ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH (THƯỢNG QUYỂN A)

ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH (THƯỢNG QUYỂN A)

[Đề yếu]

Độn Giáp Phù Ứng Kinh (Kinh về sự ứng nghiệm của Phù trong Độn Giáp), gồm 3 quyển, do Dương Duy Đức (楊維德) và các cộng sự đời Tống soạn. Dương Duy Đức, quê quán và thân thế không rõ, Tống Sử – Phương Kỹ Truyện chép rằng ông có thể truyền thụ pháp đo đạc thiên văn (hồn nghi pháp). Độn Giáp Phù Ứng Kinh 3 quyển không thấy ghi trong Tống Sử – Nghệ Văn Chí, nhưng được chép trong Thông Chí của Trịnh Tiều và Thuật Cổ Đường Thư Mục của Tiền Tôn Vương, đều ghi 3 quyển. Mã Đoan Lâm trong Văn Hiến Thông Khảo chép là 2 quyển. Sách này dùng Độn Giáp để luận việc hành quân, nên tránh hay tiến, cũng như cát hung của trăm việc. Tứ Khố Toàn Thư Đề Yếu nhận xét: "Lập thuật tinh mật, khảo cứu tường minh, thật đáng là sách mà các nhà ngũ hành không thể bỏ qua". Có bản Uyển Ủy Biệt Tàng.

Lời tựa của Tống Nhân Tông ngự chế cho Cảnh Hựu Độn Giáp Phù Ứng Kinh

Xét rằng, sách Độn Giáp xuất phát từ Hà Đồ. Vào thời Hoàng Đế, sai Phong Hậu đặt tên, bắt đầu lập nên Âm Dương nhị độn, tổng cộng 1080 cục. Đến đời Thái Công (Khương Tử Nha), ước lược còn 72 cục. Trương Lương giúp nhà Hán, bàn định 18 cục, suy lịch, định giờ, siêu thần, tiếp khí, bố bát môn, hiển đức, xem xét việc binh để nghiệm, nhằm phân rõ thắng bại, chẳng gì không tốt lành. Bởi thế, bậc vương giả xuất quân, thuận lẽ trời để đánh kẻ ngỗ nghịch, trước hết dùng cỏ thi và mai rùa (bốc quẻ), lấy được trung địa chi khí, rồi mới nói, mới bàn, mới hành động, hành động chẳng gì chẳng tốt – chính là như vậy.

Ta (Tống Nhân Tông) nối ngôi ba đời thánh, ở trên muôn dân. Trong những lúc rỗi việc triều chính, nghĩ đến trăm công việc, bèn thuận theo lẽ trời mà bày binh pháp, mượn thần đạo để thiết lập giáo hóa. Trong kho tàng ở núi Bồng Lai có bộ bí kinh Long Giáp, tuy sách vở nhiều, nhưng văn tự rườm rà, lời bàn tạp loạn, mỗi ý một khác. Ta chọn lấy những phần tinh túy, mong được sự ứng nghiệm sáng tỏ, bèn lấy sách ấy, sai Thái tử Tẩy Mã kiêm Ty Thiên Đài Xuân Quan Chính Quyền, Đồng Giám Phán Dương Duy Đức, Xuân Quan Phó Vương Dụng Lập, Hàn Lâm Thiên Văn Lý Tự Chính, Hà Trạm... soạn tập tại Tư Thiện Đường, lại sai Nội Thị Đông Đầu Cung Phụng Quản Câu, Ngự Dược Viện Nhiệm Thành Lượng, Đặng Bảo Tín, Lý Phủ Kế Hòa, Chu Duy Đức tổng quản công việc. Sau vài tháng, sách thành, gồm 3 quyển, đặt tên là Cảnh Hựu Độn Giáp Phù Ứng Kinh.

Xưa, Cơ Tử diễn giải Lạc Thư, giúp Vũ Vương nhà Chu nối ngôi nhà Thương; Tiêu Hà thu nhặt sách vở nhà Tần, giúp Cao Tổ nhà Hán thành nghiệp nhà Hán. Huống chi lời của bậc thánh hiền có thể thông suốt đức của thần minh, chẳng rời khỏi lòng bàn tay, mà có thể đạt đến cái học của người trời. Ta noi theo đạo thượng cổ, mong mỏi làm cho muôn nước yên bình. Xem ba quyển sách này, âm dương biến hóa, trăm mối nghìn đầu, bậc hiền tài há có thể biết hết? Kẻ lưu giữ há có thể dùng hết? Người dùng há có thể tận dụng hết? Nếu không phải người ham thích, chưa chắc nhà nào có bản, tự mình dụng tâm, cố gắng nhiều năm. Lên với quốc gia, xuống với thứ dân, phàm làm bất cứ việc gì, đều nên dùng. Xưa, nhà Hán tìm kiếm sách lạc khắp thiên hạ, lại sai Lưu Hướng hiệu đính sách trong cấm trung, khiến cho sự văn vật thịnh trị không hổ thẹn với thời nào vậy.


ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH (THƯỢNG QUYỂN A)

QUYỂN THƯỢNG

Chương 1: Tổng tự Độn Giáp

Phép cổ: "Độn" là ẩn, là đạo u huyền, che giấu. "Giáp" là nghi (Nghi), nghĩa là Lục Giáp, Lục Nghi, ở chỗ Trực Phù, là vị thần quý tột bậc trên trời. Thường ẩn dưới Lục Mậu, bởi lẽ dùng cơ mưu binh, thông suốt đức của thần minh, cho nên đặt tên là Độn Giáp.

Chương 2: Phép chế tạo thức bàn (Mô hình bàn Kỳ Môn)

Xưa, Hoàng Đế nhận phép Long Mã (Rồng ngựa), sai Phong Hậu diễn giải mà thành Độn Giáp, chế tạo thức bàn gồm ba tầng, bắt chước Tam Tài (Trời – Đất – Người):

  • Tầng trên: tượng trời, bố Cửu Tinh.

  • Tầng giữa: tượng người, mở Bát Môn.

  • Tầng dưới: tượng đất, bố Bát Quái, để trấn giữ tám phương.

Theo Đông chí và Hạ chí, lập nên Âm độn và Dương độn, một thuận một nghịch, để bố trí Tam Kỳ, Lục Nghi.

Chương 3: Cung mà Cửu Tinh đóng giữ

Phép cổ nói: Trời có Cửu Tinh, để trấn giữ Cửu Cung; Đất có Cửu Địa, để ứng với chín châu. Thức bàn dựa trên linh đồ của rùa thần và Lạc Thư: lưng đeo 9, đầu đội 1, trái 3 phải 7, 2 và 4 là vai, 6 và 8 là chân, phàm 5 ở trung cung. Trung cung là Thổ, con của Hỏa, mẹ của Kim, được gửi tạm ở phương Tây Nam, cung Khôn.

  • Thiên Bồng chủ cung 1 (Khảm)

  • Thiên Nhuế chủ cung 2 (Khôn)

  • Thiên Xung chủ cung 3 (Chấn)

  • Thiên Phụ chủ cung 4 (Tốn)

  • Thiên Cầm chủ cung 5 (Trung)

  • Thiên Tâm chủ cung 6 (Càn)

  • Thiên Trụ chủ cung 7 (Đoài)

  • Thiên Nhậm chủ cung 8 (Cấn)

  • Thiên Anh chủ cung 9 (Ly)

Chương 4: Phép Bát Môn

Phép cổ nói: Trời có tám gió (Bát Phong), để trực tiếp với Bát Quái; Đất có tám phương, để ứng với Bát Tiết (tám tiết khí). Mỗi Tiết có ba Khí, mỗi Khí có ba Hậu. Như vậy, tám Tiết lấy ba nhân lên, thành 24 tiết khí; lại nhân với ba, 72 hậu được đầy đủ.

Chương 5: Suy tám Tiết lấy chủ quái làm sơ trực (đầu tiên)

  • Đông chí: cung 1 Khảm

  • Lập xuân: cung 8 Cấn

  • Xuân phân: cung 3 Chấn

  • Lập hạ: cung 4 Tốn

  • Hạ chí: cung 9 Ly

  • Lập thu: cung 2 Khôn

  • Thu phân: cung 7 Đoài

  • Lập đông: cung 6 Càn

Dương độn: Cục thượng, trung, hạ

  • Đông chí, Kinh trập: 1, 7, 4

  • Tiểu hàn: 2, 8, 5 (cùng suy)

  • Đại hàn, Xuân phân: 3, 9, 6

  • Mang chủng: 6, 3, 9 (là đúng)

  • Cốc vũ, Tiểu mãn: 5, 2, 8

  • Lập xuân: 8, 5, 2 (theo nhau)

  • Thanh minh, Lập hạ: 4, 1, 7

  • Tiểu mãn: 9, 6, 3 (là kỳ)

Âm độn: Cục thượng, trung, hạ

  • Hạ chí, Bạch lộ: 9, 3, 6

  • Tiểu thử: 8, 2, 5 (ở giữa)

  • Đại thử, Thu phân: 7, 1, 4

  • Lập thu: 2, 5, 8 (tuần hoàn)

  • Sương giáng, Tiểu tuyết: 5, 8, 2

  • Đại tuyết: 4, 7, 1 (tương quan)

