ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH – THƯỢNG QUYỂN B

ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH – THƯỢNG QUYỂN B

(10) Độn Giáp Trạch Nhật (Chọn ngày theo Độn Giáp)

Độn Giáp chọn ngày để xuất quân, đánh dẹp, xây dựng trăm việc. Trong đó có các ngày Bảo, Nghĩa, Chế, Hòa – tốt; ngày Phạt – xấu.

  • Bảo nhật (ngày Bảo) là thượng cát: Can sinh Chi.
    Gồm các ngày: Giáp Ngọ, Ất Tỵ, Bính Thìn, Bính Tuất, Đinh Sửu, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tý, Tân Hợi, Nhâm Dần, Quý Mão.

  • Nghĩa nhật (ngày Nghĩa) là thứ cát: Chi sinh Can.
    Gồm: Giáp Tý, Bính Dần, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Canh Thìn, Canh Tuất, Ất Hợi, Kỷ Tỵ, Mậu Ngọ, Tân Sửu.

  • Chế nhật (ngày Chế) là trung bình: Can khắc Chi.
    Gồm: Giáp Tuất, Ất Mùi, Ất Sửu, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tý, Kỷ Hợi, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Ngọ, Giáp Thìn, Quý Tỵ.

  • Hòa nhật (ngày Hòa) là thứ cát: Can và Chi cùng hành (đồng loại) .
    Gồm: Mậu Thìn, Kỷ Sửu, Mậu Tuất, Bính Ngọ, Nhâm Tý, Giáp Dần, Ất Mão, Đinh Tỵ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Quý Hợi.

  • Phạt nhật (ngày Phạt – đánh phạt) gọi là dưới khắc trên, Chi khắc Can.
    Gồm: Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tý, Đinh Hợi, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Ngọ, Tân Tỵ, Nhâm Thìn, Nhâm Tuất, Quý Sửu, Quý Mùi. Những ngày này không nên xuất quân, xấu.


(11) Độn Giáp Lợi Khách, Lợi Chủ (Độn Giáp: lợi cho khách, lợi cho chủ)

Độn Giáp Lợi Khách

《Kinh》nói:

  • Thiên Bồng gia cung 9 (Ly), lợi làm khách. Nếu vào các tháng mùa thu, đông, ngày Nhâm, Quý, Hợi, Tý, khi lâm chiến, có mây khí màu đen từ phương Bắc đến trợ giúp thì khách thắng lớn.

  • Thiên Trụ, Thiên Tâm gia cung 3 (Chấn), cung 4 (Tốn), lợi làm khách. Nếu vào các tháng mùa thu và cuối hạ (quý hạ), ngày Canh, Tân, Thân, Dậu, khi lâm chiến, có mây khí màu trắng từ phương Tây đến trợ giúp thì thắng lớn.

  • Thiên Nhậm, Thiên Cầm, Thiên Nhuế gia cung 1 (Khảm), lợi làm khách. Nếu vào các tháng cuối mùa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), ngày Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, khi lâm chiến, có mây khí màu vàng từ phương Đông Bắc đến trợ giúp thì khách thắng lớn.

  • Thiên Xung, Thiên Phụ gia cung 8 (Cấn), cung 2 (Khôn), lợi làm khách. Nếu vào mùa xuân, đông, ngày Giáp, Ất, Dần, Mão, có mây khí màu xanh từ phương Đông hoặc Đông Nam đến trợ giúp thì khách thắng.

  • Thiên Anh gia cung 7 (Đoài), lợi làm khách. Nếu vào các tháng mùa xuân, hạ, ngày Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ, có mây khí màu đỏ từ phương Nam đến trợ giúp thì khách thắng lớn.


Lợi Chủ

《Kinh》nói:

  • Thiên Anh gia cung 1 (Khảm), lợi làm chủ. Nếu vào các tháng mùa thu, đông, ngày Nhâm, Quý, Hợi, Tý, có khí từ phương Bắc đến trợ giúp thì chủ thắng lớn.

