DỰ ĐOÁN BỆNH NGUY KỊCH BẰNG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

DỰ ĐOÁN BỆNH NGUY KỊCH BẰNG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

Tình huống: Một người bạn (học viên) bị u bướu, từ khi phát hiện, chữa trị đến nay đã hơn nửa năm. Khối u sau khi giảm được một nửa thì bất ngờ tái phát trở lại. Bệnh nhân không thể ăn bất cứ thứ gì, chỉ có thể sống nhờ thuốc dinh dưỡng và thuốc giảm đau qua đường tiêm. Bụng do khối u đã to như phụ nữ mang thai tháng thứ 10. Vì vậy, người học viên đã lập một quẻ (cục Kỳ Môn) để cầu đoán, xem có nguy hiểm đến tính mạng hay không.

Tuổi của người bạn (bệnh nhân): Sinh năm 1988 (Mậu Thìn).

Thời gian lập cục (theo dương lịch): 12 giờ trưa ngày 7 tháng 5 năm 2012.

Trụ ngày giờ (Can Chi): Năm Nhâm Thìn, tháng Ất Tỵ, ngày Mậu Thìn, giờ Mậu Ngọ.

Tuần không (giờ): Tý, Sửu.

Dương Độn cục 4. Trực Phù: Thiên Anh rơi cung Tốn. Trực Sứ: Cảnh Môn rơi cung Tốn.

Bàn cục Kỳ Môn (Dương Độn 4):

 
 
CungThầnMônSaoThiên BànĐịa Bàn
Tốn (4)Trực PhùCảnhThiên AnhQuý (Kỳ)Mậu
Ly (9)Đằng XàTửThiên Cầm (Thiên Nhuế)KỷBính, Ất? (Cần đọc kỹ) Thực tế: Địa bàn có Bính và Kỷ? Nhưng theo bảng, cung Ly: Thiên bàn Kỷ, địa bàn Bính; có chữ "Ất" ở đâu? Đọc lại bảng người dùng cung cấp:
 

 

Như vậy cung Ly: Thần Đằng Xà, Môn Tử, Sao Thiên Cầm (Thiên Nhuế), Thiên bàn Kỷ, Địa bàn Bính, có thêm Quý? Có lẽ do nhập nhằng. Tôi sẽ dịch chính xác theo bảng đã cho.

Bảng cục (dịch thuật):

 
 
CungThầnMônSaoThiên BànĐịa Bàn
Tốn (4)Trực PhùCảnhThiên AnhQuýMậu
Ly (9)Đằng XàTửThiên Cầm (Nhuế)KỷBính, (có Quý?)
Khôn (2)Thái ÂmKinhThiên TrụTânBính
Chấn (3)Cửu ThiênĐỗThiên PhụMậuẤt
Trung (5)(Lục Hợp?)KhaiThiên TâmCanhTân
Cấn (8)Cửu ĐịaThươngThiên XungẤtNhâm
Khảm (1)Huyền VũSinhThiên NhâmNhâmĐinh
Càn (6)Bạch HổHưuThiên BồngĐinhCanh

Phản hồi: Ngày 18 tháng 5, bệnh nhân đã qua đời. Đây là một ca (trường hợp) được đưa ra để mọi người cùng nghiên cứu.

Giải thích thử:

Khi xem bệnh tật, chủ yếu xem các khía cạnh sau:

  1. Xem sao Thiên Nhuế (Tật Tinh - sao bệnh) rơi cung nào: Sao Thiên Nhuế rơi cung Ly (hỏa). Gặp Tử Môn vốn là đại hung. Tháng Tỵ (tháng 4 âm lịch, tức tháng 5 dương lịch) là tháng Hỏa vượng, bệnh tình càng trở nên nghiêm trọng hơn.

  2. Niên mệnh (năm sinh) của bệnh nhân là Mậu: Mậu rơi cung Chấn (Mộc). Cung Chấn sinh cho cung Ly (hỏa) – tức là sinh cho bệnh tinh, rất xấu. Gặp Đỗ Môn, chủ về sự bế tắc, không thông, do đó gây đau đớn, sưng tấy. Nghiêm trọng hơn, Mậu ở cung Chấn phạm "Lục Nghi Kích Hình" (Mậu kích hình tại cung Chấn – Mậu đến chấn, hình tại chấn), đại hung.

  3. Sao Thiên Tâm là thầy thuốc: Rơi cung Đoài (kim). Cung Ly (hỏa) khắc cung Đoài (kim) → thầy thuốc bất lực, không có cách chữa.

  4. Ất (dược thảo, thuốc): Ất rơi cung Cấn (thổ). Gặp Thương Môn. Môn khắc cung (Thương Môn thuộc mộc, khắc cung Cấn thổ) → cửa khắc cung, hung. Thuốc không có hiệu quả.

  5. Tháng Tỵ (hỏa vượng): Vào thời điểm tháng Tỵ, hỏa vượng (bệnh tinh ở cung Ly được vượng hỏa trợ giúp) là đại hung. Bệnh nhân tử vong vào ngày 18/5, vẫn trong tháng Tỵ (tiết khí Lập Hạ đến Tiểu Mãn).