  • Xử thử: 1, 4, 7

  • Lập đông, Hàn lộ: 6, 9, 3


ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH – QUYỂN THƯỢNG (tiếp)

Chương 6: Phép bố cục

Nhất Bồng tử thượng nhất Khảm Hưu,
Nhuế tử suy bài đệ nhị lưu.
Cánh hữu Thương, Xung tịnh Trụ, Phụ,
Bất ly tam tứ sổ vi đầu.
Cầm tinh tử ngũ, Tâm khai lục,
Trụ kinh hoàn tòng thất thượng cầu.
Nội ngoại Nhậm sinh cư bát vị,
Cửu tầm Anh Cảnh trục phương tu.

(Các cung và sao, môn đã được dịch chi tiết ở các bài trước)

Bốn tiết khí trên đây gồm 12 khí, mỗi khí chia ba khí: Thiên, Địa, Nhân, tương ứng với ba cục thượng, trung, hạ. Sau Đông chí là Dương độn, sau Hạ chí là Âm độn. Theo từng tiết khí, Dương độn thì thuận, Âm độn thì nghịch mà bố trí.

Chương 7: Phép bố cục thượng, trung, hạ (gọi là Phù đầu Giáp – Kỷ)

  • Ngày Giáp – Kỷ, nếu là Trung (仲 – con thứ, tức các chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu): đó là Thượng cục.

    • Giáp Tý, Kỷ Mão, Giáp Ngọ, Kỷ Dậu là đầu của Thượng cục.

    • Giáp Tý đến Mậu Thìn, Kỷ Mão đến Quý Mùi, Giáp Ngọ đến Mậu Tuất, Kỷ Dậu đến Quý Sửu: 24 khí này dùng Thượng cục trong 20 ngày đó.

  • Ngày Giáp – Kỷ, nếu là Mạnh (孟 – con trưởng, tức các chi Dần, Thân, Tỵ, Hợi): đó là Trung cục.

    • Kỷ Tỵ, Giáp Thân, Kỷ Hợi, Giáp Dần là đầu của Trung cục.

    • Kỷ Tỵ đến Quý Dậu, Giáp Thân đến Mậu Tý, Kỷ Hợi đến Quý Mão, Giáp Dần đến Mậu Ngọ: 20 ngày này là Trung cục.

  • Ngày Giáp – Kỷ, nếu là Quý (季 – con út, tức các chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi): đó là Hạ cục.

    • Giáp Tuất, Kỷ Sửu, Giáp Thìn, Kỷ Mùi là đầu của Hạ cục.

    • Giáp Tuất đến Mậu Dần, Kỷ Sửu đến Quý Tỵ, Giáp Thìn đến Mậu Thân, Kỷ Mùi đến Quý Hợi: 20 ngày này là Hạ cục.

Ví dụ: từ Giáp Tý đến Mậu Dần (15 ngày) là ba nguyên (nguyên thượng, trung, hạ), mỗi nguyên 5 ngày.

Chương 9: Siêu thần, tiếp khí, chiết cục, bổ cục

Giả sử ngày Giáp – Kỷ, đến ngày thứ 20 của cục Quý (Hạ cục), lại gặp ngày Ất Canh là ngày Lập xuân, thì dùng ngay Hạ cục của Lập xuân, chỉ được 4 ngày; đến ngày thứ 15 (tức ngày Giáp – Kỷ sau) lại bổ đủ Hạ cục, tổng cộng 5 ngày, 60 giờ đủ. Các tiết khí như Tiểu thủy (tức Vũ thủy?) cũng theo phép này. Đây gọi là phép chiết bổ cục, siêu tiếp chi khí đã rõ.

Chương 10: Ứng biến của khí (tiết khí) đối với cục

Ví dụ: Vào ngày Giáp Tý, giờ Tỵ, giao tiết khí Đông chí (chính khí), thì mới có thể dùng Độn, đó là Thiên nguyên Thượng cục. Còn trước giờ Thìn, chỉ được dùng Âm độn, thuộc Thượng cục của Đại tuyết.

Thiên Ất, Trực Phù, Trực Sử khởi ở cung khác nhau

Vương Chương nói: Thiên Ất, Trực Phù, Trực Sử khởi ở cung khác nhau, tức là cửa trực (Trực Môn) xung khắc với nhau. Âm, Dương nhị độn, mỗi độn có hai sứ (Trực Sử). Ví dụ: Sau Đông chí, Dương sứ khởi đầu ở cung 1, Âm sứ khởi đầu ở cung 9; Sau Hạ chí, Âm sứ khởi đầu ở cung 9, Dương sứ khởi đầu ở cung 1. Cho nên nói: khởi ở cung khác nhau.