  • Thiên Nhậm, Thiên Cầm, Thiên Nhuế lâm cung 3 (Chấn), cung 4 (Tốn), lợi làm chủ. Nếu vào các tháng mùa xuân, hạ, ngày Giáp, Ất, Dần, Mão, có mây khí màu xanh từ phương Đông Nam đến trợ giúp thì chủ thắng lớn.

  • Thiên Bồng gia cung 8 (Cấn), lợi làm chủ. Nếu vào các tháng cuối mùa, ngày Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có mây khí màu vàng từ phương Đông Bắc – Tây Nam đến trợ giúp thì chủ thắng.

  • Thiên Phụ, Thiên Xung gia cung 6 (Càn), cung 7 (Đoài), lợi làm chủ. Nếu vào cuối hạ và mùa thu, ngày Canh, Tân, Thân, Dậu, có mây khí màu trắng từ phương Tây Bắc đến trợ giúp thì chủ thắng.

  • Thiên Trụ, Thiên Tâm gia cung 9 (Ly), lợi làm chủ. Nếu vào các tháng mùa xuân, hạ, ngày Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ, có mây khí màu đỏ từ phương Nam đến trợ giúp thì chủ thắng.


Môn Phách (Cửa bị áp chế – Môn bị cung khắc hoặc cung bị môn khắc)

《Kinh》nói: Cung chế kỳ môn (cung khắc cửa) gọi là môn phách (cửa bị áp chế). Môn chế kỳ cung (cửa khắc cung) gọi là cung phách (cung bị áp chế). Nếu cửa tốt (Cát Môn) bị áp chế thì việc tốt không thành. Nếu cửa xấu (Hung Môn) bị áp chế thì tai họa càng thêm nặng.

Ví dụ:

  • Khai Môn lâm cung 3 (Chấn), cung 4 (Tốn); Hưu Môn lâm cung 9 (Ly); Sinh Môn lâm cung 1 (Khảm); Cảnh Môn lâm cung 7 (Đoài), cung 6 (Càn) – Đây là cửa tốt bị áp chế, việc tốt không thành.

  • Nếu Thương Môn, Đỗ Môn lâm cung 8 (Cấn), cung 2 (Khôn); Tử Môn lâm cung 1 (Khảm); Kinh Môn lâm cung 3 (Chấn), cung 4 (Tốn) – Đây là cửa xấu bị áp chế, tai họa càng thêm nặng.


(12) Tam Kỳ Ứng Tĩnh (Sự ứng tĩnh của ba kỳ)

 

《Kinh》nói: Dương độn đi thuận, lấy phía trước để dụng; Âm độn đi nghịch, lấy phía sau để dụng.

Ví dụ: Dương độn cục 1, ngày Giáp Ngọ, giờ Ngọ, Trực Phù ở cung 3 (Chấn). Đó là lấy theo chiều thuận. Hợp với Bính kỳ ở cung 4 (Tốn), tức là Nguyệt kỳ đến Tốn, ứng vào lúc giờ.

Nếu Tam Kỳ ở ngay vị trí của Trực Phù thì ứng vào đầu giờ; lùi lại phía trước một vị (theo chiều thuận) thì ứng vào giữa giờ; lùi lại phía trước hai vị thì ứng vào cuối giờ.


Nhật kỳ (Ất) đến các cung:

  • Nhật kỳ đến Càn (cung 6): có người mặc áo vàng đến, lại có người buộc tiền đến.
    Nguyệt kỳ (Bính) đến Càn: có người mặc áo lượt (hoặc áo choàng) đến, lại có chim đen bay thành đôi đến. Trong vòng 100 ngày, tiến vào của cải của phụ nữ; phương Nam có người chết khi sinh đẻ.
    Tinh kỳ (Đinh) đến Càn: có người cầm đao, rìu. Hoặc có kẻ dắt thú có sừng đến. Trong 3, 7 ngày, tiến vào vàng bạc và các vật sống màu trắng, vàng.

