn vũ giai nghi khứ, thương cổ cầu tài tổng thị không.

THIÊN PHỤ CHI THỜI (Thời điểm của sao Thiên Phụ)

《Tam Nguyên Kinh》 nói: Vào thời Thiên Phụ, có tội cũng không nghi ngờ, rìu búa ở trước mặt, trời còn tha thứ. Lúc này có tội đều có thể tự giải thoát. Cụ thể:

  • Ngày Giáp Kỷ: giờ Kỷ Tỵ

  • Ngày Ất Canh: giờ Giáp Thân

  • Ngày Bính Tân: giờ Giáp Ngọ

  • Ngày Đinh Nhâm: giờ Giáp Thìn

  • Ngày Mậu Quý: giờ Giáp Dần

Đó là thời Thiên Phụ.

 

ĐỘN GIÁP LỢI CHO KHÁCH

Kinh nói: Sao ở Thiên Bàn khắc sao ở Địa Bàn, vào thời điểm ngày giờ có vượng tướng của bốn mùa, có khí mây ngũ sắc từ phương của mình đến trợ giúp, thì khách thắng. Sao ở Địa Bàn khắc sao ở Thiên Bàn, vào thời điểm ngày giờ có vượng tướng của bốn mùa, có khí mây ngũ sắc từ các phương đến trợ giúp, thì chủ thắng.

  • Thiên Bồng (sao Thủy) gia cung số 9 (Ly, Hỏa) lợi làm khách. Nếu vào tháng mùa thu đông, ngày Nhâm, Quý, Hợi, Tý lâm trận, có khí mây đen từ phương Bắc đến trợ chiến, khách đại thắng.

  • Thiên Trụ, Thiên Tâm (sao Kim) gia cung số 3 (Chấn, Mộc) và số 4 (Tốn, Mộc) lợi làm khách. Nếu vào tháng mùa thu và cuối mùa hè, ngày Canh, Tân, Thân, Dậu lâm trận, có khí mây trắng từ phương Tây đến trợ chiến, đại thắng.

  • Thiên Nhâm, Thiên Cầm, Thiên Nhuế (sao Thổ) gia cung số 1 (Khảm, Thủy) lợi làm khách. Nếu vào các tháng cuối mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), ngày Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi lâm trận, có khí mây vàng từ phương Đông Bắc đến trợ chiến, khách đại thắng.

  • Thiên Anh (sao Hỏa) gia cung số 7 (Đoài, Kim) lợi làm khách. Nếu vào tháng mùa xuân hè, ngày Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ lâm trận, có khí mây đỏ từ phương Nam đến trợ chiến, khách thắng.

ĐỘN GIÁP LỢI CHO CHỦ

  • Thiên Anh (Hỏa) gia cung số 1 (Khảm, Thủy) lợi làm chủ. Nếu vào tháng mùa thu đông, ngày Nhâm, Quý, Hợi, Tý, có khí mây đen từ chính Bắc đến trợ chiến, chủ đại thắng.

  • Thiên Nhâm, Thiên Cầm, Thiên Nhuế (Thổ) lâm cung số 3 (Chấn, Mộc) và số 4 (Tốn, Mộc) lợi làm chủ. Nếu vào tháng mùa đông và mùa hè, ngày Giáp, Ất, Dần, Mão, có mây xanh từ Đông Nam và chính Đông đến trợ chiến, chủ đại thắng.

  • Thiên Bồng (Thủy) gia cung số 8 (Cấn, Thổ) lợi làm chủ. Nếu vào các tháng cuối mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), ngày Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có khí mây vàng từ Đông Bắc và Tây Nam đến trợ chiến, chủ thắng.

  • Thiên Phụ, Thiên Xung (Mộc) gia cung số 6 (Càn, Kim) và số 7 (Đoài, Kim) lợi làm chủ. Nếu vào cuối mùa hè và mùa thu, ngày Canh, Tân, Thân, Dậu, có khí mây trắng từ chính Tây và Tây Bắc đến trợ chiến, chủ thắng.

  • Thiên Trụ, Thiên Tâm (Kim) gia cung số 9 (Ly, Hỏa) lợi làm chủ. Nếu vào tháng mùa xuân hè, ngày Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ, có khí mây đỏ từ chính Nam đến trợ chiến, chủ đại thắng.

CỬU TINH - GIỜ TÝ - KHẮC ỨNG (Ứng nghiệm theo thời gian)

Thiên Bồng trị giờ Tý: Phần lớn bất lợi cho vào nhà, an mộ, lên quan, đặt huyệt, chủ có miệng lưỡi tranh tụng. Lúc tác động, có tiếng gà gáy, chó sủa, chim đêm náo loạn rừng, hoặc chim phương Bắc tranh nhau bay. Tạo táng sau chủ có người môi hở (sứt môi). Đến 60 ngày ứng nghiệm gà đẻ trứng thịt, có quan tụng đến, chủ lui tài.

Thiên Nhuế trị giờ Tý: Dùng vào mùa thu đông tốt, xuân hè hung. Không thể dùng. Lúc tác động, chủ có chim thú bay chạy kinh hãi, phía Tây Nam có lửa, hai người đuổi nhau làm ứng nghiệm. Tạo táng sau, chủ có mèo con, chó điên làm bị thương người, việc quan phát. Trong 60 ngày có đàn bà tự vẫn. Dùng vào mùa thu đông thì tiến người họ (thuộc âm trầm), ruộng đất và vợ con.

Thiên Xung trị giờ Tý: Chủ có gió lớn mưa đến, chim tiên kêu, chuông vang làm ứng. Tạo táng sau 60 ngày có vật có sinh khí vào nhà, một năm lúa tằm thu gấp đôi, phải phòng đàn bà mới sinh chết. Tốt do miệng lưỡi được tài.

Thiên Phụ trị giờ Tý: Nếu phản ngâm, chủ trên trời có vật che, phía Tây người mặc áo đỏ trắng chạy đến la lớn làm ứng. Tạo táng sau 60 ngày tiến người họ (thuộc thương âm), của cải, vượn rừng vào nhà, nồi hấp kêu, chủ thăng quan tiến lộc, sinh quý tử. Nếu môn kỳ cùng đến, có 12 năm đại vượng.

Thiên Cầm trị giờ Tý: Chủ có người đàn bà có thai đến, và người mặc áo tía đến làm ứng. Tạo táng sau 60 ngày, gà lên rào, chó ngậm hoa, người theo nho giáo gửi đồ đến làm ứng. Chủ do võ được quan, tiến ruộng đất, của cải, 20 năm sau tài lộc đại vượng, nhân đinh nghìn miệng.

Thiên Tâm trị giờ Tý: Chủ có người tranh đấu, tiếng trống từ Tây Bắc đến làm ứng. Tạo táng sau 100 ngày, người mặt đỏ làm môi giới, tiến người họ (thuộc thương âm), đồ cổ và trục vẽ, trong nhà sinh gà trắng, 12 năm trong lúa tằm đại vượng, sau vì cờ bạc, kiện tụng phá tài.

Thiên Trụ trị giờ Tý: Lúc tác động chủ có gió lớn nổi lên bốn phía, lửa từ Đông đến, người môi hở làm ứng. Tạo táng sau 60 ngày, chủ có rắn chó làm bị thương người, gặp dao gươm giết người, máu me phá tài.

Thiên Nhâm trị giờ Tý: Lúc tác động chủ có mưa gió đến, ven nước gà gáy, phía Đông Nam có người cầm dao gặp làm ứng. Tạo táng sau 100 ngày, chủ có vợ mới tự bỏ đi, người có râu ba sợi và người họ Mộc đến nhà, ăn vạ, thoái thổ sản, sinh con trai trộm cắp, con gái dâm ô.

Thiên Anh trị giờ Tý: Lúc tác động có tiếng thanh la từ Tây Bắc đến, và ba năm người cầm đuốc chặt cây làm ứng. Tạo táng sau, chủ có người tật lưỡi phá gia nghiệp, trong ba năm máu me tự vẫn, con nhỏ chết vì nước sôi lửa.

CỬU TINH - GIỜ SỬU - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng trị giờ Sửu: Chủ cây đổ đè người, có sấm sét làm, và mưa gió làm ứng. Tạo táng sau 7 ngày, gà đẻ trứng ngỗng, chó lên mái nhà, chủ mất trẻ nhỏ. Ba năm sau ông già đầu bạc làm môi giới, tiến người họ (thương âm), ruộng nợ, đại vượng tài lúa, mười năm sau thì suy bại.

Thiên Nhuế trị giờ Sửu: Lúc tác động có tiếng trống vàng từ Tây Bắc đến. Tạo táng sau 7 ngày, có rùa từ trong rừng ra, 60 ngày bị trộm cướp lui tài, miệng lưỡi quan sự đến.

Thiên Xung trị giờ Sửu: Lúc tác động chủ mây mù kéo đến, trẻ con kéo đến thành đàn, và đàn bà làm ứng. Tạo táng sau mèo đen sinh con trắng, nhặt được gương cổ phát tài, một năm được sư sãi, ruộng nợ, sinh quý tử.

Thiên Phụ trị giờ Sửu: Lúc tác động chủ phía Đông có chó sủa, có người cầm dao giết người đánh nhau la hét. Tạo táng sau có thỏ trắng, gà rừng vào nhà, trong 60 ngày, sư sãi gửi đồ, và người họ (vũ âm) phía Đông Nam gửi văn khế đến, tin người đi xa về, một năm thêm người, đại vượng tài huyết (lục súc), thăng quan tiến lộc.

