GIẢI ĐÁP CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP TRONG KỲ MÔN – TOÀN CỤC PHẢN NGÂM CỦA PHI BÀN
GIẢI ĐÁP CÁC CÂU HỎI THƯỜNG GẶP TRONG KỲ MÔN – TOÀN CỤC PHẢN NGÂM CỦA PHI BÀN
1. Toàn cục phản ngâm của Phi bàn
Phi bàn nếu dùng phương thức dương thuận dương nghịch thì vĩnh viễn không có toàn cục phản ngâm. Nhưng nếu dùng phương thức dương thuận âm nghịch thì sẽ có toàn cục phản ngâm, chỉ là xác suất thấp, không cao bằng xác suất mỗi ngày đều có phục ngâm của dương thuận dương nghịch. Ví dụ: 2007-07-11 18:20, 2007-07-13 20:00 – lúc này dùng Bát môn phi, Cửu môn phi, môn chuyển tinh phi đều là toàn cục phản ngâm. Trong Âm Phù Kinh, miêu tả phục ngâm, phản ngâm là chỉ trực phù lạc cung; lục nghi kích hình cũng chỉ trực phù lạc cung. Do đó cũng không cần quá so đo việc có thể toàn cục phản ngâm, phục ngâm hay không.
2. Địa bàn nghi nhập mộ có dùng được không?
Có thuyết nói rằng địa bàn nghi vì ở lâu dưới địa bàn (năm ngày mới đổi một lần), đã quen với việc nhập mộ, nên ảnh hưởng không lớn.
3. Về Trung cung
Trung cung thực ra chính là vị trí ban đầu, cũng có thể suy rộng ra là một hình tròn hoặc hình vuông có khoảng cách ngắn lấy vị trí ban đầu làm tâm. Bản mới đổi thành gửi (ký) vào một trong các cung, xem chung với cung được gửi. Trong Huyền Cơ Phú, Trung cung được nói là Ngũ Hoàng đại hung; trong Chỉ Quy, là cung chủ tể. Cả hai đều có ứng nghiệm, nhưng ứng nghiệm của Ngũ Hoàng đại hung chiếm phần nhiều. "Trung cung vi thổ tú" (Trung cung là sao Thổ), cho nên Trung cung phải thuộc Thổ.
4. Cung gửi của Trung cung
Theo Huyền Cơ Phú, Trung cung thuộc Thổ, cho nên cung gửi của Trung cung chỉ có thể tưởng tượng theo cách thuộc Thổ. Cách gửi vào bốn góc (tứ duy) hay gửi theo tám tiết đều làm thay đổi thuộc tính của Trung cung, có lẽ là không đúng. Nhưng lý thuyết là lý thuyết, nếu thay đổi thuộc tính của Trung cung mà chính xác hơn thì vẫn có thể dùng.
5. Về Trung môn
Tức là "bí mật ký môn". Trong Chỉ Quy, dương gửi Tử, âm gửi Sinh. Nhưng trong thực tế có thể xem như cửa Tử, hoặc xem như cửa chủ tể, cửa vua chúa. Hiện tại giới học thuật vẫn đang tranh luận việc Trung môn có phải là sai lầm hay không. Chúng ta là người học sau chỉ có thể lấy thực tế để chứng minh.
6. Thuộc tính của Trực Phù và Đằng Xà
Trực Phù thuộc Mộc, Đằng Xà thuộc Thổ.
7. Ám can là gì?
Ám can là ẩn núp bên trong sự việc, hoặc ở giai đoạn sau của sự việc. Trong sách cổ không có khái niệm ám can, do đó không chủ trương dùng ám can. Nếu dùng thì cũng chỉ nên dùng dưới chủ tinh và trong phi môn (phi môn này không nhất định chỉ trực sứ), tức là chỉ dùng ám can dưới trực phù – ám can này ảnh hưởng đến cát hung toàn cục. Hiện nay ám can cũng chia thành nhiều phái: một bộ của Chỉ Quy, một bộ của Pháp Khiếu, và những bộ khác... Tất nhiên cũng không thể nói là sai, miễn là tăng độ chính xác thì là cái tốt.