  • Nhật kỳ đến Khảm (cung 1): có người mặc áo đen đến. Hoặc có tiếng trống ứng vào. Sau 7 ngày, tiến vào tiền của và có người mặc áo đen đến nhà.
    Nguyệt kỳ đến Khảm: có người chống gậy. Hoặc có chim vàng trắng từ Tây Bắc đến. Trong 6, 10 ngày hoặc 1 ngày, hằng ngày tiến vào khế ước (văn tự). Nếu phía Đông có lửa lớn kinh động thì phát.
    Tinh kỳ đến Khảm: có người từ phương Nam đến, bồng con nhỏ đến. Lại có mây đen đến. Trong 1, 7 ngày tiến vào vật bay màu đen. Phương Tây Bắc có người treo cổ hoặc chết bệnh đột ngột thì phát lớn.

  • Nhật kỳ đến Cấn (cung 8): có người mặc áo xanh đi qua, hoặc người cầm đồ sắt đến. Lại có chim đen bay thành đôi từ Bắc đến. Trong 2, 7 ngày tiến vàng bạc; trọn năm tiến ngựa trắng, tốt.
    Nguyệt kỳ đến Cấn: có người mặc áo xanh đen đến, lại có người bán lưới, bán cá đến, hoặc chim đến thành đôi; có tiếng trẻ con khóc; có đồ sắt đi qua. Sau 7 ngày tiến vào người, của cải, châu báu; trọn năm sau tiến vào vật sống màu trắng, hoa.
    Tinh kỳ đến Cấn: có người mang văn thư, giấy bút đến, hoặc trẻ con ôm đồ sắt đi qua. Trong 2, 7 ngày tiến vào vật màu xanh vàng; trong 120 ngày tiến vào thêm người và khế ước, hoặc trâu sừng trắng.

  • Nhật kỳ đến Chấn (cung 3): có võ sĩ cầm giáo, nỏ. Lại chủ về tiếng sấm, hoặc tiếng trống ứng; có người bán lưới, bán cá hoặc người đi săn, và trẻ con thành đàn; tiến vào vàng bạc châu báu. Nếu thấy phụ nữ phương Đông sinh đẻ thì phát lớn.
    Nguyệt kỳ đến Chấn: người bán lưới, bán cá hoặc người đi săn đến, hoặc trẻ con thành đàn, giống như Nhật kỳ. Trong 7 ngày tiến vào vật sống; trọn năm sinh quý tử. Nếu phương Bắc có sét đánh cây thì phát.
    Tinh kỳ đến Chấn: có đàn bà đến thành đôi, hoặc chim đen thành đôi đến. Trong 1, 7 ngày tiến vào vật vàng trắng, lúc tế rượu thịt; phương Đông có giết chóc thì phát lớn.

  • Nhật kỳ đến Tốn (cung 4): có người mặc áo trắng cưỡi ngựa đến. Hoặc có trẻ con đến. Trong 3 năm sinh quý tử, tiến vào của báu bên ngoài, vườn tược, ruộng đất. Thấy cây cối phương Đông tự khô, lửa kinh động, người treo cổ thì phát.
    Nguyệt kỳ đến Tốn: có tiếng nhạc ứng, lại có tiếng hô dạ; hoặc phía Đông Nam có việc kinh động. Trong 1, 7 tháng tiến vào người mặc áo đen thì phát lớn.
    Tinh kỳ đến Tốn: có trẻ con cưỡi trâu đến, hoặc phương Nam có mây đen đến, thấy sao Bắc Đẩu. Trọn năm có người bị sảy thai chết thì phát lớn.

  • Nhật kỳ đến Ly (cung 9): có người bệnh mắt, bệnh chân hoặc trẻ con cưỡi trâu ngựa; lại có chim đen, trắng từ phương Đông đến. Trong 7 ngày tiến vào lợn, chó, sinh tài lộc, phát lớn.
    Nguyệt kỳ đến Ly: có chim vàng đen hoặc thành đôi đến. Trong 1, 7 ngày hoặc 6, 10 ngày, tằm tơ tốt, đại cát.
    Tinh kỳ đến Ly: có người mặc áo xanh đến, phát lớn. Trong 3, 7 ngày tiến vào tài lộc bất chính. Nếu thấy phương Đông có đao binh tự hại thì phát lớn.