Thiên Cầm trị giờ Sửu: Có đàn bà hiếu đeo đồ thiếc đến, trẻ con vỗ tay cười, thổi sáo đánh trống la hét làm ứng. Tạo táng sau đánh bạc được tài, hoặc nhặt được chum vàng phát tài, ba năm sau nhờ bắt trộm cướp mà giàu.

Thiên Tâm trị giờ Sửu: Lúc tác động phía Bắc có thợ mộc cầm rìu đến, trên cây mọc hoa vàng làm ứng. Tạo táng sau 60 ngày, tiến người họ (vũ âm) đồ vàng bạc, ba năm sau bị hỏa hoạn, nghèo đến xương tủy, ra vào nghịch rắn chơi chó.

Thiên Nhâm trị giờ Sửu: Lúc tác động có đàn bà áo xanh mang rượu đến, bốn phía có tiếng trống làm ứng. Tạo táng sau nửa năm, tiến của cải vô danh, một năm có vẹt vào nhà, chủ miệng lưỡi được tài, ba năm sau mèo chó cắn nhau, sinh người đỗ đạt.

Thiên Anh trị giờ Sửu: Phía Đông Bắc có thầy phù thủy đến, và tiếng thanh la làm ứng. Tạo táng sau một tháng, chủ lửa cháy nhà, một năm lớn, người đời bàn tán trăm quái, đều thấy chết chóc đại bại.

CỬU TINH - GIỜ DẦN - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng trị giờ Dần: Lúc tác động có đồng tử áo xanh cầm hoa đến, phía Bắc có sư sãi áo lót khăn quấn đầu đến, đàn bà mặc áo váy đến. Tạo táng sau có trộm cướp gia tài, trong 60 ngày, có rắn vào nhà cắn người, do trâu ngựa chết hại người, và ma đánh nhà, ba năm sau tiến ruộng đất, đại vượng tài lúa.

Thiên Nhuế trị giờ Dần: Có đàn bà gầy có thai đến, thêm có người mặc áo tơi đến. Ngày chôn có kỳ môn vượng tướng, 60 ngày có trâu nước vào nhà, đại tiến tài huyết, thăng quan tiến lộc, con cháu đại cát.

Thiên Xung trị giờ Dần: Có quý nhân ngồi kiệu đến, và trẻ cầm đồ vàng bạc đến. Tạo táng sau 20 ngày tiến người họ (giốc âm), chữ khế, lục súc và đồ pha lê vào nhà, 60 ngày gà mái gáy trong nhà, chủ chết, do miệng lưỡi tranh tụng được tài, đại phát tài lúa, chủ sinh người Ất Tỵ, Đinh phát phúc.

Thiên Phụ trị giờ Dần: Sẽ thấy quan lại tay cầm đồ sắt, và người làm nghề cầm đồ đến làm ứng. Táng tạo sau 60 ngày, mèo mũi trắng cắn gà, có trộm gửi của báu đến, người mặt đỏ làm môi giới, tiến người họ (vũ âm), ruộng nợ, 12 năm đại phát, sinh quý tử.

Thiên Cầm trị giờ Dần: Lúc tác động, gà vàng loạn gáy, chó ngọc sủa, có người đội nón sâu đến. Tạo táng sau 60 ngày, tiến chữ khế họ (vũ âm), phát người đinh ruộng vượng mộc.

Thiên Tâm trị giờ Dần: Có cò trắng, và chim nước đến, trống vàng kêu bốn phía, đàn bà mặc áo xanh mang giỏ đến. Tạo táng sau lửa tàn làm chết trẻ nhỏ, trong 60 ngày, việc quan ăn vạ đến, trong 100 ngày, đại tiến vàng bạc, do nhặt được chum tốt, tiến của cải người họ (thương âm, vũ âm), trong ba năm nhờ vợ được tài sinh quý tử.

Thiên Trụ trị giờ Dần: Lúc tác động, có trâu ngựa kêu vang, và sư sãi đạo sĩ cầm lọng, mưa lớn sấm đến, chim hỷ tước kêu. Táng tạo sau 60 ngày, có trộm liên lụy việc quan, do việc quan kiện tụng phá tài, đàn bà sảy thai, chết đẻ.

Thiên Nhâm trị giờ Dần: Đàn bà thành hàng cầm đuốc đi trước, trẻ con vỗ tay cười lớn, Tây Bắc có người kiệu ngựa đến. Táng tạo sau 60 ngày, nồi hấp kêu, đàn bà chết, trong 100 ngày, tiến lục súc, của báu đàn bà tự đến, lúa tằm đại vượng. Người môi hở kiện tụng, việc hôn nhân bại.

Thiên Anh trị giờ Dần: Phía Đông có quân mã đến, và người đánh cá săn lưới đến. Táng tạo sau đàn bà đi đường nhặt được của báu, trong 60 ngày, tiến điền sản chữ khế của đàn bà goá, trong 100 ngày sét đánh nhà liền bại.

 

CỬU TINH - GIỜ MÃO - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng trị giờ Mão: Mây vàng nổi lên bốn phía, đàn bà cầm đồ sắt đi tới, rắn lớn bò ngang. Tạo táng sau mười ngày, người thuộc cung Giốc mời. Trong nửa tháng, có người thuộc cung Chinh gửi của cải. Trong khoảng 20-60 ngày, đàn bà vì trộm cướp liên lụy mà đại phá tài. Sau 100 ngày nhặt được chum vàng phát đại.

Thiên Nhuế, Thiên Xung trị giờ Mão: Có đàn bà mặc áo đỏ gửi đồ, và quý nhân cưỡi ngựa đến, hai chó cắn nhau, trâu nước kêu. Tạo táng sau 60 ngày, tiến điền sản của nhà tuyệt hộ phía Đông, do nước sôi lửa bỏng làm hại, trẻ nhỏ tiến tài huyết (lục súc), và người cung Vũ gửi đồ, trong hai năm đàn bà sảy thai, chết đẻ.

Thiên Phụ trị giờ Mão: Lúc tác động, đàn bà khiêng dù đến, và thầy phù thủy thổi tù và. Táng tạo sau 60 ngày, đại phát thêm người, có sinh khí vào nhà, vượng tài lúa, do việc quan của đàn bà được tiền bạc và ruộng đất chữ khế.

Thiên Cầm trị giờ Mão: Gió lớn nổi lên từ Đông, chim nhỏ kêu bốn phía, đàn bà có thai đến. Tạo táng sau nửa năm, mèo tự đến trong vườn, được chum vàng phát đại.

Thiên Tâm trị giờ Mão: Lúc tác động, có đàn bà què đánh nhau, và chó sủa, tiếng trống, phía Bắc có người ngồi kiệu đến. Táng tạo sau 7 ngày, tiến tài lộc bất ngờ, ba năm sau có trâu tự đến, lục súc đại vượng, có người mời nhờ quân sự được tài.

Thiên Trụ trị giờ Mão: Có đàn bà gầy cầm dao đến, và sư sãi đạo sĩ cầm lọng đến, và đàn bà chửi nhau. Táng tạo sau 60 ngày, lửa cười, gà mái gáy sáng, chó lên mái nhà. Một năm bệnh dịch chết hết.

Thiên Nhâm trị giờ Mão: Có ông già chống gậy đến, và chim hỷ tước kêu làm ứng. Táng tạo sau 7 ngày, có người tiến đồ cổ, 60 ngày, do đàn bà bên ngoài được của báu, tiến trâu bò lục súc, do cờ bạc được tài, thăng quan tiến chức.

Thiên Anh trị giờ Mão: Lúc tác động, có đàn bà cầm đèn đến ứng, hoặc cầm gậy gỗ đến ứng. Nếu thấy sấm sét ứng, 60 ngày, tiến của báu đàn bà, nhân đó đại phát.

CỬU TINH - GIỜ THÌN - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng, Thiên Nhuế trị giờ Thìn: Phía Đông Bắc, cây đổ đánh người, tiếng trống nổi lên bốn phía, đàn bà mặc áo đỏ đến. Táng tạo sau quạ đen bốn phía kêu quanh nhà, có trộm cướp đến, phá tài, 60 ngày có người chân gió đến nhà, nhờ ăn vạ sau nhà sinh quý tử, đại phát tài lúa.

Thiên Xung trị giờ Thìn: Chủ cá chép lên cây, hổ trắng ra khỏi núi, sư sãi thành đàn đến. Táng tạo sau, nhặt được vàng bạc của báu, đại phát, tài lộc bất ngờ trong 70 ngày, đến nhà, chủ thấy tai họa thương gãy, một gái một trai vào.

Thiên Phụ trị giờ Thìn: Cừu trắng và chó vàng va chạm nhau, người bán dầu và người bán rau gạo va chạm nhau, trẻ con mặc áo trắng khóc, đàn bà có thai đến. Táng tạo sau đại phát tài lúa, trong một năm sinh đôi quý tử.

Thiên Cầm trị giờ Thìn: Có thầy phù thủy, thuật sĩ tranh cãi la lớn, và phía Đông quạ kêu. Táng tạo sau 60 ngày, có sư sãi đạo sĩ và người tuyệt hộ gửi của cải đến.