8. Trạng thái hưu tù phế mạt của Cửu tinh
Cũng giống như bài ca Yên Ba Điếu Tẩu: sao vượng ở con (cái sinh nó), tướng ở tỷ vai (cùng hành, tỷ hòa), hưu ở thê tài (cái nó khắc), tù ở quan quỷ (cái khắc nó), phế ở phụ mẫu (cái sinh nó). Tuy nhiên trong Huyền Cơ Phú không có cách nói này, do đó chỉ có thể tham khảo. Đặc biệt khi dùng làm dụng thần, ví dụ Thiên Bồng là đạo tặc, Thiên Nhuế là tật bệnh, không thể lấy nguyệt vượng làm chuẩn, nếu không mùa thu không có đạo tặc, mùa hạ không có bệnh tật – điều đó rất phi lý.
9. Về chân thái dương thời (giờ Mặt Trời thực)
Người xưa dùng cách đo bóng cọc tre (nhật quỹ) để xác định giờ, thực ra rất chính xác. Đừng nghĩ rằng người xưa không có kim đồng hồ thì thời gian không chính xác. Cách xác định giờ này tương đương với giờ Mặt Trời thực ngày nay. Vì vậy tôi khuyên mọi người nên dùng giờ Mặt Trời thực để khởi cục, gần với ý nguyên bản của Kỳ Môn. Nhưng lý thuyết là lý thuyết, có người dùng trực tiếp giờ Bắc Kinh lại chính xác hơn, vì vậy hãy tùy vào tình hình thực tế của mình để cân nhắc lựa chọn.
10. Thiên Cầm tinh gửi ở đâu?
Thiên Cầm tinh trong Phi bàn không có cung gửi, đều là một đối một, ý nghĩa rõ ràng, không mơ hồ. Thiên Cầm tinh cũng giống như các sao khác, phân bố đơn lẻ trên chín cung.
11. Không vong có làm xung mất sao xấu, thần xấu, hoặc sao tốt, thần tốt không?
Không vong nếu đại diện cho can của người cầu đoán gặp phải thì bất lợi. Có thể tham khảo phần phép chiêm: phàm nhật can rơi vào không vong đều không cát, hoặc dụng thần đại diện cho người cầu đoán rơi vào không vong cũng không cát. Ví dụ Khai môn đại diện cho công việc, Sinh môn đại diện cho cầu tài rơi vào không vong đều không cát. Cũng có thể đơn giản dùng cách "giảm một nửa cát hung". Một giả thuyết cho rằng: sao xấu, cửa xấu rơi không vong sẽ là cát lợi tạm thời, nhất thời. Cũng có học thuyết xử lý không vong bằng cách chia đôi.
12. Khi nào không vong được điền thực (lấp đầy)? Khi nào bị xung mất?
Ví dụ: Tuần Giáp Thân, Ngọ, Mùi không vong. Khi nhật can hoặc nguyệt can là Ngọ hoặc Mùi, như ngày Mậu Ngọ, Đinh Mùi thì sẽ được điền thực – tức là lấp đầy vị trí không vong. Khi nào bị xung mất? Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi, như ngày Bính Tý, Kỷ Sửu thì có thể xung mất không vong Ngọ Mùi của tuần Giáp Thân. Thông thường, ứng kỳ thường rơi vào lúc điền thực. Nhưng phần lớn ứng kỳ đối với việc tốt là năm tháng ngày sinh trợ dụng thần, đối với việc xấu là năm tháng ngày khắc mạnh dụng thần. Trong ứng kỳ điền thực không vong, do vấn đề hiển thị của phần mềm xếp bàn, ví dụ Tý Sửu không thì cung Khảm, cung Cấn hiển thị không vong, thì ứng kỳ là tháng ngày Tý, Sửu chứ không phải tháng ngày Tý, Sửu, Dần. Ví dụ Ngọ Mùi không hiển thị cung Ly, cung Khôn không, thì ứng kỳ là Ngọ, Mùi chứ không phải Ngọ, Mùi, Thân. Các trường hợp khác cũng tương tự.
13. "Xu hướng tam tị ngũ" (趨三避五) là gì?
