ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH (TRUNG – HẠ QUYỂN)
ĐỘN GIÁP PHÙ ỨNG KINH (TRUNG – HẠ QUYỂN)
QUYỂN TRUNG
Chương 1: Giải thích Thiên Độn
Thiên độn (độn trời) là: Sinh Môn hợp với Lục Bính (Nhật kỳ) và dưới đất là Lục Đinh, tạo thành Thiên độn – sự che chở của tinh hoa mặt trời.
Ví dụ: Dương độn cục 4, ngày Ất Canh, giờ Dậu, Thiên Tâm làm Trực Phù, gia thời can Lục Ất; Khai Môn làm Trực Sứ, gia cung giờ là cung 7. Thì Sinh Môn hợp với Nhật kỳ Lục Bính và Lục Đinh ở cung 1, đó gọi là Thiên độn.
Ví dụ: Âm độn cục 6, ngày Mậu Quý, giờ Dậu (buổi chiều), Thiên Bồng làm Trực Phù, gia thời can Lục Canh; Hưu Môn làm Trực Sứ, gia cung giờ là cung 4. Thì Sinh Môn hợp với Nguyệt kỳ Lục Bính và Lục Đinh ở cung 9, đó là Thiên độn.
Chương 2: Giải thích Địa Độn
Địa độn (độn đất) là: Khai Môn hợp với Lục Ất (Nhật kỳ) và dưới đất là Lục Kỷ, tạo thành Địa độn – lúc này được sự che chở của tinh hoa mặt trăng.
Ví dụ: Dương độn cục 1, ngày Bính Tân, lúc mặt trời mọc, Thiên Xung làm Trực Phù, gia thời can Lục Tân; Thương Môn làm Trực Sứ lâm cung 1 (nhật). Thì Khai Môn hợp với Nhật kỳ Lục Ất lâm Lục Kỷ ở cung 2, đó gọi là Địa độn.
Chương 3: Giải thích Nhân Độn
Nhân độn (độn người) là: Hưu Môn hợp với Lục Đinh (Tinh kỳ) và ở trước hai cung là Thái Âm, tạo thành Nhân độn – lúc này được sự che chở của tinh hoa các vì sao.
Ví dụ: Dương độn cục 7, ngày Ất Canh, nửa đêm, Thiên Nhậm làm Trực Phù, gia thời can Lục Bính; Sinh Môn gia cung giờ là cung 1. Thì Hưu Môn hợp với Tinh kỳ Lục Đinh và ở trước hai cung là Thái Âm (cung 6), đó là Nhân độn.
Phàm gặp ba độn (Thiên, Địa, Nhân) lúc xuất hành, ra cửa đều tốt, trăm việc lành.
Tam Kỳ Nhập Mộ (Ba kỳ vào mộ)
Hồng (Cát Hồng) nói: Tam kỳ nhập mộ: giờ Ất Mùi là Nhật kỳ nhập mộ (Ất là Nhật kỳ, mộc mộ ở Mùi). Giờ Bính Tuất là Nguyệt kỳ nhập mộ (Bính là Nguyệt kỳ, hỏa mộ ở Tuất).
Chương (Vương Chương) nói: Tam kỳ nhập mộ: Nhật kỳ (Lục Ất) lâm cung 2 (Khôn), Nguyệt kỳ (Lục Bính) và Tinh kỳ (Lục Đinh) ở cung 6 (Càn) – đó là Tam kỳ nhập mộ.
Lục Nghi Kích Hình (Sáu nghi bị hình)
Hồng (Cát Hồng) nói: Lục Nghi kích hình: Giáp Tý Trực Phù gặp giờ Mão (Tý hình Mão); Giáp Tuất Trực Phù gặp giờ Mùi (Tuất hình Mùi, Sửu hình Tuất? Thực tế Tuất hình Mùi, Sửu hình Tuất); Giáp Thân Trực Phù gặp giờ Dần (Thân hình Dần, Dần hình Tỵ, Tỵ hình Thân – tam hình); Giáp Thìn Trực Phù gặp giờ Thìn (Thìn tự hình); Giáp Ngọ Trực Phù gặp giờ Ngọ (Ngọ tự hình); Giáp Dần Trực Phù gặp giờ Tỵ (Dần hình Tỵ).
Ví dụ: Dương độn Thiên nguyên cục 1, ngày Giáp Kỷ, nửa đêm sinh Giáp Tý làm Trực Phù, đến giờ Mão (rạng sáng) là Lục Nghi kích hình. Đến giờ Canh Ngọ, Giáp Tý Trực Phù gia Lục Canh ở cung 3, đó là Lục Nghi kích hình. Lúc này xấu, không thể dùng.