Thiên Tâm trị giờ Thìn: Có mây từ Tây Bắc lên, người áo xanh mang cá đến, đàn bà sư sãi cùng đi. Táng tạo sau 60 ngày, trong giếng khí như mây ra, trong ba ngày, nhà sinh quý tử, đỗ đạt cao, đại phú quý.

Thiên Trụ trị giờ Thìn: Có người khiêng cây qua, và đàn ông cầm trống qua, ông già áo vàng cầm cuốc đến. Táng tạo sau 60 ngày, mèo đen sinh rồng con (rắn?), gà sinh đôi, tiến người phương Bắc của cải, đàn bà goá gửi khế đến, người mặt đỏ làm môi giới, tiến điền sản người cung Vũ.

Thiên Anh trị giờ Thìn: Tây Bắc mưa lớn đến, gà bay lên cây, đàn bà mặc áo đỏ, mang giỏ đến. Táng tạo sau 7 ngày, có sinh khí vào nhà, 60 ngày, tiến tài lộc bất ngờ đại phát.

CỬU TINH - GIỜ TỴ - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng, Thiên Nhuế trị giờ Tỵ: Có ông già gù lưng mặc áo tơi đến, đàn bà mang rượu và thầy phù thủy đến. Nơi táng tạo sau 100 ngày, do lửa mà được tài lộc bất ngờ lớn, đến một năm nhờ võ được chức, thăng quan tiến lộc.

Thiên Xung trị giờ Tỵ: Có trâu đánh nhau, dê tranh nhau đi, đàn bà chửi nhau, phía Tây Nam có tiếng trống ầm ĩ. Táng tạo sau 60 ngày, rắn cắn gà, trâu vào nhà, có đàn bà gửi khế đến, 100 ngày chó sinh con có hoa, đại vượng ruộng tài.

Thiên Phụ trị giờ Tỵ: Có người đánh nhau, đàn bà ôm vải đến, gió nổi bốn phía, trẻ con than thở. Táng tạo sau 60 ngày, tiến người phương Đông của cải, có mùa màng bội thu đại phát.

Thiên Cầm trị giờ Tỵ: Có vịt cổ trắng thành đàn bay kêu, và thầy phù thủy đánh nhau, quý nhân cưỡi ngựa qua. Táng tạo sau 70 ngày, có đàn bà đến, hợp sinh quý tử, thành gia lập sản, ba năm ruộng vườn đại vượng.

Thiên Tâm trị giờ Tỵ: Có đàn bà mặc áo xanh, bồng con nhỏ đến, người mặc áo tía cưỡi ngựa đến, rùa lên cây. Táng tạo sau nửa tháng, được người bốn phương của cải, người què làm môi giới, tiến khế sản người cung Thương, lục súc hưng vượng, trong ba năm, đàn bà thành gia, mẹ goá ngồi đường.

Thiên Trụ trị giờ Tỵ: Có trâu đen qua, tiếng chuông kêu, lợn lên núi, sau 20 ngày, tiến người cung Thương của cải, 60 ngày, trong nhà đàn bà xuống nước, có sinh khí vật vào nhà, trong một năm, mèo bắt được chuột trắng, đại phát đại quý chi triệu.

Thiên Nhâm, Thiên Anh trị giờ Tỵ: Có hai chó tranh nhau một vật, dân quê gánh củi qua, quan lại cầm lọng đến. Táng tạo sau 60 ngày, được của cải người lạ đường, người phương Nam gửi cá chép, sinh quý tử, hiển đạt khác đường, tiến ruộng tài.

CỬU TINH - GIỜ NGỌ - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng trị giờ Ngọ: Lúc tác động, có người cầm dao lên núi, đàn bà cầm áo xanh, đồng tử đến kêu than. Sau 40 ngày, chủ nhà mất, 60 ngày, chó đến nói tiếng người, vào nhà làm quái. Người mặt đỏ chân gió đến nhà, nhờ ăn vạ, làm dữ, phá tài, trong ba năm được chum cổ đại phát.

Thiên Nhuế trị giờ Ngọ: Chủ trên trời có người môi hở, người mặc áo trắng đến, có đàn bà có thai qua. 60 ngày, có mèo ma cắn người, do buôn bán phát tài bất ngờ, trong một năm được tài sản nhà vợ đại phát.

Thiên Xung trị giờ Ngọ: Phía Đông nhà lửa cháy, người mặc áo trắng chạy đến la lớn, chim núi kêu náo động. 60 ngày, nhặt được đồ cổ, quỷ vận chuyển tiền lúa phát.

Thiên Phụ trị giờ Ngọ: Có sư sãi đạo sĩ cầm lọng, đàn bà mặc áo đỏ đến, có ánh lửa đá, sau 60 ngày, có quý nhân đến, gửi vật lạ, 60 ngày, tiến người phương Tây vàng bạc, trong một năm, được của người goá, nhà tuyệt hộ.

Thiên Cầm trị giờ Ngọ: Có đàn bà áo trắng đến, chó ngậm hoa, gà rừng đánh nhau kêu, mưa gió từ Đông đến, 60 ngày, có chó từ ngoài đến, hoặc chó hoang vào nhà, chủ tiến người phương Đông Bắc của cải, lại cờ bạc việc quan được tài, một năm gà đen sinh con trắng, sinh khí tự đến làm ứng, lúa tằm đại vượng.

Thiên Tâm trị giờ Ngọ: Chủ mưa gió lớn đột ngột đến, rắn bò ngang đường, đàn bà mặc váy đỏ, mang rượu đến, sau 60 ngày tằm kêu, có người què gửi vật có sinh khí, trong năm năm, tiến vàng bạc, ruộng lúa tằm đại vượng.

Thiên Trụ trị giờ Ngọ: Phía Tây có người cưỡi ngựa đến, liền có tuyết lớn quạ bay kêu lên, sau 5 ngày, đàn bà có thai trước bệnh, đi tang khóc lóc, 60 ngày, ven nước được đồ cổ, thần ven nước ban phúc, thoái trẻ nhỏ.

Thiên Nhâm trị giờ Ngọ: Tây Bắc có chim vàng bay đến, thầy phù thủy và người quân tử đến, sau 40 ngày, tiến của báu bên ngoài, của cải quý nhân, người áo tía vào nhà, sinh quý tử.

Thiên Anh trị giờ Ngọ: Phía Nam có việc hôn nhân, có người đi săn cầm cung tên đến, sau 60 ngày, bị gỗ đâm chết, và tự vẫn, việc quan bại.

CỬU TINH - GIỜ MÙI - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng trị giờ Mùi: Đồng tử dắt hai trâu đến, và đàn ngỗng kinh hãi, phía Bắc có đàn bà mặc áo đỏ đến, sau 60 ngày, quân giặc vào nhà cướp bóc của cải bại.

Thiên Nhuế trị giờ Mùi: Có người đi săn đến, và đạo sĩ áo trắng mang trà qua, sau 7 ngày có quạ quanh nhà kêu, người mặt đỏ, người có râu ba sợi đến đánh nhau lớn, trong một năm động ôn dịch, thấy lửa cháy nhà, rắn cắn, bại.

Thiên Xung trị giờ Mùi: Có tiếng trống, trẻ con mặc áo tang đến, trâu ngựa hoặc bầy qua Tây Bắc, hoặc ầm ĩ hoặc tranh nhau, sau 60 ngày, có cừu trắng vào nhà, lục súc đại vượng.

Thiên Phụ trị giờ Mùi: Bầy chó tranh nhau sủa, ăn mày mang áo tơi đến, và sư sãi thành đàn qua, hoặc Tây Bắc có người tranh nhà, sau 100 ngày có văn thư khế, tiến người cung Thương của cải vàng bạc.

Thiên Cầm trị giờ Mùi: Có ông già và người què gánh hoa qua, hoặc người áo xanh mang rượu đến. Táng tạo sau 66 ngày, tiến người cung Vũ đồ sắt, lục súc đại vượng.

Thiên Trụ trị giờ Mùi: Có đàn bà gầy và sư sãi đạo sĩ cùng đi về phía Đông Bắc, có người cầm lọng cưỡi ngựa đến. Táng tạo sau 100 ngày, do con dâu thấy cáo mà bại.

Thiên Nhâm trị giờ Mùi: Chủ có gà trắng bay đến, chim bay từ Tây Nam đến, phía Bắc đánh nhau lớn, tiếng trống vang trời, mưa gió lớn đến. Táng tạo sau 7 ngày, đàn bà gửi đồ màu trắng đến, 60 ngày, trong nhà sinh vật khí lạ màu trắng, được lục súc đại vượng.

Thiên Anh trị giờ Mùi: Có đàn bà có thai qua, và phía Tây Bắc tiếng trống làm ứng. Táng tạo sau 60 ngày, chủ nhà rơi xuống nước chết, một năm ôn dịch bại.

CỬU TINH - GIỜ THÂN - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng trị giờ Thân: Có người lấy nước đội nón che dù đến, phía Tây có trẻ con đánh trống nước, la hét, táng tạo. Sau 20 ngày trong tổ gà rắn cắn người, vợ mới tự vẫn, dâm dục việc quan bại.

Thiên Nhuế trị giờ Thân: Chủ phía Đông lọng xanh, và sư sãi người có râu đến, và trâu húc bị thương người, chó cắn người. Táng tạo sau 100 ngày, sẽ tiến sản vật người cung Vũ, trong một năm có trâu nước vào nhà, chim đại bàng vào nhà, lúc đó chủ đại bệnh.