Tục cho rằng số ba là cát, số năm là hung, "hướng về ba tránh năm" là sai. Theo Huyền Cơ Phú, "hướng về ba tránh năm" là chỉ hướng về ba vị trí cát: Sinh môn, Trực Phù, Cửu Thiên; tránh năm cửa hung: Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh.
14. Nếu môn bách (môn khắc cung) mà môn đã nhập mộ thì có còn khắc cung được không?
Ý nghĩa gốc của môn bách là môn khắc cung. Nếu môn đã nhập mộ thì đương nhiên không thể khắc cung. Tuy nhiên trong thiết lập phần mềm vẫn có, bởi tình huống tương đối phức tạp. Ví dụ Khai môn nhập mộ, nếu nguyệt vượng là Kim thì Khai môn không nhập mộ, lực lượng này là lớn nhất; hoặc nếu có thiên bàn tinh thuộc Kim tỷ hòa với Khai môn thì cũng không nhập mộ, vẫn có thể khắc cung. Cửa cát bách cung thì cát không thành, cũng không thành hung; nhưng nếu cửa hung bách cung thì sự việc càng hung, cửa càng hung bách cung thì sự việc càng hung.
15. Tại sao sự phân chia giữa ngày và ngày không lấy 0:00 làm mốc?
Trước phiên bản v1.1 đều thiết lập như vậy, dựa theo sách tứ trụ. Nhưng qua một số ví dụ thực tế sau đó phát hiện như vậy không đúng. Lấy 23:00 theo giờ địa phương để phân chia hợp lý hơn và liên tục. Hiện nay đã hoàn toàn giống với thời gian khởi bàn Kỳ Môn trên mạng.
16. Khi nào không nên quá dựa dẫm vào phán đoán tổ hợp cách cục?
Tổ hợp cách cục của Canh, Kỷ, Tân, Quý phần lớn là hung; tổ hợp cách cục của Ất, Bính, Đinh, Mậu phần lớn là cát. Cần tham khảo năm mệnh, bát tự nhật can. Nếu phán đoán theo cách cục, chẳng phải người có năm mệnh Canh, Kỷ, Tân, Quý vĩnh viễn phần lớn là hung, người có năm mệnh Ất, Bính, Đinh, Mậu vĩnh viễn phần lớn là cát hay sao? Điều đó rất không phù hợp với thực tế! Hôn nhân lấy Ất, Canh làm dụng thần, không thể dùng hoàn toàn cách cục (nếu không thì phần lớn Canh sẽ là cách hung). Cầu tài lấy Giáp Tý Mậu làm dụng thần, không thể dùng hoàn toàn cách cục. Nhưng vì người xưa đã chọn Ất, Canh cho hôn nhân, Mậu và Sinh môn cho cầu tài, Đinh kỳ cho văn chương, Khai môn cho nghề nghiệp... làm dụng thần ắt có lý do của họ, do đó cũng có thể tham khảo các cách cục liên quan.
17. Về mối quan hệ vừa tỷ hòa vừa xung giữa cung Cấn (số 8) và cung Khôn (số 2)
Dụng thần rơi vào hai cung này, không thể đơn thuần cho rằng đều thuộc Thổ mà dùng làm tỷ hòa. Phần lớn thời gian dùng làm xung, chỉ là xung này tốt hơn xung thông thường một chút.
18. "Siêu cửu" trong phép Trí nhuận
"Siêu cửu" này chỉ siêu thần chín ngày, không phải là vượt quá chín ngày. Dùng "vượt quá chín ngày" là siêu thập (siêu mười), tức là vượt quá một tuần.
19. Các ngày Trí nhuận vừa đúng siêu 9
22/12/1932
22/6/1947
22/12/1952
22/12/1955
22/6/1967
22/12/1972
22/12/1975
22/6/1987
21/6/1990
22/12/1995
22/6/2007
21/6/2010
22/12/2012
22/12/2015
21/6/2030
Chỉ nửa năm bắt đầu từ thời gian hiển thị ở trên, dữ liệu thống kê từ 1930 đến 2030. Ví dụ 22/6/2007 chỉ khoảng thời gian từ ngày này đến Đông chí.
20. Tác dụng lực của tổ hợp nghi-nghi, thần, sao, cửa
Tổ hợp nghi-nghi có lực lớn nhất, sau đó là cửa, tiếp theo là thần và sao. Trong Huyền Cơ Phú, lực của bát thần (bát tướng) là rất lớn, có thể vượt hơn cả tác dụng của sao.