"Trực môn tương xung" nghĩa là: Sau Đông chí, Dương sứ khởi từ Hưu Môn, Âm sứ khởi từ Cảnh Môn; Sau Hạ chí, Âm sứ khởi từ Cảnh Môn, Dương sứ khởi từ Hưu Môn. Cho nên gọi là cửa trực xung khắc.

Ngày nay dùng Độn, sau Đông chí 182 ngày 62,5 phần (tức 182,625 ngày) trải qua phía đông của con đường Tý – Ngọ, Dương khí chủ sự, chỉ dùng Dương độn và Âm sứ; sau Hạ chí 182 ngày 62,5 phần trải qua phía tây của con đường Tý – Ngọ, Âm khí chủ sự, khó dùng Dương sứ và Âm độn. Cổ kinh nói: "Sau Đông chí dùng Âm sứ, sau Hạ chí dùng Dương sứ" – đây là việc ẩn tàng, không hiển lộ trong kinh thuật. Đó là sự cùng tột trời đất, sánh với tạo hóa, để thông suốt đức của thần minh, để phân loại tình cảm của vạn vật. Sự hồi chuyển của ba ánh sáng (nhật, nguyệt, tinh), sự qua lại của bốn mùa, hoặc tiêu hoặc tức, hoặc thăng hoặc giáng, mà vận hành trong vô hình, bày ra trong vô tượng, có những điều không thấy, để chờ đợi người sau.

Một thuận, một nghịch ứng theo biến của tiết khí

Cát Hồng nói: Đông chí khí ứng thì Dương sứ đi thuận, Âm sứ đi nghịch; sau Hạ chí khí ứng thì Âm sứ đi thuận, Dương sứ đi nghịch. "Ứng tiết biến" nghĩa là dùng phép tính toán để tìm thời điểm giao khí của Đông chí và Hạ chí mà làm rõ. Hai mươi bốn tiết khí, mỗi khí tìm thời điểm giao khí, dùng phép "siêu thần, tiếp khí" của Độn Giáp. Đó là cái tinh yếu, miễn sao cát hung có chỗ dựa, dùng vào thì không sai lầm.

Hai độn, Trực Phù, Trực Sử hội hợp ở trung cung

Cát Hồng nói: "Hợp ở trung cung" nghĩa là: Dương độn, Dương sứ, vào thượng nguyên ngày Giáp Kỷ, giờ Tý nửa đêm, khởi sinh Giáp Tý (tức giờ Tý ngày Giáp Tý), ban đầu khởi ở cung 1, trải qua 5 giờ đến giờ Mậu Thìn, ở cung 5; Âm sứ ban đầu khởi ở cung 9, đi nghịch trải qua 5 giờ đến Mậu Thìn, cũng ở cung 5. Âm độn, Âm sứ, vào thượng nguyên ngày Giáp Kỷ mùa Hạ chí sinh Giáp Tý, ban đầu khởi ở cung 9, trải qua 5 giờ đến Mậu Thìn, ở cung 5; Dương sứ ban đầu khởi ở cung 1, đi thuận trải qua 5 giờ đến Mậu Thìn, cũng ở cung 5. Cho nên nói: "hợp ở trung cung".

Hai độn xuất phát từ lục tứ (6 và 4)

Cát Hồng nói: "Vượt ra khỏi ngũ thổ, quy về cửu nhất" nghĩa là: Dương độn, Dương sứ khởi từ cung 1 (Tý) mà kết thúc ở cung 9; Âm độn, Âm sứ khởi từ cung 9 (Tý) mà kết thúc ở cung 1. Quy về cung 9 (hoặc cung 1), cho nên nói: "vượt qua ngũ thổ, quy về cửu nhất".

Âm Dương nhị độn

Kinh Dịch gọi rằng: Âm Dương nhị độn, nghĩa là sau Đông chí, từ cung 1 đến cung 5 là Dương độn, từ cung 5 đến cung 9 là Âm độn; sau Hạ chí, từ cung 9 đến cung 5 là Dương độn, từ cung 5 đến cung 1 là Âm độn. Lấy cung 5 làm nơi cả Âm và Dương cùng độn. Sau Đông chí, nửa phía nam cung 5 là Dương độn, nửa phía bắc là Âm độn. Sau Hạ chí, nửa phía bắc cung 5 là Dương độn, nửa phía nam là Âm độn. Phàm khi Trực Sử ở cung 5, chủ khách thắng bại khó phân, đó gọi là hung, cho nên nói: "tị ngũ" (tránh cung 5).