Thái Bạch Nhập Phù (Kim vào lửa)
Thang nói: Canh là Thái Bạch (Kim), Bính là Phù Hoả (lửa). Nếu Canh gia Bính, lúc đối địch nên phòng giặc đến.
Ví dụ: Hạ chí, Trung nguyên, Âm độn cục 2, ngày Ất Canh, rạng sáng là giờ Bính Dần, Lục Canh ở cung 8 (Cấn? cần kiểm tra). Lấy Thiên Nhuế làm Trực Phù gia thời can (Bính Dần) ở cung 3, thì Lục Canh lâm xuống Lục Bính ở cung 2 – đó là Thái Bạch nhập Phù.
Phù Hoả Nhập Thái Bạch (Lửa vào kim)
Bính là Phù Hoả, Canh là Thái Bạch. Nếu Bính gia Canh, lúc này nghe tin giặc, ắt phải lui tránh.
Ví dụ: Âm độn cục 6, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần, Lục Bính ở cung 8, lấy Trực Phù Thiên Tâm gia thời can, thì Lục Bính lâm xuống Lục Canh ở cung 4 – đó là Phù Hoả nhập Thái Bạch, chiếm rằng giặc không đến.
Thanh Long Hồi Thủ (Rồng xanh quay đầu)
Hồng nói: Lục Giáp gia Lục Bính, tên là Thanh Long hồi thủ. Phàm Âm, Dương nhị độn gặp lúc này, có thể khởi công, xây dựng, trăm việc tốt. Nếu ra cửa lợi cho xuất hành thì càng tốt.
Ví dụ: Đông chí, Thượng nguyên, Dương độn cục 1, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần, Lục Giáp ở cung 1, Giáp Tý (Thiên Bồng) Trực Phù gia thời can Lục Bính ở cung 8 – đó là Thanh Long hồi thủ.
Phi Điểu Điệt Hốt (Chim bay sa xuống hang)
Lục Bính gia Lục Giáp, tên là Phi điểu điệt hốt. Phàm nhị độn gặp lúc này, lợi cho trăm việc, xuất hành, xây dựng, cử động đều tốt.
Thiên Ất Phục Cung Cách
《Tam Nguyên Kinh》nói: Lục Canh gia Trực Phù, tên là Thiên Ất phục cung. Lúc này đánh nhau, chủ khách đều bất lợi.
Thiên Ất Phi Cung Cách
Trực Phù gia Lục Canh. Lúc này chủ khách đều bất lợi.
Thiên Ất Phục Cán Cách
Lục Canh (Thái Bạch) gia Nhật cán (Nhật Cán), gọi là Phục cán cách. Lúc này đánh nhau, chủ khách đều bị thương.
Phi Cán Cách
Nhật cán (can của ngày) gia Lục Canh. Lúc này đánh nhau, chủ khách đều bị thương.
Tuế Cán Cách
Lục Canh gia can của năm nay. Lúc này xấu.
Nguyệt Cán Cách
Lục Canh gia can của tháng này. Lúc này xấu.
Nhật Cán Cách
Lục Canh gia can của ngày hôm nay. Lúc này xấu.
Thời Cán Cách
Lục Canh gia Thời cán, cũng gọi là Phục ngâm cách. Lúc này không nên làm việc, dùng binh thì xấu.
Đại Cách
Thang nói: Lục Canh gia Lục Quý là Đại cách. Trên trời Lục Canh lâm dưới đất Lục Quý, lúc này không thể làm trăm việc, mất của không tìm được, người mất tích chẳng thấy.
Hình Cách
Lục Canh gia Lục Kỷ. Trên trời Lục Canh lâm dưới đất Lục Kỷ, xe hỏng ngựa thương, giữa đường phải dừng, quân sĩ trốn chạy, không thể đi.
Thanh Long Tẩu Thoát (Rồng xanh chạy trốn)
Chương nói: Lục Ất gia Lục Tân. Lúc này trăm việc xấu.
Bạch Hổ Xướng Cuồng (Hổ trắng gầm thét)
Chương nói: Lục Tân gia Lục Ất. Lúc này trăm việc xấu.
Chu Tước Nhập Giang (Chim sẻ xuống sông)
Chương nói: Lục Đinh gia Lục Quý. Lúc này kỵ mọi việc.