21. Nhập khố là gì?
Nhập khố là hình thức nguyệt vượng của nhập mộ, nhưng chỉ tính khi tỷ hòa, không tính sinh trợ. Xuất phát từ nguyên lý tứ trụ bát tự: "Nhật can cực nhược nên dùng tỷ kiếp, không nên sinh trợ". Nguyên lý như một đống lửa yếu ớt, nếu dùng quá nhiều củi chất vào có thể làm lửa tắt; nhưng nếu được lửa (tức tỷ hòa) thì lửa yếu sẽ biến thành lửa mạnh. Ở đây, nhập mộ nên phân âm dương, như Bính mộ ở Càn, Đinh mộ ở Sửu. Nhưng nguyệt vượng tỷ hòa thì không phân âm dương: Bính, Đinh nếu nhập mộ ở tháng Tỵ, Ngọ đều là nhập khố. Lực của nhập khố yếu, nếu xem là nhập mộ cũng không sai khác nhiều.
22. Giáp là gửi ở Mậu hay gửi ở Trực Phù?
Qua nhiều ví dụ thực tế, cách gửi Giáp ở Trực Phù có độ chính xác cao hơn một chút. Nhưng cả hai đều có lúc ứng nghiệm và có lúc không.
23. Các cách gửi cung khác nhau
Có các cách: vĩnh viễn gửi cung Khôn (số 2); dương gửi Tử, âm gửi Sinh; dương gửi Sinh, âm gửi Tử; gửi vào bốn góc (tứ duy); gửi theo tám tiết, tháng chi; gửi theo địa bàn trực phù, trực sứ. Trong đó, cách vĩnh viễn gửi cung Khôn 2 và cách gửi theo tháng chi đều có tỷ lệ chính xác khá tốt. Cách dương gửi Sinh, âm gửi Tử sẽ làm cho dương độn có thêm một Sinh môn, âm độn có thêm một Tử môn – chưa hẳn là biểu hiện của sự cân bằng.
24. Có được nhiều thông tin hơn trong cục
Hơn một trăm mục phép chiêm trong Kỳ Môn tương đối ngắn gọn, giống như phán đoán kết quả là được hay không được. Nhưng người cầu đoán cho rằng Kỳ Môn nên có thể đoán được nhiều điều hơn là chỉ vài câu ngắn ngủi: phải nhiều, chính xác, sâu sắc. Để làm được điều này, ngoài việc bàn phải đúng, còn cần rất nhiều ví dụ phản hồi chi tiết, tốt nhất là khởi cục từ câu hỏi, cuộc gọi điện thoại mới có thể tổng kết. Học hỏi các bậc tiền bối trong diễn đàn: lấy Thiên Phụ sinh nhật can thì có văn học tu dưỡng; Bạch Hổ khắc nhật can thì nhiều cạnh tranh; Huyền Vũ khắc nhật can thì đề phòng bị lừa; Sinh môn khắc nhật can thì tài vận không tốt; Thái Tuế khắc nhật can thì bất lợi... Ở đây, cứ mạnh dạn giả định: nếu mỗi lần tám thần sinh khắc nhật can, mỗi lần tám cửa, chín sao sinh khắc nhật can được luận một lần, thì sẽ tạo ra khá nhiều thông tin. Tất nhiên, quan trọng nhất vẫn là độ chính xác, và điều này cũng cần rất nhiều kiểm nghiệm mới có thể sử dụng.
25. Dùng Kỳ Môn Độn Giáp có thể giàu sang, quý hiển không?
Đương nhiên là không. Nếu không, những người nắm giữ Kỳ Môn Độn Giáp, thầy phong thủy đều trở thành tỷ phú cả, nhưng thực tế không phải vậy. Dùng Kỳ Môn Độn Giáp chỉ có thể thuận thiên tri mệnh, tránh tai họa giảm bớt thương tổn, làm việc ở phương vị, thời gian có lợi nhất có thể. Không phải mệnh cách của tỷ phú, đại quan thì không thể thay đổi được. Cưỡng cầu chỉ mang lại tai họa, có không ít ví dụ như vậy. Ý nghĩa lớn hơn của Kỳ Môn Độn Giáp là xu hướng cát, tị nạn hung. Dù có giàu sang, quý hiển, nếu gặp đại tai mà không thể tránh khỏi thì cũng uổng.