  • Nhật kỳ đến Khôn (cung 2): có người mặc trắng và chịu tang, và phía Tây có sét đánh chết trâu ngựa, hoặc tiếng trống. Ứng trong 1, 7 ngày tiến vào gà, lợn; 6, 10 ngày tiến vào khế ước, đại cát.
    Nguyệt kỳ đến Khôn: có người mặc áo đen, và quạ, chích chòe từ phương Nam, Bắc đến, hoặc tiếng trống. Ứng: sau khi dụng công 7 ngày, tiến vào phụ nữ phương Bắc, của cải. Trọn năm, có ruộng vườn của nhà tuyệt hậu, lại có người mặc áo đen được tài lộc; thấy tiếng sấm phương Đông thì phát lớn.
    Tinh kỳ đến Khôn: có người mặc áo xanh và chim đen đến, hoặc người gánh nước đi qua. Ứng trong 2, 7 ngày tiến vào thủy tộc, hải vị. Thấy phía Bắc có núi lở, nước vỡ, ruộng sụt thì phát lớn.

  • Nhật kỳ đến Đoài (cung 7): có đàn bà 2, 5 người đến. Hoặc có tiếng chim hót, gà báo hỷ. Trong 3, 7 ngày, 100 ngày tiến vào các loại nhạc khí (giốc, vũ?) hoặc thương âm; tiến vào ruộng đất; thấy phương Đông có trâu ngựa tự tổn hại thì phát lớn.
    Nguyệt kỳ đến Đoài: có người chống gậy từ phương Đông đến, lại có người bồng con nhỏ khóc đến, có tiếng trống. Trong 1, 7 ngày tiến tài; trọn năm tiến vào người, ruộng đất. Hai phương Khôn, Cấn có người già chết thì phát.
    Tinh kỳ đến Đoài: có người mang văn thư, giấy bút đến, lại có người đánh cá, giăng lưới đi qua phương Tây; có chim bay đến. Trong 7 ngày tiến vào lợn, gà... Phương Khôn, Cấn, Đoài có người chết đột ngột, hoặc phát hỏa làm ứng thì phát lớn.


Kỳ Môn Lộ Ứng (Ứng trên đường của Kỳ và Môn)

《Kinh》nói:

  • Ất kỳ gặp Sinh Môn: trên đường thấy hai con chuột đánh nhau, hoặc người mặc áo tang.
    Gặp Hưu Môn: thấy trâu, ngựa và người khiêng gỗ.
    Gặp Khai Môn: thấy khách qua đường hoặc người mặc áo đỏ, quan lại.

  • Bính kỳ gặp Sinh Môn: trên đường thấy người mắt dữ hoặc người đánh lộn.
    Gặp Hưu Môn: trong vòng 50 dặm nghe tiếng trống hoặc nhạc khí.
    Gặp Khai Môn: thấy ông già chống gậy hoặc tiếng khóc.

  • Đinh kỳ gặp Sinh Môn: thấy người dắt lợn hoặc chó.
    Gặp Hưu Môn: trong vòng 20 dặm thấy đàn bà mặc áo trắng đen.
    Gặp Khai Môn: thấy trẻ con cầm gậy tre, v.v. ứng theo.


Chú thích của người dịch (từ nguyên bản):

  1. Câu "戊癸之日" – phía trên chữ "Mậu" có lẽ thiếu chữ "vị" (謂). (Nghĩa: "Ngày Mậu Quý" – có thể nên là "gọi là ngày Mậu Quý"?)

  2. Câu "六、十日、一日,日進契書" – chỗ này có vẻ thiếu sót, lủng củng.

HẾT THƯỢNG QUYỂN