Dự đoán thời gian trở về của người đi xa trong Kỳ Môn Độn Giáp

Trong thuật tướng số truyền thống của Trung Quốc, có rất nhiều ghi chép về các dấu hiệu trên tướng liên quan đến việc đi xa hay xuất ngoại. Ví dụ như trên tướng mặt, có nếp chỉ "Mã Dịch" (Lệ Mã văn) thì chủ về việc đi lính hoặc xuất ngoại đi xa; trên tướng tay, người có đường "Phi Cơ tuyến" (đường máy bay) thì nhất định đã từng đi máy bay hoặc xuất ngoại... Tuy nhiên, phần lớn những người đến nhờ tôi xem về việc xuất ngoại lại không có đường "Phi Cơ tuyến" nhưng họ vẫn đi du lịch, học tập hay làm việc ở nước ngoài. Tìm hiểu nguyên nhân, tôi cho rằng đó là kết quả của sự phát triển xã hội. Với sự phát triển vượt bậc của giao thông, liên lạc hiện đại, thế giới đã trở thành làng toàn cầu, xuất ngoại không còn là chuyện hiếm. Từ xưa đến nay, việc đi lại chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong các hoạt động của đời người. Mỗi chúng ta đều không thể rời xa việc đi lại dù chỉ một giây một phút, ví dụ như đi làm, thăm hỏi bạn bè người thân, du lịch nghỉ dưỡng, đàm phán thương mại, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày đều liên quan đến việc đi lại. Chúng ta không thể mỗi lần đi lại đều cần dự đoán, bói toán, ví dụ như sang đường, đi vệ sinh, đi chợ mua thức ăn, đi làm về đều xem giờ thì sẽ thành trò cười. Nhưng đối với những hoạt động đi lại quan trọng thì vẫn cần thiết phải dự đoán trước để tránh hung, hướng đến cát, ví dụ như xuất ngoại, du lịch đường dài, thăm hỏi người thân bạn bè, đi công tác, v.v. Như vậy có thể giúp chúng ta tránh được những tổn thất không đáng có, giảm thiểu nguy hiểm.

Dự đoán việc xuất hành trong Kỳ Môn Độn Giáp, cổ ngữ có câu:

Về việc dự đoán xuất hành, trong các thư tịch cổ có câu ca rằng: "Nhật nguyên vi nhân, thời nguyên địa, nhân nguyên khắc địa khứ hướng lợi, thời nguyên nhược khắc nhân nguyên, sở vãng chi phương đa bất tế... Tối kỵ tải không dữ hình cung, tiến thoái thư xí phương lệnh nghị". Ý nói, Nhật can (Nhật nguyên) là người cần dự đoán, Thời can (Thời nguyên) đại diện cho nơi sẽ đến. Nếu Nhật can khắc Thời can thì nơi đến không có hại; nếu Thời can khắc Nhật can thì nơi đến thường có nhiều điều bất lợi. Nếu Thời can lâm vào Không vong, Nhật, Thời lâm vào Kích hình, Nhập mộ thì việc xuất hành đại hung. Thông thường, khi xuất hành lấy Nhật can là người xuất hành (kết hợp xem tuổi của người đó), xem xét đi về phương nào. Nếu phương định đến có cách cục cát lành, các sao, cửa, kỳ, nghi đều tốt sinh trợ cho Nhật can hoặc tuổi của người đó thì sau khi đi sẽ an toàn, thuận lợi. Nếu phương đó so với Nhật can là bình hòa (tỷ hòa), dù không có sao, cửa, kỳ, nghi cát lành nhưng cũng không có tổ hợp đại hung thì cũng là cát lành. Nhật can khắc nơi định đến cũng có thể xuất hành. Nhưng nếu nơi định đến, bất kể tổ hợp sao, cửa, kỳ, nghi tốt hay xấu, mà khắc Nhật can hoặc tuổi của người đó thì đều không thuận hoặc đại hung. Nếu nơi định đến là đất của Thời can Không vong hoặc đất Nhật can nhập mộ thì đều bất lợi. Nhật can hoặc tuổi của người đó phạm hình hại, Không vong thì phương hướng xuất hành cũng bất lợi. Nơi định đến gặp cửa hung, cách hung, thần hung thì nhất định phải chú ý. Ví dụ, nếu phương xuất hành là cung Tốn (Đông Nam), trong cung có cửa Kinh hoặc cửa Tử, gặp Huyền Vũ hoặc Bạch Hổ, lâm vào cách cục Quý + Tân, hoặc Quý + Quý thì ắt sẽ có tai họa hung hiểm xảy ra.

Một số cách cục kết hợp cũng bất lợi cho việc xuất hành, ví dụ: Nhật, Thời lâm Quý + Đinh (Đằng Xà Yêu Kiệu), chủ về thị phi, cãi vã; lâm Đinh + Quý (Chu Tước Đầu Giang) thì không nên đi xa, đặc biệt là đi tàu thuyền có nguy cơ chìm tàu. Đi tàu thuyền gặp cách cục Quý + Đinh dễ gặp sóng gió giữa đường làm lật thuyền. Đi xe cộ gặp cách cục Canh + Bính dễ bị trộm cướp, gặp Bính + Canh thì dễ gặp hỏa hoạn. Gặp Thiên Bồng, Huyền Vũ có thể bị mất trộm hoặc mất tài sản. Ngũ bất ngộ thời xuất hành thường có nhiều việc không thuận xảy ra. Lục nghi kích hình e rằng có thương tật, không nên xuất ngoại. Quý + Quý (Thiên Võng Tứ Trương), xuất hành gặp phải thì bạn đồng hành thất lạc, nếu kèm Kích hình thì dễ bị tù ngục. Phản ngâm, Phục ngâm đều không như ý. Hình cách e rằng có tổn thương, đánh nhau. Bối cách dễ xảy ra rối ren, rước họa vào thân. Đại cách, Tiểu cách nên đề phòng xe cộ, tàu thuyền có vấn đề. Phục can, Phi can, trên đường e rằng có biến cố. Phục cung, Phi cung, khi ở lại nơi nghỉ ngơi cần hết sức cẩn thận.