Thiên Xung trị giờ Thân: Phía Nam người mặc áo trắng cưỡi ngựa qua, lính cầm dao chém giết nhau. Táng tạo sau 120 ngày, đàn bà làm môi giới, tiến điền sản nhà tuyệt hộ.

Thiên Phụ trị giờ Thân: Có người bệnh chân sưng xanh mang rượu đến, người mặc áo ba giáo (nho, phật, đạo) đến, phía Tây Bắc tiếng trống vàng. Táng tạo sau nửa năm, do đàn bà được tài đại phát, rắn từ giếng ra, người thường gửi trâu bò đến.

Thiên Cầm trị giờ Thân: Chủ trên trời chim kêu lớn, thầy phù thủy mang bùa đến. Táng tạo sau 100 ngày, đàn bà tự đến nhặt được châu báu về, một năm vợ mới xương thịnh, sinh quý tử, đại vượng ruộng tằm.

Thiên Tâm trị giờ Thân: Sư sãi đến trước, trống vàng kêu bốn phía, trăm chim kêu, đàn bà váy đỏ gửi rượu đến. Táng tạo sau đàn bà goá ngồi đường, nhặt được chum cổ đại phát.

Thiên Trụ trị giờ Thân: Chủ chim ưng, bồ câu cướp, chim rơi đất, và người áo xanh mang giỏ đến. Táng tạo sau vì lửa mất nhà.

Thiên Nhâm trị giờ Thân: Chủ mưa gió lớn đến, người râu ba sợi đánh trống đến, sư sãi mặc áo vàng làm ứng. Táng tạo sau 7 ngày nồi hấp kêu, đàn bà bị lửa nước bỏng bại.

Thiên Anh trị giờ Thân: Có đàn bà có thai khóc lớn, phía Tây có tiếng trống vàng, và sư sãi cầm lọng. Táng tạo sau đại hung.

 

CỬU TINH - GIỜ DẬU - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng, Thiên Nhuế trị giờ Dậu: Chủ phía Tây có ngựa đỏ đến, và xe cộ, bầy quạ kêu bốn phía. Táng tạo sau 100 ngày, trong nhà sinh quý tử, sư sãi làm môi giới, tiến người cung Thương, ruộng đất đại phát. Trong ba năm, gà sinh đôi, mèo nuôi con trắng, được mời đi thi.

Thiên Xung, Thiên Phụ trị giờ Dậu: Người phương xa gửi thư đến, phía Đông cáo cắn kêu, đàn bà cầm đuốc đến. Táng tạo sau một năm sinh quý tử, được tài lộc bất ngờ đại phát.

Thiên Cầm trị giờ Dậu: Phía Tây lửa cháy, người trong nhà đánh nhau la lớn, tiếng trống vang quanh. Táng tạo sau một năm sinh quý tử, được tài lộc bất ngờ đại phát.

Thiên Nhâm, Thiên Tâm trị giờ Dậu: Chủ sư sãi, ni cô, cầm đuốc từ Tây Nam đến, phía Bắc tiếng chuông trống. Táng tạo sau 70 ngày, tiến người cung Thương, quan lại xe la ngựa, hỷ tài, và người nghệ thuật gửi tin xa đến, đại lợi.

Thiên Anh trị giờ Dậu: Phía Tây có người tranh nhau, chim sẻ kêu, đàn bà mặc áo trắng có thai đến. Táng tạo chưa đầy 60 ngày, trẻ nhỏ, mẹ chủ gãy chân phá tài, sau 100 ngày do miệng lưỡi được tài.

CỬU TINH - GIỜ TUẤT - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng trị giờ Tuất: Chủ có ông già chống gậy đến, phía Tây mưa sét đến, người râu ba sợi gánh rổ đến. Táng tạo sau có chó trắng đến, trong 60 ngày, do nhặt được binh khí, được tài lộc bất ngờ đại phát.

Thiên Xung, Thiên Phụ trị giờ Tuất: Phía Tây có ba năm người cầm đuốc đi tìm đồ mất, thầy phù thủy và người râu ba sợi đến. Táng tạo sau 60 ngày, gà lên cây gáy, phương xa có tin, được tài của người cung Vũ, một năm trẻ nhỏ bị trâu giẫm bị thương.

Thiên Cầm trị giờ Tuất: Phía Đông Bắc có tiếng chuông, và tiếng la bát, có đồng tử áo xanh mang giỏ đến, sau 60 ngày, rùa trắng đến, đại phát, được ruộng nợ của mẹ goá, có người mời đi thi.

Thiên Tâm trị giờ Tuất: Chủ phía Nam la lớn, trộm cướp kinh hãi, trẻ con cưỡi trâu đến. Trong 100 ngày, trong nhà sinh quý tử, gà vàng gáy, chó ngọc sủa, ba năm được mời đi thi.

Thiên Trụ, Thiên Anh trị giờ Tuất: Có đàn bà cầm vải trắng đến, phía Tây có tiếng trống, phía Bắc cây đổ đánh người, la lớn, 60 ngày, rắn rết vào nhà cắn người, liên lụy ôn dịch, chết, đại bại.

CỬU TINH - GIỜ HỢI - KHẮC ỨNG

Thiên Bồng trị giờ Hợi: Trẻ con thành đàn, đàn bà mặc đồ tang đến. Táng tạo sau nhờ bắt trộm được tài lúa, ba năm xuất người, vào đạo pháp, bán bùa chú nước, khởi nghiệp.

Thiên Xung, Thiên Phụ trị giờ Hợi: Có người què mặc áo xanh đến, phía Đông Bắc nhà lửa cháy. Táng tạo sau 100 ngày, mèo bắt chuột trắng làm ứng, tiến ruộng nợ người cung Thương, đại phát tài, được tài sản vợ.

Thiên Cầm trị giờ Hợi: Phía Tây Bắc có tiếng đàn bà cười, gió lớn từ Tây nổi lên, cây đổ, nhà sập, la lớn. Táng tạo sau 60 ngày, tiến thợ rèn của cải, người cung Thương làm môi giới, tiến sản nghiệp của sư sãi.

Thiên Tâm trị giờ Hợi: Lúc tác động, có gà vàng gáy đêm, chó ngọc sủa, ông già đội mũ da tay cầm đồ sắt đến. Táng tạo sau 7 ngày, có người không rõ tên đến nhà xin ngủ trọ, để lại của cải rồi đi.

Thiên Trụ, Thiên Nhâm trị giờ Hợi: Chủ phía Tây có tiếng khánh ngọc, người dưới núi cầm đuốc la hét. Táng tạo sau nhờ cứu hỏa được tài, đại phát.

Thiên Anh trị giờ Hợi: Đàn bà cầm đuốc đến. Táng tạo sau 100 ngày, có người bị bệnh hủi đến nhà, ăn vạ, chết, phá tài.

 

THUYẾT VỀ THẦN CÁT HUNG CỦA THIÊN ẤT TRỰC PHÙ

Ca rằng: "Trực phù phía trước ba cung là Lục Hợp, Thái Âm chi thần ở phía trước hai cung. Phía sau một cung trong cung là Cửu Thiên, phía sau hai cung là thần Cửu Địa."

Phương pháp an sao Thái Âm, Đằng Xà... theo lối bố trí cục sống:
Căn cứ vào cung của Trực Phù ở bản giờ, ta an các thần: Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Cửu Địa, Cửu Thiên.

  • Dương Độn: Từ cung Trực Phù, thuận chiều bố trí các thần (Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Cửu Địa, Cửu Thiên) vào các cung tiếp theo.

  • Âm Độn: Từ cung Trực Phù, nghịch chiều bố trí các thần.

Giải thích từng thần:

  • Trực Phù là thần Thiên Ất. Khi việc gấp, nên xuất hành theo phương này để đánh vào hướng đối xung. Đó gọi là "gấp thì theo thần".

  • Cửu Thiên là thần oai hùng, có thể dùng để ra quân dàn trận, hò reo, phất cờ. Tôn Tử nói: "Người giỏi đánh trận thì hành động trên chín tầng trời".

  • Cửu Địa là thần kiên cố, có thể đóng quân cố thủ, bảo vệ thành trì. Người xưa nói: "Người giỏi phòng thủ thì ẩn náu dưới chín tầng đất".

  • Huyền Vũ là thần trộm cắp nhỏ, có thể dùng để phòng gian tế, do thám quân tình. Nếu được Kỳ môn hội hợp tại phương đó thì không phải kiêng kỵ.

  • Bạch Hổ là thần hung ác, có thể dùng để phòng bị giặc cướp trại. Nếu được Kỳ môn hội hợp thì không phải kiêng kỵ.

  • Thái Âm là thần phù trợ âm thầm, có thể dùng để tuân theo phù hiệu, ngăn địch, đóng cửa, giấu quân. Người có nạn nguy cấp nên theo phương này mà tránh, để giảm tai họa.

  • Lục Hợp là thần hộ vệ, có thể dùng để phục kích, chống đỡ, phòng ngừa bất trắc. Người có việc gấp nên theo phương này tránh để khỏi bị hại.

  • Đằng Xà là thần hư trá. Xuất hành theo phương này thường chủ tinh thần hoảng hốt, mộng mị điên đảo. Nếu được Kỳ môn hội hợp thì không kiêng.