26. Một vài nhận xét về dự đoán bóng đá đơn lẻ, cổ phiếu, xổ số
Dùng thời gian thi đấu bóng đá để khởi cục có phần không ổn, bởi cùng một thời điểm có rất nhiều trận đấu trên thế giới bắt đầu, kết quả mỗi nơi mỗi khác. Cổ phiếu cũng vậy, lấy một thời gian cố định để khởi cục, có rất nhiều cổ phiếu, tăng giảm đứng đều có. Xổ số lấy thời gian quay thưởng để khởi cục, cùng một thời điểm trên thế giới cũng có không ít lần quay thưởng – vậy kết quả đó là của nơi nào?... Nên lấy thời gian thuần động niệm hoặc thời gian người khác hỏi để khởi cục thì độ chính xác sẽ cao hơn. Thuần động niệm là ý niệm không có ham muốn tiền bạc, nhưng dự đoán những thứ này lại mâu thuẫn. Dự đoán bóng đá, theo tạm thời biết được từ mạng hoặc sách vở, chủ yếu là địa bàn thời can với thiên bàn thời can, quan hệ sinh khắc giữa thiên bàn Canh và Trực Phù. Một sáng tạo khác là lấy giờ Mặt Trời thực địa phương để khởi cục, lấy điểm trung tâm địa phương hoặc trung điểm bản đồ của đội bóng làm trung cung, rồi xem đội bóng thi đấu cùng thời gian ở cung nào thì dùng thiên nghi, địa nghi và cửa của cung đó để phân tích. Một sáng tạo khác nữa là lấy thời gian thành lập đội bóng làm năm mệnh, so sánh theo can năm. Dự đoán bóng đá, xổ số không nên cưỡng cầu. Nhiều người dự đoán các việc khác đúng trên chín phần, nhưng dự đoán hai thứ này thì không được.
27. Tại sao bình thường dự đoán phần lớn đúng, nhưng lên diễn đàn trực tuyến giúp người dự đoán thì tỷ lệ chính xác không cao lắm?
Vấn đề này khá nhiều người gặp. Thông thường, thông qua điện thoại, QQ, tin nhắn MSN, gặp trên đường phố... khởi cục tức thời thì kết luận của chuyển bàn và phi bàn gần như nhau. Nhưng trên mạng, do thời gian người cầu đoán phát động niệm thường là thời gian lên mạng. Ví dụ điển hình: buổi chiều nghĩ đến việc, nhưng tối lên mạng mới gửi cục hỏi – như vậy đã lệch khỏi thời gian thực của ý niệm. Lúc này dùng phi bàn thường sai lệch rất lớn, dùng chuyển bàn thì sai lệch không lớn lắm. Nhưng nếu có thể lấy thời gian người cầu đoán phát động niệm để khởi cục thì thường chính xác hơn. Một nguyên nhân phụ khác: người cầu đoán trên mạng thường mỗi lần đoán ở một diễn đàn, nhưng thời gian không giống nhau, kết quả cục cũng khác nhau – điều này cũng là một trong những nguyên nhân gây sai. Một nguyên nhân nhỏ nữa: người cầu đoán khi gặp giải quẻ là hung, cũng như khi lắc đồng xu, sau một thời gian ngắn lại cầu đoán tiếp, cho đến khi kết quả dự đoán là "cát" mới thôi. Đối với nhiều lần cầu đoán trong thời gian ngắn, nên lấy lần cầu đoán đầu tiên làm chuẩn.