Đằng Xà Yêu Kiểu (Rắn uốn éo)
Chương nói: Lục Quý gia Lục Đinh. Lúc này trăm việc bất lợi.
Thời Bột
Thang nói: Lục Bính gia bất cứ đâu đều gọi là Bột. Bột nghĩa là loạn. Trên trời Lục Bính lâm can năm, tháng, ngày, giờ – cùng loại với nghĩa Lục Canh gia. Phàm làm trăm việc, dùng binh gặp Bột, chủ về cương kỷ hỗn loạn, xấu.
Độn Giáp Ngũ Dương Sở Lợi (Lợi của năm dương)
《Kinh》nói: Năm dương lợi để làm khách. Vào lúc làm khách, thì nên đánh trước, cờ cao trống giục, dương uy dàn quân để quyết thắng. Đó là lúc gặp các can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu – thần lành cai việc, có thể xuất quân chinh phạt, đi xa cầu lợi, xây dựng ấp, làm việc võ, làm quan, dọn nhà, cưới hỏi, xây dựng, trăm việc đều đại cát. Lúc này kẻ trốn chạy không thể bắt được. Cho nên 《Kinh》nói: "Trực Sứ đi, một giờ một thay, đi dương, lợi làm khách". Bởi vậy nói: "Được dương thì bay mà không dừng". Năm can dương ở phía đông của Tý, Ngọ (thuộc sinh khí), nên làm khách thì lợi cho đánh trước.
Ví dụ: Ngày Giáp Kỷ, nửa đêm sinh Giáp Tý, từ giờ Tý đến giờ Thìn được Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu – là năm dương tướng, lợi làm khách đánh trước. Không phân biệt Âm Dương nhị độn, cũng như ví dụ này.
Độn Giáp Ngũ Âm Lịch Lợi (Lợi của năm âm)
Năm âm lợi để làm chủ. Vào lúc làm chủ, thì nên đánh sau, cờ thấp ngậm tăm (đi lặng lẽ), đợi địch rồi mới động để quyết thắng. Đó là lúc gặp các can Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý – thần xấu cai việc, không thể bái quan, dọn nhà, cưới gả, xuất hành, xây dựng, làm trăm việc, kẻ trốn chạy không thể bắt. Nên bày mưu kín, tập hợp võ bị, cầu đảo. 《Kinh》nói: "Trực Sứ đi, một giờ một thay, đi âm, lợi làm chủ". Bởi vậy: "Được âm thì phục mà không dậy". Năm can âm ở phía tây của Tý, Ngọ (thuộc sát khí), nên lợi cho động sau.
Ví dụ: Ngày Giáp Kỷ, Giáp Tý từ giờ Tỵ đến giờ Dậu, gặp Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý – là năm âm, lợi làm chủ, nên đánh sau. Không phân biệt Âm Dương nhị độn, cũng như ví dụ này.
Xuất Hành Hô Thần Tự Nhập Thái Âm (Gọi tên thần để vào Thái Âm)
Lại nói: Nếu muốn xuất hành, theo phương hướng nào, hãy gọi tên thần của phương đó và đi 60 bước, rẽ năm lần vào trong Thái Âm. Trực Phù trước hai cung là Thái Âm, giữa âm; sau hai cung là Đại âm, trung lục Đinh, cũng gọi là Thái Âm. Gọi tên thần: gọi tên của sao trên trời mà mình ra khỏi cửa.
Thiên Bồng (tên tự Tử Cầm, Khảm)
Thiên Nhuế (tên tự Tử Thành, Khôn)
Thiên Xung (tên tự Tử Kiều, Chấn)
Thiên Phụ (tên tự Tử Khanh, Tốn)
Thiên Cầm (tên tự Tử Công, Trung cung)
Thiên Tâm (tên tự Tử Tương, Càn)
Thiên Trụ (tên tự Tử Thân, Đoài; lại Tử Thường)
Thiên Nhậm (tên tự Tử Vi, Cấn; lại Tử Kim)
Thiên Anh (tên tự Tử Uy, Ly; lại Tử Nhiên)
Ví dụ: Đông chí, Thượng nguyên, Dương độn cục 1, ngày Giáp Kỷ, rạng sáng (giờ Dần) là Bính Dần, Lục Bính ở cung 8, trên trời Lục Giáp (Thiên Bồng) Trực Phù gia cung 8. Muốn ra hướng Đông Bắc, hãy gọi tên thần (tên tự Tử Cầm), đi 60 bước, vào Thái Âm. Lúc này, trước hai cung là Thái Âm lâm cung 4 (Đông Nam); trên trời Lục Đinh lâm cung 9 (chính Nam). Rẽ trái vào Đông Nam hoặc chính Nam đều được. Vào Thái Âm cũng theo cách này.