Vương Chương nói:

  • Trên chín tầng trời (Cửu Thiên chi thượng) là các cung Lục Giáp (Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần). Vào giờ Lục Giáp, quân sĩ nên quay lưng về cung Trực Phù (của Lục Giáp) mà đánh vào hướng xung, thì không gì không thắng. Kinh nói: "Dương binh trên chín tầng trời". Sở dĩ nói Giáp là trên Cửu Thiên, vì Kinh Dịch gọi Càn nạp Giáp và Nhâm, Càn là trời, đạo trời thăng lên, từ Giáp đếm đến Nhâm là 9 số, cho nên Lục Giáp ở trên Cửu Thiên. Mỗi Giáp đều gọi là Giáp Tý vì Giáp Tý là khởi đầu của Lục Giáp, can chi trưởng, nêu trên để sáng tỏ dưới.

  • Dưới chín tầng đất (Cửu Địa chi hạ) là các cung Lục Quý (Quý Dậu, Quý Mùi, Quý Tỵ, Quý Mão, Quý Sửu, Quý Hợi). Phàm trốn chạy, mai danh ẩn tích, nên xuất nhập theo phương của Lục Quý trên trời. Kinh Dịch nói Khôn nạp Ất và Quý, Khôn là đất, đạo đất hạ xuống, từ Ất đếm đến Quý cũng là 9 số, cho nên Lục Giáp ở dưới Cửu Địa. Mỗi Quý đều gọi là Quý Dậu, vì đó là kết thúc của Giáp Tý.

  • Trong Lục Hợp (Lục Hợp chi trung) là các cung Lục Kỷ (Kỷ Tỵ, Kỷ Mão, Kỷ Sửu, Kỷ Hợi, Kỷ Dậu, Kỷ Mùi). Phàm làm việc âm mật bí mật, nên xuất hành theo phương Lục Kỷ trên trời thì người không thấy. Kinh nói: Lục Hợp là cửa riêng, một mình ra vào, không ai thấy. Sở dĩ nói Kỷ là trong Lục Hợp, vì từ Giáp đếm đến Kỷ là 6 số, là Giáp Kỷ hợp, cho nên trong Lục Hợp có Lục Kỷ. Cũng nêu ý của một tuần Giáp Tý.

Bản Lý nói: "Cửu Thiên Cửu Địa bí thông thần, Thái Âm Lục Hợp định càn khôn. Biết được quyết này sẵn trong ta, há dám đem ba cửa mà dựng gốc? Ra hướng Kỳ môn phân tạo hóa, người trong lòng khởi kinh luân. Giữ thành đánh ải nhờ vào đây, đạo không hư hành chỉ tại người."

Ca rằng: "Trên Cửu Thiên tốt ra quân, dưới Cửu Địa ẩn được đồn. Phục binh chỉ hướng Thái Âm vị, nếu gặp Lục Hợp lợi trốn hình." 《Bản Nghĩa》 nói: Cửu Thiên là sự cương kiện đến cùng cực; Cửu Địa là sự u ẩn đến sâu thẳm. Động trong Cửu Thiên nên nói tấn công đến tột bậc; Ẩn trong Cửu Địa nên nói phòng thủ đến sâu xa. Cửu Thiên là khí sát phạt của trời, độn ở phương này cũng có thể mượn khí này để dương oai. Cửu Địa là khí mờ mịt của đất, độn ở phương này cũng có thể mượn khí này che giấu tung tích. Dưới Thái Âm có thể phục binh; dưới Lục Hợp có thể đào tẩu.

Cách xác định:

  • Sau Đông Chí (Dương Độn): Tính ngược từ cung Trực Phù trên trời, sau một cung là Cửu Thiên, sau hai cung là Cửu Địa, trước hai cung là Thái Âm, trước ba cung là Lục Hợp.

  • Sau Hạ Chí (Âm Độn): Tính xuôi từ cung Trực Phù trên trời, trước một cung là Cửu Thiên, trước hai cung là Cửu Địa, sau hai cung là Thái Âm, sau ba cung là Lục Hợp.

Khi xuất hành, gọi tên thần của 10 can:

  • Giáp: Thần Thiên Phúc, tên Vương Văn Khanh.

  • Ất: Thần Thiên Đức, tên Long Văn Khanh.

  • Bính: Thần Thiên Uy, tên Đường Văn Khanh.

  • Đinh: Ngọc Nữ, tên Quý Do Vãng.

  • Mậu: Thần Thiên Vũ, tên Tư Mã Dương.

  • Kỷ: Thần Minh Đường, tên Kỷ Du Khanh.

  • Canh: Thần Thiên Hình, tên Trâu Nguyên Dương.

  • Tân: Thần Thiên Đình, tên Cao Tử Trương.

  • Nhâm: Thần Thiên Lao, tên Vương Lộc Khanh.

  • Quý: Thần Thiên Ngục, tên Thụ Tử Quang.

Ngũ Tử Tư nói: Muốn ẩn náu, thì cưỡi Thanh Long (Lục Giáp), qua sao Bồng (Lục Ất), qua Minh Đường (Lục Bính), ra cửa Trời (Lục Mậu), vào cửa Đất (Lục Kỷ), qua Thái Âm (Lục Đinh), lấy cỏ bẻ đôi che nhân trung, vào kho Trời (Lục Quý). Ví dụ: Ngày Giáp Tý, giờ Giáp Tý, khởi đầu từ Giáp Tý, qua Sửu, qua Dần, ra Thìn, vào Tỵ, rồi lấy cỏ bẻ đôi che nhân trung, đặt ở cung Mão mà vào cung Dậu, đi vào thì không ai thấy. Lúc qua Thái Âm, chú rằng: "Trời lật đất nghiêng, chín đường đều bít, có ai đuổi bức đến đây mà cùng cực, thấy ta thì chết, đuổi ta thì vong, ta phụng mệnh lệnh của Cửu Thiên Huyền Nữ, Đạo Mẫu Nguyên Quân, thẳng vào kho Trời, cẩn thận chớ quay lại". Canh là Thiên Hình, Tân là Thiên Đình, Nhâm là Thiên Lao, nên tránh. Còn có giải thích chi tiết trong phần Nhân Độn.

TAM KỲ HỶ NỘ (Vui Giận của Ba Kỳ)

Kỳ Ất là Nhật Kỳ.

  • Đến cung Chấn (Mão) gọi là "Bạch thố du cung" (Thỏ trắng dạo chơi cung), tốt cho xây dựng, yết kiến, xuất hành.

  • Đến cung Tốn (Thìn Tỵ) gọi là "Ngọc thố thừa phong" (Thỏ ngọc cưỡi gió), trăm việc tốt.

  • Đến cung Ly (Ngọ) gọi là "Bạch thố đương dương" (Thỏ trắng đối diện ánh nắng), tốt cho việc hiển dương, luyện đan, trăm việc tốt.

  • Đến cung Khôn (Mùi Thân) gọi là "Ngọc thố ám mục" (Thỏ ngọc mờ mắt), lại gọi "Nhập mộ", dùng cho lên quan, viễn hành, buôn bán, di dời, tu sửa sẽ thấy tai họa.

  • Đến cung Đoài (Dậu) gọi là "Thụ chế" (bị chế ngự), việc nhiều bất lợi.

  • Đến cung Càn (Tuất Hợi) gọi là "Ngọc thố nhập lâm" (Thỏ ngọc vào rừng), lên quan, viễn hành, xây dựng đều tốt.

  • Đến cung Khảm (Tý) gọi là "Ngọc thố ẩm tuyền" (Thỏ ngọc uống suối).

  • Đến cung Cấn (Sửu Dần) gọi là "Ngọc thố bộ thanh" (Thỏ ngọc bước trên xanh), đều có lợi.

Kỳ Bính là Nguyệt Kỳ.

  • Đến cung Chấn gọi là "Nguyệt nhập lôi môn" (Trăng vào cửa sấm), dựng cột sửa cửa, tu sửa gặp cát khánh.

  • Đến cung Tốn gọi là "Hỏa hành phong khởi" (Lửa đi gió nổi), rồng thần trợ uy, việc đều tốt.

  • Đến cung Ly là quê hương đế vượng, trừ giờ Tý, Ngọ là trực phù (không nên dùng gấp), còn các giờ Dần, Thân, Thìn, Tuất dùng đều tốt.

  • Đến cung Khôn gọi là "Tử cư mẫu phúc" (Con ở bụng mẹ), tốt.

  • Đến cung Đoài gọi là "Phượng hoàng chiết sí" (Phượng gãy cánh).

  • Đến cung Càn gọi là "Quang minh bất toàn" (ánh sáng chẳng trọn), lại gọi "Nhập mộ", hung, không dùng.

  • Đến cung Cấn gọi là "Phượng nhập đan sơn" (Phượng vào núi đỏ), Cấn là đường quỷ, lửa Bính hun hút, ắt hung.

Kỳ Đinh là Tinh Kỳ. Trong Tam Kỳ, sao này linh thiêng nhất. Lục Đinh vốn là tinh hoa của lửa, hóa thành kim, đến cung Chấn là sáng nhất. Nếu tu sửa phương này, có thể dùng 7 cái phên tre, đốt lửa đi trước dẫn người, đi bốn bước rồi dập lửa, thì khởi công ắt có ứng lành.