Chín cung cát hung

Tam Nguyên Kinh nói: Lúc giờ (thời hạ) được Thiên Phụ, Thiên Cầm, Thiên Tâm là thượng cát; được Thiên Xung, Thiên Nhậm là thứ cát; được Thiên Bồng, Thiên Nhuế là đại hung; Thiên Anh, Thiên Trụ là tiểu hung. Lại xét theo hành vượng, hưu tù của ngũ hành mà nói: Nếu sao đại hung được vượng tướng khí thì thành tiểu hung; sao tiểu hung được vượng tướng khí thì thành trung bình; nếu sao thượng cát, thứ cát không có khí (suy tử) thì thành trung bình. Nên xét kỹ mà dùng.

Ví dụ: Sau Đông chí, lúc giờ được sao Thiên Nhậm (cát), lại thừa vượng tướng chi khí thì thành thượng cát.

 

Cửu Tinh Hưu, Vượng (Chín sao lúc suy, lúc vượng)

《Tam Nguyên Kinh》nói: "Cửu tinh hưu, vượng" nghĩa là: Chín sao, mỗi sao vượng vào tháng mà nó sinh ra (tháng bị nó sinh), tướng (tương) vào tháng cùng hành với nó, tử (chết) vào tháng sinh ra nó, tù (tù) vào tháng khắc nó (quan quỷ), hưu (suy) vào tháng nó sinh ra (tài – tức tháng mà nó khắc).

Ví dụ: Sao Thiên Bồng (Thủy) vượng vào tháng Dần, Mão (Mộc – Thủy sinh Mộc); tướng vào tháng Hợi, Tý (Thủy); tử vào tháng Thân, Dậu (Kim sinh Thủy); tù vào các tháng cuối mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi – Thổ khắc Thủy); hưu vào tháng Tỵ, Ngọ (Hỏa – Thủy khắc Hỏa). Ngày và giờ cũng tương tự.

Cửu Tinh Sở Chủ (Điều chủ quản của chín sao)

  • Sao Thiên Bồng (Thiên Bồng): lúc này nên yên ổn biên giới, tu bổ thành trì. Mùa xuân, hạ, tả tướng (phó tướng) thắng lớn; mùa thu, đông có người chết, quân lính bị hại. Lợi cho chủ, không lợi cho khách. Cưới hỏi, gả chồng đều xấu. Dọn nhà bị hỏa hoạn, đấu tranh thấy máu. Làm quan nhiều trộm cướp. Sửa sang cung thất, buôn bán đều xấu.

  • Sao Thiên Nhuế (Thiên Nhuế): lúc này nên sùng đạo tu hành, kết giao bạn bè, thọ nghiệp thầy dạy, tốt. Không thể dùng binh, cưới gả, kiện tụng, dọn nhà, xây phòng. Mùa thu, đông tốt; mùa xuân, hạ xấu.

  • Sao Thiên Xung (Thiên Xung): lúc này nên xuất quân báo thù. Mùa xuân, hạ, tả tướng thắng; mùa thu, đông không có công. Không nên cưới gả, dọn nhà, làm quan, xây phòng, tế tự, buôn bán.

  • Sao Thiên Phụ (Thiên Phụ): lúc này nên giữ mình, giữ đạo, thiết lập giáo hóa, tu sửa. Cầm quân mùa xuân, hạ thắng, chiếm được đất bằng ngàn dặm. Cưới gả nhiều con cháu. Dọn nhà, buôn bán, làm quan, tu sửa, mùa xuân hạ dùng có hỷ sự.

  • Sao Thiên Cầm (Thiên Cầm): lúc này nên tế tự cầu phúc, dứt trừ hung họa. Cầm quân bốn mùa đều tốt, trăm phúc giúp đỡ. Không đánh mà dùng mưu, kẻ địch sợ phục. Thưởng công, phong tước, dọn nhà, làm quan, tế tự, buôn bán, cưới gả đều tốt.

  • Sao Thiên Tâm (Thiên Tâm): lúc này nên chữa bệnh, bào chế thuốc. Cầm quân mùa thu, đông thắng, chiếm đất ngàn dặm; mùa xuân, hạ không lợi. Cưới gả, làm quan, xây phòng, tế tự, buôn bán: mùa thu đông tốt, mùa xuân hạ xấu. Lợi cho quân tử, không lợi cho tiểu nhân.

  • Sao Thiên Trụ (Thiên Trụ): lúc này nên đóng quân tự vững, ẩn tích giấu hình. Cầm quân thì xe hỏng ngựa thương, quân sĩ bại vong. Không thể dọn nhà, làm quan, buôn bán. Nên cưới gả, sửa chữa, tế tự.