Xuất Nhập Hô Lục Giáp Thần Danh, Ngũ Hành Tương Chế
《Kinh》nói: Nếu muốn làm trăm việc, đều hướng về phương có Lục Giáp, gọi tên thần đó, đi 60 bước, rẽ trái vào Thái Âm. Lại Lục Đinh tên Thái Âm, gặp quý nhân thì vui, gặp trận thì thắng.
Giáp Tuất tuần thủ (thần đứng đầu tuần Giáp Tuất) tên Từ Hà. Nếu muốn khơi mương, chạy đường, chia dòng sông, được tự nhiên, mở đường không hại, hãy hướng về phương đó gọi tên thần, rẽ trái vào Thái Âm, thì sẽ được toại nguyện, đường tự thông.
Giáp Thân tuần thủ tên Cái Tân. Nếu vào rừng săn bắn, bắt hổ, sói, côn trùng, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước, rẽ trái vào Thái Âm, thì côn trùng tự nhiên không động.
Giáp Ngọ tuần thủ tên Linh Quang. Dựng trại, bày trận, tuần thú, chiến đấu, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước, rẽ trái vào Thái Âm, thì ắt thắng.
Giáp Thìn tuần thủ tên Hàm Chương. Nếu cầu quan, bái tướng, đến nhậm chức, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước, rẽ trái vào Thái Âm, thì làm quan không tán.
Giáp Dần tuần thủ tên Giám Binh. Nếu dương uy võ, dạy trận, dẹp giặc, hành quân đánh kẻ bất đạo, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước, rẽ trái vào Thái Âm. Nếu xuất hành an biên, trộm cướp tự nhiên không nổi.
Lại nói: Trong Lục Giáp quản ngũ hành, động ứng vô phương. Ngũ hành hợp thắng, có tương sinh tương khắc. Tay trái tượng trời, tay phải tượng đất, thể thích tĩnh. Cho nên viết: "Ngũ hành tương chế vận hóa chi đạo" – không gì không bao gồm. Nếu yết kiến quý nhân, cầu quan (nhị thạch, lệnh trưởng) thì viết chữ "Thiên" (trời) ở tay trái. Nếu buôn bán, kết giao, cưới hỏi, lập khế thì viết chữ "Hòa" (和). Nếu vào núi săn bắt thì viết chữ "Sư tử" (獅子). Nếu chỉ huy thợ thuyền, đông người thì viết chữ "Cường" (強). Nếu qua sông trị thủy thì viết chữ "Thổ" (土) hoặc "Mậu" (戊) – sóng lớn thuyền chìm, nhất là kiêng Bát Phong, Xúc Thủy Long, Chiêu Dao, Hàm Trì. Nếu lên núi tu đạo thì viết chữ "Long" (龍), rắn côn trùng không động. Đây là đạo tương chế thắng phụ của ngũ hành.
Xuất Nhập Hô Thập Nhị Thần (Gọi tên 12 thần dưới giờ)
《Kinh》nói: Phàm xuất hành, gọi tên 12 can thần:
Giáp: Thiên Phúc, thần Vương Văn Khanh
Ất: Thiên Đức, thần Long Văn Khanh
Bính: Thiên Uy, thần Đường Trọng Khanh
Đinh: Thiên Ngọc Nữ, thần Quý Điền Vãng (?)
Mậu: Thiên Vũ, thần Tư Mã Dương
Kỷ: Minh Đường, thần Kỷ Du Khanh
Canh: Thiên Hình, thần Trâu Nguyên Dương
Tân: Thiên Đình, thần Cao Vu Trương
Nhâm: Thiên Tể, thần Vương Lộc Khanh
Quý: Thiên Ngục, thần Thụ Tử Quang
Chú thích: Nguyên bản có một số tên khó tra cứu, dịch sát âm.
Long Ẩn Đãi Phát (Rồng ẩn chờ phát)
Chi Tam Tị Ngũ (Đi ba, tránh năm)
《Kinh》nói: Thiên đạo không xa, ba năm lại quay về. "Đi ba, tránh năm" thì ung dung một mình. Ba là sinh khí, nên đi ba; năm là hại khí, nên tránh năm. Ba là uy, năm là võ, thịnh ở ba, suy ở năm. Một ngựa, hai bánh, chớ có ngoái lại.