  • Đến cung Tốn là thiếu nữ, gọi là "Ngọc nữ lưu thần, đại phong thành tượng" (Gió lớn thành hình).

  • Đến cung Ly thừa vượng quá nóng, có thể đốt cháy vạn vật, tính nóng bạo không thường.

  • Đến cung Khôn: Khôn là Địa hộ, gọi là "Ngọc nữ du địa hộ", tốt.

  • Đến cung Đoài: Hỏa đến nơi Kim vượng, có thể hung có thể cát.

  • Đến cung Càn gọi là "Đại chiếu thiên môn", lại gọi "Ngọc nữ du thiên môn", diệu dụng phi thường.

  • Đến cung Cấn gọi là "Ngọc nữ du quỷ môn", hung.

 

VÍ DỤ KHỞI THỨC KỲ CHO DƯƠNG ĐỘN NGÀY ĐÔNG CHÍ

Ví dụ: Ngày 12 tháng 4 (âm lịch) năm Vạn Lịch thứ 25, ngày Nhâm Thân, dùng việc vào giờ Bính Ngọ. Mùng 4 là ngày Giáp Tý (phù đầu) đã đến. Mùng 7, giờ Đinh Mão, là ngày Tiểu Mãn. Đây là trường hợp phù đến trước, tiết đến sau, dùng phép "Siêu" (vượt). Từ Giáp Tý đến Mậu Thìn (5 ngày) là Thượng cục của Tiểu Mãn, khởi Giáp Tý tại cung số 5 (Trung cung). Từ Kỷ Tỵ đến Quý Dậu (5 ngày) là Trung cục của Tiểu Mãn, khởi Giáp Tý tại cung số 2 (Khôn). Từ Giáp Tuất đến Mậu Dần (5 ngày) là Hạ cục của Tiểu Mãn, khởi Giáp Tý tại cung số 8 (Cấn). Nay giờ Ngọ ngày Nhâm Thân đang là Trung cục của Tiểu Mãn. Dương Độn, Trung cục cung số 2 (Khôn). Khởi Giáp Tý tại Khôn, nghịch bố Tam Kỳ, thuận bố Lục Nghi:

  • Giáp Tý tại Khôn (Mậu)

  • Ất (Kỳ) tại Khảm (Thiên Bồng)

  • Bính (Kỳ) tại Ly (Thiên Anh)

  • Đinh (Kỳ) tại Cấn (Thiên Nhâm)

  • Giáp Tuất (Kỷ) tại Chấn

  • Giáp Thân (Canh) tại Tốn

  • Giáp Ngọ (Tân) tại Trung cung (ký Khôn)

  • Giáp Thìn (Nhâm) tại Càn

  • Giáp Dần (Quý) tại Đoài

Nguyên dùng giờ Bính Ngọ, thuộc tuần Giáp Thìn (Giáp Thìn cùng Nhâm tại cung Càn). Lấy sao Thiên Tâm (sao Hưng tại Càn) làm Trực Phù. Giờ Bính Ngọ, can giờ Bính đóng ở cung Ly (cung 9). Bèn dời Thiên Bàn sao Tâm từ cung Càn gia lên Địa Bàn cung Ly. Kết quả: Sao Bồng (Ất Kỳ) đến Khôn, Nhâm (Đinh Kỳ) đến Đoài, Anh (Bính Kỳ) đến Cấn.

Giờ Bính Ngọ, tuần Giáp Thìn, lấy sao Tâm làm Trực Phù, gia lên Ly, thuận đếm (theo Dương Độn). Nguyên Giáp Thìn ở Càn, lấy môn Khai làm Trực Sứ, thuận điểm: Giáp Thìn (Càn), Ất Tỵ (Đoài), Bính Ngọ (Cấn). Vậy Khai môn gia lên Cấn là đúng. Kết luận:

  • Giờ Bính Ngọ, Bính Kỳ đến Cấn, gọi là "Phượng nhập đan sơn" (Phượng vào núi đỏ), Khai môn tương sinh (Thổ sinh Kim? Cần xét: Cấn là Thổ, Khai môn thuộc Kim, Thổ sinh Kim là tốt).

  • Đinh Kỳ đến Đoài (Kim), Hỏa vượng Kim tử, Cảnh môn (Hỏa) gia Đoài (Kim) là môn khắc cung, không tốt.

  • Ất Kỳ đến Khôn (Thổ) là nhập mộ (Ất mộ tại Tuất, Khôn có Mùi, Thân không phải mộ, nhưng thường luận Ất đến Khôn là nhập mộ), Đỗ môn (Mộc) gia Khôn (Thổ) là môn khắc cung, không tốt.

VÍ DỤ KHỞI THỨC KỲ CHO ÂM ĐỘN NGÀY HẠ CHÍ

Ví dụ: Ngày 11 tháng 5 (âm lịch) năm Vạn Lịch thứ 25, ngày Tân Sửu, dùng việc vào giờ Bính Thân. Mùng 4 là ngày Giáp Ngọ (phù đầu) đã đến. Mùng 8, giờ Thìn ngày Mậu Tuất, là ngày Hạ Chí. Đây là phù đến trước, tiết đến sau, dùng phép "Siêu". Từ Giáp Ngọ đến Mậu Tuất (5 ngày) là Thượng cục của Hạ Chí, khởi Giáp Tý tại cung số 9 (Ly). Từ Kỷ Hợi đến Quý Mão (5 ngày) là Trung cục của Hạ Chí, khởi Giáp Tý tại cung số 3 (Chấn). Từ Giáp Thìn đến Mậu Thân (5 ngày) là Hạ cục của Hạ Chí, khởi Giáp Tý tại cung số 6 (Càn). Nay giờ Thân ngày Tân Sửu đang là Trung cục của Hạ Chí. Âm Độn, Trung cục cung số 3 (Chấn). Khởi Giáp Tý tại Chấn, thuận bố Tam Kỳ, nghịch bố Lục Nghi:

  • Giáp Tý tại Chấn (Mậu)

  • Ất (Kỳ) tại Tốn (Thiên Phụ)

  • Bính (Kỳ) tại Trung cung (Thiên Cầm) ký Khôn

  • Đinh (Kỳ) tại Càn (Thiên Tâm)

  • Giáp Tuất (Kỷ) tại Khôn

  • Giáp Thân (Canh) tại Khảm

  • Giáp Ngọ (Tân) tại Ly

  • Giáp Thìn (Nhâm) tại Cấn

  • Giáp Dần (Quý) tại Đoài

Nguyên dùng giờ Bính Thân, thuộc tuần Giáp Ngọ (Giáp Ngọ cùng Tân tại Ly). Lấy sao Thiên Anh (sao Anh tại Ly) làm Trực Phù. Giờ Bính Thân, can giờ Bính đóng tại Trung cung (ký Khôn). Bèn dời Thiên Bàn sao Anh từ Ly gia lên Địa Bàn Khôn. Kết quả:

  • Sao Cầm (Bính Kỳ) đến Đoài (Kim): Hỏa nhập Kim hương, không tốt.

  • Sao Tâm (Đinh Kỳ) đến Khảm (Thủy): Hỏa nhập Thủy địa, không tốt.

  • Sao Phụ (Ất Kỳ) đến Ly (Hỏa): "Ngọc thố đương dương" (Thỏ ngọc gặp nắng) - tốt.

Tuần Giáp Ngọ, giờ Bính Thân: Lấy sao Anh làm Trực Phù, gia lên Khôn, nghịch đếm (theo Âm Độn). Nguyên Giáp Ngọ ở Ly, lấy môn Cảnh làm Trực Sứ, nghịch điểm: Giáp Ngọ (Ly), Ất Mùi (Cấn), Bính Thân (Đoài). Vậy Cảnh môn gia lên Đoài là đúng.

Kết luận: Ngày Tân Sửu, giờ Bính Thân, ba cung Ly, Đoài, Khảm được Kỳ nhưng không được môn; ba cung Cấn, Chấn, Tốn được môn nhưng không được Kỳ. Lúc này không nên dùng việc. Phàm có việc gấp muốn đi, thì xuất hành theo các phương Cát như Thiên Môn, Địa Hộ, Thiên Mã... đó gọi là "gấp thì theo thần". Lại theo phương pháp "Ngọc Nữ Phản Bế Cục" của Trương Lương mà hành, ắt có thần thiên hộ vệ. Việc chậm thì nên theo phương Kỳ môn cát mà đi là hơn.