Ví dụ như xuất hành bằng xe, lấy cung cửa Cảnh làm đường đi, cửa Thương là xe cộ. Đi tàu thuyền thì lấy cung cửa Hưu làm đường thủy bộ, cửa Thương là thuyền bè. Đi máy bay, lấy Cửu Thiên làm đường bay, cửa Khai là máy bay. Xem xét sự kết hợp của sao, cửa, kỳ, nghi ở các cung này để phán đoán tình hình trên đường đi, tại điểm đến cũng như lợi hại, cát hung của việc xuất hành.

Thời điểm khởi hành: Thông thường, nếu Nhật, Thời rơi vào nội bàn là đi nhanh, trong thời gian gần; rơi vào ngoại bàn là đi xa, thời gian dài; một ở nội, một ở ngoại cũng chủ về chậm, là xa. Thông thường lấy can chi tại địa bàn của cung cửa Khai làm thời điểm khởi hành cụ thể. Số cung mà cửa Trực Sử rơi vào để xác định ngày giờ. Thời can rơi vào cung có Mã Tinh hoặc Cửu Thiên cũng có thể phán đoán thời gian xuất hành. Một số cách cục cũng có thể phán đoán thời gian xuất hành, như Thời can hoặc Nhật can lâm Bính + Canh "tặc tất khứ" (giặc ắt đi), nếu gặp Không thì khi được xung thực, điền thực ắt sẽ xuất hành. Ví dụ như lâm cung Khôn thì có thể xuất hành vào các năm, tháng, ngày, giờ Mùi, Thân; lâm cung Khảm thì xuất hành vào các năm, tháng, ngày, giờ Tý, v.v.

Dự đoán ngày về khi chưa động thân: Thông thường lấy can chi tại địa bàn dưới Nhật can của ngày xuất hành làm ngày về. Ví dụ ngày xuất hành là ngày Tân, gặp Tân + Bính thì ngày Bính có thể là ngày trở về.

 

 

Yếu quyết dự đoán xuất hành trong Kỳ Môn

Dự đoán thời gian người đi xa trở về: Thông thường, nếu Dụng thần sinh hợp với Nhật can thì người đó sẽ trở về. Nếu Dụng thần lâm vào Mã tinh hoặc bị xung với Mã tinh thì cũng sẽ trở về. Dụng thần lâm vào các cách cục Mậu + Bính (Thanh Long Phản Thủ), Bính + Mậu (Phi Điểu Điệt Huyệt), Canh + Bính (Tặc Tất Lai) đều báo hiệu người đi xa sắp trở về. Lâm vào Cửu Độn và nhật kỳ tương hợp (ngày tháng tương hợp) thì cho thấy sắp về đến nhà. Quý + Đinh (Đằng Xà Yêu Kiệu) cho thấy người đi đang gặp tai nạn trên đường. Lâm vào Thiên Nhuế (sao bệnh) thì chủ về ở bên ngoài bị bệnh. Tam Trá, Ngũ Giả lâm Bạch Hổ, Đằng Xà, cửa Cảnh, Đinh Kỳ thì ắt có thư từ, điện thoại liên lạc về. Đinh + Quý thì âm tín hoàn toàn không có. Phi Can, Phục Can cho thấy người đó không muốn trở về. Phục Cung, Phi Cung cũng cho thấy sẽ không về. Đại Cách, Tiểu Cách thì hành trình sẽ bị kéo dài, trì hoãn. Ngũ Bất Ngộ Thời thì người đó sẽ không về. Quý + Quý (Thiên Võng Tứ Trương) cũng cho thấy sẽ không về. Phản Ngâm thì chủ về sẽ trở về, Phục Ngâm thì sẽ không về.

Cách xác định thời gian trở về:

Thời gian trở về thường được xác định dựa trên "Canh cách". Đối với ngày Âm, can ở trên của Canh là thời điểm trở về; đối với ngày Dương, can ở dưới của Canh là thời điểm trở về. Nếu gặp Canh + năm, tháng, ngày, giờ thì sẽ về. Nếu không gặp cách thì sẽ không về. Ất – Canh hợp, hoặc Canh Kim nhập mộ, Không vong thì không được coi là cách, chủ về không trở về.

Nếu người đi xa ở cách xa ngàn dặm, lấy Thiên Bồng làm Dụng thần; nếu ở trong khoảng ngàn dặm, lấy Thiên Nhuế làm Dụng thần. Nếu Thời can lâm vào Thiên Bồng hoặc Thiên Nhuế thì có thể trở về, Thời can chính là thời điểm trở về. Nếu Dụng thần lâm vào Tam Kỳ, Lục Nghi lại trùng với can năm của người đi xa thì sẽ trở về ngay. Nếu lâm vào các sao, thần, cửa, nghi xấu (liên quan đến mệnh của người đó) thì sẽ có trở ngại và không về.