Ví dụ: Đông chí, Thượng nguyên, Dương độn cục 1, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần, cung được số 3, lúc này là sinh khí, trăm việc tốt, nên gọi là "đi ba". Đến giờ Mậu Thìn, cung được số 5, là hại khí, nên gọi là "tránh năm", trăm việc xấu.
Lục Đinh Âm Độn Thần Danh (Tên thần âm độn của Lục Đinh)
Đinh Sửu: Lương Khâu Thúc
Đinh Mùi: Vương Khuất Kỳ
Đinh Tỵ: Hứa Hàm Trì
Đinh Dậu: Phí Dương Đa
Đinh Hợi: Lăng Thành Lục
Đinh Mão: Khổng Lâm Tộc
Uy Đức Chi Thời (Lúc uy và đức)
Cát Nhã Xuyên (Cát Hồng) nói: Lục Bính là uy, Lục Giáp là đức, lợi làm khách, phát hào thi lệnh. Vào nước người, chó không sủa, ngựa không hí, quay xe dừng bánh, đi xa muôn dặm. Dám có kẻ cất quân đến đánh, đều tự diệt, giặc ắt vong. Quân trời chưa động, địch đã tự sợ; quân trời chưa đi, địch đã tự kinh. Cầm quân chinh phạt, khách không thắng, không lợi làm chủ, chỉ nên giữ vững đợi thời.
Tam Kỳ Du Lục Nghi
《Kinh》nói: Tam Kỳ du Lục Nghi (ba kỳ chơi với sáu nghi), lợi cho việc yến hội trong cung đình, việc vui. Lục Nghi là Lục Giáp. Tam Kỳ là Ất, Bính, Đinh. Nghĩa là Ất, Bính, Đinh đi chơi trên Lục Giáp.
Giáp Tý tuần có Canh Ngọ
Giáp Tuất tuần có Kỷ Mão
Giáp Thân tuần có Mậu Tý
Giáp Ngọ tuần có Đinh Dậu
Giáp Thìn tuần có Bính Ngọ
Giáp Dần tuần có Ất Mão
Đây là lúc "Ngọc Nữ thủ môn" (Ngọc nữ giữ cửa), có tội không bị nghi ngờ, nên lợi cho yến tiệc vui vẻ.
Ví dụ: Ngày Giáp Kỷ, giờ Canh Ngọ (giờ Thân) là lúc Ngọc Nữ thủ môn.
Thiên Phụ Chi Thời (Lúc sao Thiên Phụ)
《Kinh》nói: Lúc Thiên Phụ, có tội không nghi ngờ. Rìu trước mặt, trời vẫn cứu.
Các giờ: Giáp Kỷ ngày, giờ Kỷ Tỵ; Ất Canh ngày, giờ Giáp Thân; Bính Tân ngày, giờ Giáp Ngọ; Đinh Nhâm ngày, giờ Giáp Thìn; Mậu Quý ngày, giờ Giáp Dần – đó là lúc Thiên Phụ. Phàm lúc này, người có tội đều tự giải thoát.
Thiên Cương Tứ Chương (Bốn lưới trời)
《Kinh》nói: Thiên cương bốn chương, vạn vật đều bị thương. Lúc này không thể làm trăm việc. Lại có thần ở cao thấp, phải biết. Đó là lúc dưới giờ được Lục Quý.
Ví dụ: Thiên Ất (Trực Phù) ở cung 1 (tức cung mà Thiên Ất đang gia). Lúc này, phải bò lê mà đi, lấy hai vai lắc mình trước khi đi qua 10 bước. Nếu Thiên Ất cao 2 thước trở lên, có thể dùng phép tránh lưới trời mà bò đi.
Tứ Thời Sở Lợi (Lợi của bốn mùa)
《Kinh》nói: Mùa xuân, hạ, sát khí tiềm tàng, âm khí ở dưới (nguyên bản: "âm khí cư chiến đấu lợi cư hồ dã chi địa, cư hạ dã" – hơi lủng củng). Đánh nhau lợi ở chỗ thấp. Mùa thu, đông sát khí ở trên, lợi ở chỗ cao. Âm dương khí lên xuống tùy theo sát khí.
Đình Đình (Sao Đình Đình) và Bạch Gian (Sao Bạch Gian)
Chương (Vương Chương) nói: Đình Đình là thần quý trên trời, quay lưng vào nó mà đánh phía xung khắc với nó thì thắng. Cách suy: lấy nguyệt tướng gia thời thần (Thần Hậu) dưới là chỗ Đình Đình ở.