SUY ĐOÁN CÁT HUNG THEO CỬU TINH VÀ PHÂN DÃ

Trời có Bát môn, đất có Bát phương, thêm Cửu tinh để xét khí vận, theo tin tức của sao mà ứng với tám phương. Không chỉ có thể dẹp loạn trừ bạo, giúp nước, mà còn phải biết trước được mùa, mất mùa, điềm lành, điềm dữ để có kế hoạch phòng bị trước. Thường lấy ngày Lập Xuân quá cung để bố cục, dùng Trực Phù, sao để phân biệt cát hung theo chín cung phân dã. Bởi vì Thái Ất, Kỳ Môn, Lục Nhâm đều cùng ứng nghiệm như vậy, cho nên gọi là Tam thức. Tuy nhiên, mỗi môn có khác nhau, nhưng đến chỗ tột cùng thì không có hai lẽ. Sách Thái Ất nói: "Thái Ất tại Dương cung, Liêu Đông bất dụng binh" (Thái Ất ở cung Dương, Liêu Đông không dùng binh). Chính vì Khảm, Cấn, Chấn, Tốn là Dương cung, Liêu Đông thuộc cung Cấn. "Thái Ất tại Âm cung, Thục Hán khả dĩ toàn thân" (Thái Ất ở Âm cung, Thục Hán có thể toàn thân). Chính vì Ly, Khôn, Đoài, Càn là Âm cung, Thục và Hán thuộc cung Khôn (Tây Nam) và phương Tây. Dùng Cửu tinh độn lâm bát phương để quyết định tốt xấu, tùy theo điều tốt xấu đến phương nào, mà định điềm lành dữ cho dân chúng, được mất, hạn hán, lụt lội, binh lửa, không gì không ứng nghiệm. Nếu Thiên Ất lâm phương, thì nên xuất hiện bậc đại khoa.

  • Cung Càn (Tây Bắc) thuộc vùng Chu, Tần, trên sao (thiên văn) ứng với từ Mão đến sao Vệ đầu độ.

  • Cung Khảm (Phương Bắc) ứng với vùng Ký Châu, Tấn, Ngụy, trên sao ứng với từ Tư đến Tỉnh 12 độ.

  • Cung Cấn (Đông Bắc) ứng với vận Châu, Hàn, Trịnh, trên sao ứng với phía Nam cung Giác, Cang, phía Bắc sao Giác.

  • Cung Chấn (Phương Đông) thuộc vùng nước Tề, trên sao ứng từ sao Thị 4 đến sao Vĩ đầu độ.

  • Cung Tốn (Đông Nam) ứng với vùng Kinh Châu, trên sao ứng với chỗ giáp ranh giữa sao Tỉnh, Quỷ và sao Dực, Chẩn.

  • Cung Ly (Phương Nam) ứng với vùng Dương Châu, Ngô, Việt, trên sao ứng với sao Nam Đẩu, Ngưu, Nữ.

  • Cung Khôn (Tây Nam) ứng với vùng Ích Châu, trên sao ứng với sao Tư, Tham đầu độ.

  • Cung Đoài (Chính Tây) ứng với vùng Lương Châu, nước Vệ, trên sao ứng với sao Ngưu tây, Thất 3 độ.

  • Trung cung ứng với vùng Thái, Tống, trên sao ứng với giữa sao Thị và Tâm, ký độn tại cung Khôn, giữa sao Bắc Đẩu và cán sao.

PHƯƠNG PHÁP BỐ CỤC KỲ ĐỘN

Phép Độn Giáp có ba tầng tượng Tam Tài (Trời, Đất, Người):

  • Tầng trên tượng Trời, bày Cửu tinh.

  • Tầng giữa tượng Người, mở Bát môn.

  • Tầng dưới tượng Đất, bày Bát quái, Cửu cung.
    Sao Thiên Bồng, môn Hưu và cung Khảm số 1 tương đối, đó là Tam Tài định vị.
    Tam Kỳ là Ất (Nhật Kỳ), Bính (Nguyệt Kỳ), Đinh (Tinh Kỳ). Lục Nghi là Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Một cục 60 giờ, Lục Giáp lưu hành: Giáp Tý thường cùng Mậu, Giáp Tuất cùng Kỷ, Giáp Thân cùng Canh, Giáp Ngọ cùng Tân, Giáp Thìn cùng Nhâm, Giáp Dần cùng Quý. Tuy Giáp không dùng nhưng Lục Giáp là quý thần Thiên Ất, thường ẩn dưới Lục Nghi, làm Trực Phù. Cái dùng thực sự ở đây, cho nên gọi là "Độn". Đó là ý nghĩa của "Đại Diễn hư nhất, Thái Huyền hư tam".
    Chín sao: Bồng, Nhâm, Xung, Phụ, Cầm, Anh, Nhuế, Trụ, Tâm, gọi là Trực Phù.
    Tám môn: Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, độn làm Trực Sứ.
    24 tiết khí ứng với Bát quái:

  • Khảm: Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn.

  • Cấn: Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập.

  • Chấn: Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ.

  • Tốn: Lập Hạ, Tiểu Mãn, Mang Chủng.

  • Ly: Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử.

  • Khôn: Lập Thu, Xử Thử, Bạch Lộ.

  • Đoài: Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng.

  • Càn: Lập Đông, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết.
    Bốn thời điểm phân (Xuân phân, Thu phân) và chí (Đông chí, Hạ chí) cùng bốn lập (Lập xuân, Lập hạ, Lập thu, Lập đông) là 8 tiết, được khí vượng của bát quái. Mỗi tiết có thượng, trung, hạ tam nguyên để phân biệt Thiên, Địa, Nhân nguyên. Cách nhau sáu cung mà hành, mỗi cung có thượng, trung, hạ nguyên.
    12 tiết sau Đông Chí là Dương Độn, đều đi thuận. 12 tiết sau Hạ Chí là Âm Độn, đều đi nghịch. Hai độn mỗi độn chiếm bốn quái, trong mỗi tiết khí có 6 (hào), các khí một vòng bát quái, việc năm đủ cả. Đây là lấy tháng mà xét.
    5 ngày là một hầu, cho nên phép Độn gặp ngày Giáp, Kỷ thì đổi một cục. Bởi từ Giáp Tý đến Mậu Thìn (5 ngày, 60 giờ) đủ là Thượng cục; từ Kỷ Tỵ đến Quý Dậu (5 ngày) đủ là Trung cục; từ Giáp Tuất đến Mậu Dần (5 ngày) đủ là Hạ cục. Ba cục là đạo Tam Tài. Cứ thế. Do đó, Giáp, Kỷ cộng với bốn chính (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) đều là Trung cục; cộng với bốn mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) đều là Hạ cục. Ba cục tuần hoàn đủ 60 Giáp Tý. Thượng cục thì khởi Thượng nguyên, Trung cục khởi Trung nguyên, Hạ cục khởi Hạ nguyên, đó là phép không thay đổi. Cho nên phàm ngày dù theo khí hậu suy luận, nhưng tam nguyên trước sau khác nhau, tam nguyên bắt đầu kết thúc, ngày có nhiều ít, trong kinh có phép Siêu, Tiếp, Chiết, Bổ. Siêu, Tiếp không kịp thì nhuận sinh ra. Do ngày định cục, do cục khởi nguyên, rốt cuộc không thể đổi. Đây là lấy ngày mà xét.
    Phàm chọn giờ, trước phân hai độn (Dương, Âm), tiếp theo định ba cục (Thượng, Trung, Hạ), sau mới khởi Tam nguyên. Xem ngày ở trong tiết khí nào, hợp làm độn gì; tiếp xem ngày ở trong cặp Giáp Kỷ nào, hợp làm cục gì. Rồi từ cục đó khởi độn:

  • Sau Đông Chí là Dương Độn: thuận bố Lục Nghi, nghịch bố Tam Kỳ.

  • Sau Hạ Chí là Âm Độn: nghịch bố Lục Nghi, thuận bố Tam Kỳ.
    Phép này từ Giáp đến Quý 10 can, thường theo thứ tự. Tùy cục thuận nghịch, người xưa đều bố trước Tam Kỳ, sau bố Lục Nghi, nay thì làm ngược lại. Bởi chỉ rõ Lục Giáp là Lục Nghi mà bố cục, và bố Tam Kỳ cũng theo thứ tự Đinh, Bính, Ất, đều là phép nhanh. Bố cung 5 thì ký vào Thổ Khôn, đó là thuyết "Thổ trường sinh tại Thân". Cung ký này rốt cuộc không phải chính vị, cho nên khi gặp Trực Phù, Trực Sứ ở cung 5 thì đều chú "tỵ ngũ" (tránh 5) ở dưới bản giờ, sợ người dùng nhầm.
    Sau khi chín cung đã bố, điểm ra Giáp (đầu tuần) của giờ đó ở cung nào, lấy sao ở cung đó làm Trực Phù, lấy môn ở cung đó làm Trực Sứ. Rồi dùng phép Gia Lâm:

  • Tìm địa chi của bản giờ đóng ở cung nào, đem Trực Sứ gia lên cung đó.

  • Tìm thiên can của bản giờ đóng ở cung nào (trên Thiên Bàn), đem Trực Phù gia lên cung đó.
    Sau đó xem giờ đó, bài khóa, lập phương vị, được hợp với hai môn Khai, Hưu, Sinh (Tam Cát môn) và Tam Kỳ trên trời thì chủ đại cát, mới có thể dùng việc. Dù gặp các sát Thái Tuế, Kim Thần cũng không hại. Phàm gặp cung ký (cung 5 ký Khôn), rốt cuộc không phải chính vị, dù được Kỳ cũng không nên dùng việc. Các việc nên cưỡi Tam Cát mà tránh Ngũ Hung, tiến thẳng không sợ, nhưng không thể không xét kỹ phù ứng.

QUYẾT PHẢN BẾ CỦA NGỌC NỮ

Trong Âm Dương nhị độn, có lúc tám phương đều bế, không có cửa nào để ra, thì theo "Ngọc Nữ Phản Bế Cục" mà xuất. Đó gọi là "việc chậm thì theo cửa, việc gấp thì theo thần". Phàm vào trận, đánh úp, ra vào đi xa, yết kiến quý nhân, lên quan nhậm chức, thì ra cửa Trời (Thiên Môn), vào cửa Đất (Địa Hộ), cưỡi Ngọc Nữ mà đi, người đều không thấy.
Người dùng việc, tay phải cầm đao, nín thở, làm phép vẽ đất bố cục:

  • Trong nhà: dùng 6 thước làm khuôn.