  • Sao Thiên Nhậm (Thiên Nhậm): lúc này nên đi thăm viếng người có tài năng. Cầm quân bốn mùa đều tốt. Muôn thần giúp đỡ, kẻ địch tự hàng. Cưới gả tốt, sinh con cháu. Làm quan tốt. Dọn nhà, xây phòng thì xấu.

  • Sao Thiên Anh (Thiên Anh): lúc này nên xuất hành, đi xa, uống rượu làm vui. Lợi cho cưới gả. Không nên xuất binh, dọn nhà, làm quan, xây phòng, kiện tụng, buôn bán.

Ví dụ: Vào Đông chí, Thượng nguyên, Dương độn cục 1, ngày Giáp Kỷ, nửa đêm sinh Giáp Tý, khởi từ cung 1, đi thuận đến giờ Bính Dần, ở cung 3, lúc giờ được sao Thiên Xung làm trực tú (sao trực), thì xuất quân báo thù, lại được thừa vượng khí.

Ví dụ: Vào Hạ chí, Thượng nguyên, Âm độn cục 9, ngày Giáp Kỷ, nửa đêm sinh Giáp Tý, khởi từ cung 9, thì sao Thiên Anh là cung trực tú; đến giờ Ất Sửu, ở cung 8, lúc giờ được sao Thiên Nhậm, nên đi thăm viếng, thông lợi tài lộc.

Bát Môn Sở Sinh (Điều sinh ra từ tám cửa)

  • Khai Môn (cửa Mở): nên đi xa, chinh phạt, đi đến đâu cũng thông đạt.

  • Hưu Môn (cửa Nghỉ): nên hòa hợp mọi việc, dàn xếp binh, học nghề.

  • Sinh Môn (cửa Sinh): nên yết kiến quý nhân, khởi đầu công việc xây dựng.

  • Thương Môn (cửa Tổn thương): nên săn bắn, trừng phạt, đi đường gặp trộm cướp.

  • Đỗ Môn (cửa Đóng): nên chặn đánh, ẩn núp, trừng trị kẻ phản nghịch.

  • Cảnh Môn (cửa Cảnh): nên dâng biểu, sai sứ, đột trận phá vây.

  • Tử Môn (cửa Chết): nên hành hình, giết chóc, phúng viếng, đưa tang.

  • Kinh Môn (cửa Kinh): nên bắt bớ, kiện tụng, tấn công kẻ gây kinh động.

Trong tám cửa trên, ba cửa Khai, Hưu, Sinh là tốt, nên xuất hành dưới cửa đó. Nếu lại hợp với Tam Kỳ và sao tốt thì là thượng cát. Năm cửa hung (Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh) không nên xuất hành dưới đó, nên tránh.

Ví dụ: Vào Đông chí, Thượng nguyên, Dương độn cục 1, ngày Giáp Kỷ, nửa đêm sinh Giáp Tý, lúc này là phục ngâm (văn phục), Sinh Môn ở cung 8 (Cấn), nên yết kiến quý nhân, khởi đầu công việc xây dựng, tốt.

Tam Giáp (Ba loại Giáp)

  • Thượng cục – Trọng Giáp: Ngày Giáp Kỷ, nửa đêm sinh Giáp Tý, ngày Bính Tân, giờ Ngọ là Giáp Ngọ. Lúc này, "quan cách, hình đức" ở cửa, dùng binh mà đánh trước thì bại, không thể ra vào. Lợi cho việc trốn chạy. Chủ và khách đều xấu.

  • Trung cục – Mạnh Giáp: Ngày Mậu Quý, rạng sáng (giờ Dần) là Giáp Dần; ngày Ất Canh, giờ Thân là Giáp Thân. Lúc này, dương khí ở trong, âm khí ở ngoài, lợi cho việc giấu quân, giữ thành, không nên xuất quân. Lợi cho chủ, không lợi cho khách.

  • Hạ cục – Quý Giáp: Ngày Đinh Nhâm, giờ Thìn (giờ ăn sáng) là Giáp Thìn; ngày Giáp Kỷ, lúc hoàng hôn (giờ Tuất) là Giáp Tuất. Lúc này, dương khí ở ngoài, âm khí ở trong, lợi cho xuất hành, động chúng, trăm việc tốt. Lợi cho khách, không lợi cho chủ.

Lại nói: Giờ nửa đêm ngày Nhâm Giáp, ba Giáp đều hợp – gọi là hôm ấy là Giáp, Trực Phù và giờ đều là Giáp, cho nên gọi là Tam Giáp hợp.

Tam Kỳ Đắc Sứ (Ba kỳ được dùng)

Cát Hồng nói: Nếu được Tam Kỳ đắc sứ, thì càng tốt lành. Nghĩa là ở trên Lục Giáp, tự có kỳ làm sứ. Cụ thể:

  • Giáp Tuất, Giáp Ngọ: Ất làm sứ.