Ví dụ: Tháng năm, tướng Tiểu Cát (nguyệt tướng) gia giờ Dần, thì Thần Hậu lâm Mùi, đó là chỗ Đình Đình ở.
Chương (Vương Chương) nói: Bạch Gian là thần gian trên trời, hợp với Kỷ Nữ, cách ở Dần Thân. Khi hợp thì đều quay lưng vào. Cách hay không cách, hợp hay không hợp, đều lấy Đình Đình hướng về Bạch Gian mà suy. Phép: lấy nguyệt tướng gia giờ Dần, Ngọ, Tuất, thấy Mạnh thần (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) thì đó là vị trí Bạch Gian. Thường lấy hành ở bốn Mạnh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
Ví dụ: Tháng giêng, tướng Đăng Minh gia giờ Ngọ, thì Bạch Gian ở Hợi.
Bạch Cô, Kích Hư (Lưng cô, đánh hư)
Thạch Công nói: Quay lưng về cô, đánh vào hư, một gái có thể địch mười trai. Phép cổ: 10 người dùng Thời cô, 100 người dùng Nhật cô, 1000 người dùng Nguyệt cô, 10000 người dùng Niên cô, chỉ có Thời cô là linh nghiệm nhất. Nay lập thành bảng sau:
Giáp Tý tuần (cô ở Tuất, Hợi; hư ở Thìn, Tỵ)
Giáp Tuất tuần (cô ở Thân, Dậu; hư ở Dần, Mão)
Giáp Thân tuần (cô ở Ngọ, Mùi; hư ở Tý, Sửu)
Giáp Ngọ tuần (cô ở Thìn, Tỵ; hư ở Tuất, Hợi)
Giáp Thìn tuần (cô ở Dần, Mão; hư ở Thân, Dậu)
Giáp Dần tuần (cô ở Tý, Sửu; hư ở Ngọ, Mùi)
Chú thích: Nguyên bản chỉ liệt kê ba tuần, có vẻ thiếu. Dịch giả bổ sung theo quy tắc "cô hư" thông thường.
Đoán Số Lượng Quân Địch
《Kinh》nói: Muốn biết số lượng quân địch, lấy nguyệt tướng gia giờ nghe tin có giặc. Xem thần trên (Thiên tướng), gặp Thiên Kinh, Hà Khuê: 500, 5000, 50000 người. Gặp Đăng Minh, Thái Ất: 400, 4000, 40000 người. Gặp Thần Hậu, Thắng Quang: 600, 6000, 60000 người. Gặp Đại Cát, Tiểu Cát: 800, 8000, 80000 người. Gặp Công Tào, Truyền Tống: 700, 7000, 70000 người. Gặp Tòng Khuê, Thái Xung: 100, 1000, 10000 người. Thần vượng thì nhân 10, tướng khí nhân 5, hưu khí đúng số, tù khí ít hơn, tử khí giảm một nửa.
Phép Tìm Đường Lạc
Hoàng Thạch Công nói: Xuất quân, gặp đường ba ngả, lạc không biết lối nào thông. Lấy nguyệt tướng gia giờ, nếu Mạnh (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) thì ngả trái thông; nếu Quý (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) thì ngả phải thông; nếu Trọng (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) thì ngả giữa thông.
Phép Mang Bệnh Dịch Khi Xuất Quân
《Kinh》nói: Xuất quân, nếu bệnh dịch truyền nhiễm, người chết nhiều, có thể đào hố chôn xác, đặt vài cái, ngửi mùi thì sẽ giải.
Phép Dùng Ốc (Động Vật) Để Dự Đoán
《Kinh》nói: Phép dùng ốc (loa, ốc sên) trong nhà binh rất khác với các phép khác. Có thể dùng một cái khay, lấy màu đen làm ranh giới, đặt hai con ốc vào trong, bên trái là chủ, bên phải là khách. Đọc chú: "Điền ốc vũ, năng tri phong vũ. Địch nhược lai bức, nhập ngã sở thành. Điền ốc kinh sách, phong vũ bất trước. Địch nhược bất lai, các thủ thung quách. Cấp cấp như luật lệnh." Đọc xong, để dưới sao. Nếu ốc trái lấn phải thì thắng, phải lấn trái thì bại, không lấn nhau thì không đánh.
HẾT TRUNG – HẠ QUYỂN