  • Trong sân: dùng 6 bước.

  • Ngoài cổng: dùng 6 trượng.

  • Ngoài đồng: dùng 240 tầm (1 tầm = 8 thước).
    Vẽ một vòng tròn bốn phía, đều lấy số 6. Xong, tay trái cầm 6 thẻ (mỗi thẻ dài 1 thước 2 tấc), tay phải cầm đao, hướng về phương vượng, thở ra một hơi khí đục, rồi thổi khí vượng, ngậm miệng uống (khí), sau đó gõ răng 72 lần, khấn vái điều trong lòng, rồi quay người về hướng vượng, khấn rằng:
    "Năm... tháng... ngày... giờ..., tôi (tên) xin thành tâm cáo bạch cùng Thiên phụ Địa mẫu, Lục Giáp, Lục Đinh, Ngọc Nữ, Lục Mậu tàng hình chi thần. Tôi ưa thích thuật trường sinh, đi không chọn ngày, ra không hỏi giờ. Nay muốn làm việc (kể việc), thành tâm cáo bạch cùng trời đất thần kỳ, Đinh Giáp đại thần. Kính theo cửa Trời, lạy mời Lục Đinh Ngọc Nữ chân quân, vẽ đất bố cục, ra cửa Trời, vào cửa Đất, bế Kim Đẩu, cưỡi Ngọc Lộ (xe ngọc). Ngọc Nữ, Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ, Câu Trần, Đằng Xà, Lục Hợp, Lục Giáp, Thần Vương, Thần Tướng cưỡi tôi mà đi, đi đến chỗ nào, tả hữu tuần phòng, đi thì đi, dừng thì dừng, nằm thì nằm, dậy thì dậy, trừ bỏ trộm cướp, quỷ mị tiêu vong. Quân tử thấy tôi, vui mừng phi thường; tiểu nhân thấy tôi, hoan hồ hoảng sợ; nam nữ thấy tôi, cung cấp rượu ngon. Trăm ác quỷ giặc thấy tôi thì chết. Nay bước theo Vũ bộ, trên ứng với sao Thiên Cương, văn ngọc bên cạnh, dưới trừ bất tường, vạn tinh yếm phục, đi đến đâu không tai ương, chữa bệnh thì khỏi, cúng tế thì thông, đánh đâu vỡ đó, cầu gì được nấy, muốn gì thành nấy. Vua quan, đại thần, quan lại, trưởng lại thấy tôi, yêu như con đỏ. Hôm nay xin mời Ngọc Nữ chân quân hộ vệ tôi. Cấp cấp như luật lệnh của Cửu Thiên Huyền Nữ Đạo Mẫu Nguyên Quân."

Chú rằng:
"Ta trái sao Khuê, phải sao (phiếu), phải Khuê, trái (phiếu), trên Khuê dưới (phiếu), dưới Khuê trên (phiếu). Ta ẩn thân trong Tam Ngũ, trong (quán) (hành), trong (quán) (phủ). Điên đảo Tam Ngũ, cúi ngước bộ cương. Vì ta tạo hình. Ta cõng ngày cưỡi tháng, chân đạp Bắc Đẩu, Tam Thai, Thất Tinh che ta, Ngũ Tinh chiếu ta, Nhị thập bát tú sắp xếp, vệ ta, toàn bộ chòm sao (toàn bộ các chòi sao) vệ thân ta. Mặc sao, đạp sao, cùng sao làm lễ. Nay ta bộ cương, Tam Ngũ hợp thành, bước tới, đạp cương, tới điềm lành, Tử Vi Tam Ngũ vang tiếng, cưỡi cương ngự đấu, cưỡi chính thiên uy. Muôn đời thường còn, cùng mặt trời mặt trăng sáng chói. Tà đạo ngũ hại đều phục, dưới Khuê Cương không động không tác. Cấp cấp như luật lệnh."

Chú xong, tay trái cầm thẻ, tay phải cầm đao, khởi từ cửa Quỷ (cung Cấn), vẽ một vòng tròn bên trái, bày bốn phương, tám cung, mười hai vị thần.
Ngày Giáp: vào từ đất Giáp, ngày Ất từ đất Ất, ngày Bính từ đất Bính, ngày Đinh từ đất Đinh, ngày Canh từ đất Canh, ngày Tân từ đất Tân, ngày Nhâm từ đất Nhâm, ngày Quý từ đất Quý.
Một thuyết: Ngày Mậu chỉ từ Càn vào, ngày Kỷ chỉ từ Tốn vào. Tay cầm 6 thẻ khấn váy bốn phương:

  • "Kính mời phương Đông Công Tào, Đại Xung, Thiên Cương, Thanh Đế Giáp Ất đại thần, giáng lâm cục sở, thị vệ thân ta."

  • "Kính mời phương Nam Thái Ất, Thắng Quang, Tiểu Cát, Xích Đế Bính Đinh đại thần, giáng lâm cục sở, thị vệ thân ta."

  • "Kính mời phương Tây Truyền Tống, Tòng Khuê, Hà Khôi, Bạch Đế Canh Tân đại thần, giáng lâm cục sở, thị vệ thân ta."

  • "Kính mời phương Bắc Đăng Minh, Thần Hậu, Đại Cát, Hắc Đế Nhâm Quý đại thần, giáng lâm cục sở, thị vệ thân ta."

Khấn xong bốn phương thần, bèn đặt thẻ theo ngày, giờ cần dùng.

Ví dụ:
Ngày Tý, đặt thẻ thứ nhất lên cung Tý, thẻ thứ hai lên Sửu, thẻ thứ ba lên Dần, thẻ thứ tư lên Mão, thẻ thứ năm lên Thìn, thẻ thứ sáu lên Tỵ.

Thuật nói (các câu thơ ứng với 12 chi):

  1. Chuột chạy mất hang vào chợ chó (Tý): Dời thẻ thứ nhất từ Tý đặt lên Tuất. Kêu lớn: "Thanh Long phương Đông xuống".

  2. Trâu vào vườn thỏ ăn cỏ ngọt (Sửu): Dời thẻ thứ hai từ Sửu đặt lên Mão. Kêu lớn: "Chu Tước phương Nam xuống".

  3. Hổ dũng mãnh vào cung Tỵ (Dần): Dời thẻ thứ ba từ Dần đặt lên Tỵ. Kêu lớn: "Câu Trần phương Tây xuống".

  4. Thỏ vào chuồng trâu nằm không dậy (Mão): Dời thẻ thứ tư từ Mão đặt lên Sửu. Kêu lớn: "Bạch Hổ phương Tây xuống".

  5. Rồng vào chuồng ngựa bị giữ lại (Thìn): Dời thẻ thứ năm từ Thìn đặt lên Ngọ. Kêu lớn: "Huyền Vũ phương Bắc xuống".

  6. Rắn uốn khúc đến trong cung Thân (Tỵ): Dời thẻ thứ sáu từ Tỵ đặt lên Thân. Kêu lớn: "Lục Hợp phương Đông xuống".

Nếu ngày Ngọ: bắt đầu đặt thẻ thứ nhất lên cung Ngọ.
7. Ngựa vào suối Rồng uống nước ngọt (Ngọ): Dời thẻ Ngọ đặt lên Thìn.
8. Dê non đổi vị trí vào làng Dậu (Mùi): Dời thẻ Mùi đặt lên Dậu.
9. Vượn nhảy nhót hướng về cung Hợi (Thân): Dời thẻ Thân đặt lên Hợi.
10. Gà bay đáp xuống vị trí Dê (Dậu): Dời thẻ Dậu đặt lên Mùi.
11. Chó vào hang chuột bắt con (Tuất): Dời thẻ Tuất đặt lên Tý.
12. Heo vào hang hổ tự ném mình chết (Hợi): Dời thẻ Hợi đặt lên Dần.

Sau khi đã dời các thẻ, hai chi kẹp một can, cái nào thành trước là cửa Trời (Thiên Môn), cái nào thành sau là cửa Đất (Địa Hộ).
Ví dụ ngày Tý: lấy thẻ thứ hai (Sửu) che kín cửa Trời, lấy thẻ thứ sáu (Thân) che ngang cửa Đất, hướng về phía Canh (có Ngọc Nữ) mà đi ra ngoài 120 bước, không được quay đầu lại. Nếu có việc, ba lần gọi tên Ngọc Nữ của ngày hôm đó, đồng thời niệm chú Ngọc Nữ, hoặc niệm thêm chú Tam Kỳ rồi đi, đại cát. Nếu gặp Kỳ nào thì niệm chú Kỳ đó.
Nếu gặp trường hợp bốn chính (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) cửa Đất không thành, thì lấy thẻ thứ nhất đặt vào cung xung (với nó) để thành cửa Đất, cũng làm theo phép này, lùi người một chút rồi đi.

  • Đến cung Khảm gọi là "Chu Tước đầu giang", lại nói "Đinh nhập Nhâm Quý hương, uy đức thu tàng", nên cẩn thận tĩnh lặng, đừng hiển dương.