  • Giáp Tý, Giáp Thân: Bính làm sứ.

  • Giáp Thìn, Giáp Dần: Đinh làm sứ.

Ví dụ: Dương độn cục 3, ngày Ất Canh, giờ Đinh Hợi, lúc này Lục Ất (Nhật kỳ) ở trên lâm cung 9 (Ly) là Giáp Ngọ, đó là Ất kỳ đắc sứ.

Ví dụ: Âm độn cục 3, ngày Bính Tân, giờ Nhâm Thìn, lúc này Lục Ất (Nhật kỳ) lâm cung 9 là Giáp Ngọ, đó là Ất kỳ đắc sứ.

Ví dụ: Dương độn cục 5, ngày Đinh Nhâm, giờ Ngọ là Bính Ngọ, lúc này Bính kỳ lâm cung 1 (Khảm) là Giáp Tý, đó là Bính kỳ đắc sứ.

Ví dụ: Âm độn cục 5, ngày Bính Tân, giờ Kỷ Hợi, lúc này Đinh kỳ lâm cung 4 (Tốn) là Giáp Thìn, đó là Đinh kỳ đắc sứ.

Phàm dùng Độn Giáp, nếu Tam Kỳ đắc sứ lại hợp với sao tốt và cửa tốt thì trăm việc đều tốt.

Tam Kỳ Chi Linh (Sự linh ứng của ba kỳ)

Cát Hồng nói: Tam Kỳ chi linh, nên dùng để xuất hành. Tam Kỳ là: Lục Ất là Nhật kỳ, Lục Bính là Nguyệt kỳ, Lục Đinh là Tinh kỳ. Kết hợp với các thần tốt như Khai, Hưu, Sinh ba cửa thì gọi là Tam Kỳ chi linh. Hai cửa tốt mỗi cửa cùng với một kỳ lâm phương, đó là đạo cát thanh hư. Lúc này, phương này, xuất binh hành quân, chinh phạt cướp bóc, dương uy diễu võ, phát hào thi lệnh đều tốt. Lại cầu phúc, an xã tắc, hóa dân chúng.

Ví dụ: Đông chí, Hạ nguyên, Dương độn cục 4, ngày Mậu Quý, giờ Ngọ là Mậu Ngọ, lúc này Lục Mậu ở cung 4, Trực Phù Thiên Anh gia thời can Mậu Ngọ (tức Lục Mậu) ở cung 4. Vì Thiên Anh gia cung 4, đó là cung 4 có Mậu, thì Lục Đinh (Tinh kỳ) lâm cung 6 (Càn). Trực Sứ Cảnh Môn gia cung 6, tức Hưu Môn và Lục Đinh Tinh kỳ cùng lâm cung 6 (Tây Bắc), trăm việc tốt.

Ví dụ: Hạ chí, Thượng nguyên, Âm độn cục 9, ngày Mậu Quý, giờ Kỷ Mùi, Lục Kỷ ở cung 8 (Cấn), Trực Phù Thiên Phụ gia thời can Lục Kỷ ở cung 8, tức Lục Ất Nhật kỳ lâm cung 7 (Đoài). Trực Sứ Đỗ Môn gia cung 8, tức Hưu Môn hợp Lục Ất Nhật kỳ cùng lâm cung 7 (chính Tây), tốt.

Cửu Thiên Chi Thượng Lục Giáp Tý

Vương Chương nói: "Cửu Thiên chi thượng lục Giáp Tý" nghĩa là Lục Giáp là Trực Phù. Trong lúc có Lục Giáp, quân lính nên quay lưng về phía cung mà Trực Phù đang lâm, đánh vào phía xung khắc với nó, thì không gì không thắng. 《Kinh》nói: "Dương binh ư Cửu Thiên chi thượng" (Giương binh ở trên Cửu Thiên). Sở dĩ Giáp được gọi là "trên Cửu Thiên" vì 《Kinh Dịch》gọi: Càn nạp Giáp, Nhâm. Càn là trời, đạo trời đi lên, từ Nhâm đếm đến Giáp, số đó là 9, cho nên Lục Giáp là trên Cửu Thiên. Sở dĩ Lục Giáp đều gọi là Giáp Tý vì Giáp Tý là đầu của Lục Giáp, là đầu của chi và can. Nêu trên để thấy dưới, cho nên Lục Giáp đều gọi là Giáp Tý.