28. Con đường duy nhất để thay đổi vận mệnh được lan truyền trên mạng – "gieo quả lành gặt quả ngọt" – có thật không?
Tuy không dám khẳng định, nhưng qua các ví dụ từ bạn bè, người thân và trên mạng, điều đó đã được chứng minh là đúng. Nếu bạn hoặc bạn bè xung quanh luôn gặp vận đen dây dưa, thì nên tự vấn xem những việc đã làm trong quá khứ có phải là tội lỗi không, và hiện tại có phải là quả báo không. Vì vậy, khi giúp người dự đoán cũng không nên quá cưỡng cầu. Một người có nhiều vấn đề như vậy có thể là do nhân quả báo ứng, là ý trời. Giúp họ thay đổi tai họa có phần trái ý trời. Giúp người cần phân biệt thiện ác. Thông qua kinh Phật, làm việc thiện có thể thay đổi vận đen của một người, nhưng không được làm với tâm mong cầu báo đáp. Cũng như hòa thượng tụng kinh chỉ để được lên trời mà chẳng làm việc thiện nào là trái với ý nguyên bản của kinh Phật. Tương tự, làm việc thiện chỉ để có được giàu sang cũng là có tư tâm, nhưng vẫn hơn là không làm việc thiện nào.
29. Nhận xét về một số sách cổ
Có tham khảo thêm luận thuật của các bậc tiền bối trên mạng.
Kim Hàm Ngọc Kính Kỳ Môn Độn Giáp Bí Giáp Toàn Thư (tức Kỳ Môn Độn Giáp Bí Giáp Toàn Thư) không có phần "Kim Hàm Ngọc Kính nhật gia Kỳ Môn" phía sau. Cuốn sách này có lẽ không phải do Gia Cát Lượng viết – rất nhiều sách mượn danh Gia Cát Lượng. Được biết Gia Cát Lượng chưa từng viết một cuốn sách nào về Kỳ Môn Độn Giáp, trái lại Vũ Hầu Huyền Cơ Phú (thượng, trung, hạ tam thiên) có thể do ông thuật lại, được phụ lục trong Kỳ Môn Chỉ Quy, Kỳ Môn Độn Giáp Thống Tông, Kỳ Môn Bảo Giám. Cuốn sách này có thể do Lưu Bá Ôn chỉnh lý, nhưng cũng rất có thể là không. Sách này quả thực nhiều và tạp. Lời tựa đầu có thể do Lưu Bá Ôn viết, nói về chuyển bàn pháp. Nhưng nội dung toàn sách, phần tinh bàn có chỗ có thể dùng phi cung pháp, trong khi thần bàn lại viết dùng chín cái nhưng sau lại dùng tám cái. Dù không biết nhân bàn hay thần bàn dùng chuyển hay phi, nhưng phần Thái Công 72 cục cuối sách lại phải dùng phi bàn hoặc chuyển phi mới giải được. Sách cũng pha trộn không ít nhật gia Kỳ Môn, có nhiều chỗ tự mâu thuẫn, lại pha trộn một số pháp thuật Kỳ Môn, thậm chí Đại Lục Nhâm, hoặc lục hào pháp (lục thần lục thân là lục hào pháp). Toàn sách sai chữ khá nhiều. Lưu Bá Ôn, Gia Cát Lượng trí tuệ siêu quần, không thể nào lộn xộn như vậy. Tóm lại, cuốn sách này giống như chép từ các sách Kỳ Môn của nhiều phái mà thành. Nhưng điểm tốt là thông tin nhiều, cơ bản có đủ mọi thứ. Tôi khuyên mọi người nên tham khảo, đặc biệt những nội dung mà sách mình đang đọc thiếu, hầu như đều có thể tìm thấy trong sách này. Tiếc rằng bản khắc gỗ khó tìm. Tuy nhiên, người mới học mà đọc trực tiếp cuốn sách này quả thực là một tai họa. Chính tôi đã từng là nạn nhân của tai họa đó, nên cảm nhận rất sâu sắc.
Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh và Kỳ Môn Độn Giáp Thống Tông đều dùng phi cung pháp. Nguyên Linh Kinh dùng cách môn chuyển tinh phi, bát thần chuyển, dùng trí nhuận pháp, trung cung dương gửi Tử, âm gửi Sinh. Nhưng âm độn dùng phương thức dương thuận âm nghịch, khác với cách phi bàn dương thuận dương nghịch của Kỳ Môn Chỉ Quy và Kỳ Môn Pháp Khiếu. Nguyên Linh Kinh có vài ví dụ khi trực sứ vào trung cung thì đổi dùng chuyển bàn pháp.