Cửu Địa Chi Hạ Lục Quý Dậu

Nghĩa là các vị trí của Lục Quý đều gọi là "dưới Cửu Địa". Phàm việc trốn chạy, biệt tích, nên xuất nhập theo phương mà Thiên thượng Lục Quý đang lâm. 《Kinh Dịch》gọi: Khôn nạp Ất, Quý. Khôn là đất, đạo đất đi xuống, từ Ất đếm đến Quý cũng là 9 (Cửu Địa), cho nên Quý được gọi là dưới Cửu Địa. Lục Quý đều gọi là Quý Dậu, vì đó là điểm cuối của Giáp Tý (Quý Dậu).

Tam Kỳ Chi Linh Lục Đinh Mão

Nghĩa là Lục Đinh là linh ứng của Tam Kỳ. Phàm đi lại, xuất nhập, dùng binh, đánh nhau đều tốt. Cho nên nói: "Biết được Lục Đinh, ra vào u minh, đến già chẳng bị hình phạt; dao dù kề cổ, vẫn yên chẳng sợ". Lại nói: Lục Đinh là âm của Lục Giáp:

  • Đinh Mão: thần tên Văn Bá

  • Đinh Sửu: thần tên Văn Tôn

  • Đinh Hợi: thần tên Văn Công

  • Đinh Dậu: thần tên Văn Thông

  • Đinh Mùi: thần tên Văn Khanh

  • Đinh Tỵ: thần tên Cự Khanh

Phàm đấu tranh, xuất nhập, đi lại, thường gọi tên sáu vị thần Đinh. Sở dĩ gọi "Tam Kỳ chi linh lục Đinh Mão" là vì Đinh Mão là âm của Giáp Tý.

Lục Hợp Chi Trung Lục Kỷ Tỵ

Nghĩa là các vị trí của Lục Kỷ đều là "trong Lục Hợp". Phàm những việc âm mưu, cơ mật, ẩn núp, đều từ phương mà Thiên thượng Lục Kỷ đang lâm mà ra, người không thấy được. 《Kinh》nói: "Lục Hợp là cửa riêng, một mình ra, một mình vào, không ai thấy". Sở dĩ Lục Kỷ là trong Lục Hợp vì từ Giáp đếm đến Kỷ, Giáp và Kỷ hợp, cho nên trong Lục Hợp gọi là Lục Kỷ Tỵ, cũng là nêu lên ý của một tuần Giáp Tý, nên đều gọi là Kỷ Tỵ.

Cửu Thiên, Cửu Địa, Thái Âm, Lục Hợp

Trương Lương nói: Trên Cửu Thiên thì lợi để dàn trận; dưới Cửu Địa thì lợi để ẩn núp. Trong Thái Âm và Lục Hợp thì có thể trốn chạy.

Phàm sau Đông chí (Dương độn), cung mà Thiên thượng Trực Phù đang lâm, lùi 1 (phía sau) là Cửu Thiên, lùi 2 là Cửu Địa, tiến 2 (phía trước) là Thái Âm, tiến 3 là Lục Hợp.

Sau Hạ chí (Âm độn), cung mà Thiên thượng Trực Phù đang lâm, tiến 1 là Cửu Thiên, tiến 2 là Cửu Địa, lùi 2 là Thái Âm, lùi 3 là Lục Hợp.

Ví dụ: Dương độn Thượng nguyên cục 1, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần, Thiên thượng Trực Phù lâm cung 8 (Cấn), thì lùi 1 (sau) là Cửu Thiên, lùi 2 là Cửu Địa lâm cung 6 (Càn); tiến 2 (trước) là Thái Âm lâm cung 4 (Tốn); tiến 3 là Lục Hợp lâm cung 9 (Ly).

Ví dụ: Âm độn Thượng nguyên cục 9, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần, Thiên thượng Trực Phù lâm cung 2 (Khôn), thì tiến 1 là Cửu Thiên lâm cung 7 (Đoài), tiến 2 là Cửu Địa lâm cung 6 (Càn), lùi 2 là Thái Âm lâm cung 4 (Tốn), lùi 3 là Lục Hợp lâm cung 3 (Chấn).

Phục Ngâm (Nằm im – trùng âm)

Tý đến cộng với Tý (ví dụ Giáp Tý đến Giáp Tý) gọi là Phục ngâm. Không nên dùng binh, nên thu nhóm tài hàng. Phàm lúc có Lục Giáp, cửa và phù đều phục ngâm. Các trường hợp khác cũng suy theo đó.

Phản Ngâm (Ngược – xung âm)

Tý đến cộng với Ngọ (ví dụ Giáp Tý đến Giáp Ngọ) gọi là Phản ngâm. Không lợi cho việc cất quân động chúng, lợi cho việc phát tán, cứu tế kho lẫm. Cửa và phù xung nhau đều là phản ngâm.