Kỳ Môn Pháp Khiếu dùng cách cửu môn phi, bát thần chuyển, có trung môn, trung cung gửi bốn góc, dùng sách bổ pháp.
Kỳ Môn Chỉ Quy có nội dung tham khảo nhiều từ Kỳ Môn Nhất Đắc, nhưng viết khá lộn xộn. Nếu không có phần chiêm nghiệm khóa và Huyền Cơ Phú phía sau thì sẽ kém hơn. Có lẽ thuộc về cách cửu môn cửu thần dương thuận dương nghịch do Đào Chân Nhân đời Minh phát minh. "Bí mật ký môn" nói trong Chỉ Quy và Pháp Khiếu chính là chỉ trung môn.
Kỳ Môn Nhất Đắc và Pháp Khiếu viết có mạch lạc. Nhất Đắc dùng cách bát môn phi, bát thần phi, không phân biệt dương độn, âm độn; gặp trực phù là dương tinh thì thuận phi, âm tinh thì nghịch phi. Phép chiêm của Nhất Đắc chủ yếu lấy sinh khắc của sao, nghi, môn trên dưới trực phù làm chuẩn, tức là địa bàn thời can.
Độn Giáp Diễn Nghĩa (trong Tứ Khố Toàn Thư) và Kỳ Môn Bảo Giám dùng thuần chuyển bàn pháp. Vì được chính quyền nhà Thanh thu nhận, nên bị gọi vui là "cung đình phái". Còn phi bàn pháp bị gọi là "dã ngoại phái" vì phần nhiều do dân gian hoặc kẻ sĩ ẩn dật nắm giữ sử dụng. Kỳ Môn Bảo Giám viết có mạch lạc và độ lượng, rất nên tham khảo khi dùng chuyển bàn pháp.
30. Về Thiên Phụ thời (Thiên Hiển Thời Cách)
Âm Phù Kinh viết: "Phàm Thiên Phụ chi thời, hữu tội vật sát, phủ việt tại tiền, thiên ất cứu chi, vị Giáp Kỷ chi nhật, thời gia Kỷ; Ất Canh chi nhật, thời gia Thân; Bính Tân chi nhật, thời gia Ngọ; Đinh Nhâm chi nhật, thời gia Thìn; Mậu Quý chi nhật, thời gia Dần." Sách sau truyền sai, cho rằng Giáp Kỷ chi nhật Kỷ Tỵ thời, Ất Canh chi nhật Bính Thân thời... Nghĩa phía sau sai nhưng kết quả đúng, chỉ có Giáp Kỷ chi nhật Kỷ Tỵ thời là sai, phải là "thời gia Kỷ". Giáp Kỷ chi nhật thời gia Kỷ, tức là Giáp Kỷ chi nhật Giáp Mậu thời? Cần cẩn thận: "thời gia Kỷ" nghĩa là thời can là Kỷ? Thực tế "thời gia Kỷ" có nghĩa là giờ có can Kỷ, như Kỷ Tỵ, Kỷ Mão... Tuy nhiên, đoạn này đang giải thích Thiên Phụ thời. Kết luận: ngoài lục Giáp chi thời (Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần) thì các giờ còn lại có thể là Thiên Phụ thời.
31. Về Tam Kỳ đắc sử
Trong Kỳ Môn Bảo Giám, cho rằng Tam Kỳ đắc sử là Tam Kỳ cộng tam cát môn. Trong Âm Phù Kinh, cho rằng: "Phàm tam kỳ trực sử giả vi tam kỳ đắc lục giáp sở sử, kỳ dã tức Ất vi Giáp Tuất, Giáp Tý sử; Bính vi Giáp Dần, Giáp Thân sử; Đinh vi Giáp Thìn, Giáp Dần sử. Tam kỳ vi cát môn, hợp đắc thử thời giả, vưu lương." Đại khái chỉ: Ất gia Giáp Mậu Kỷ, Giáp Tý Mậu, nếu hợp với trực sứ môn và là cát môn thì đặc biệt cát. Nghĩa của đoạn này chưa thật rõ. Kết hợp với phần dưới: "Giả linh dương độn dụng thiên nguyên thượng nguyên nhất cục, dụng Giáp Kỷ chi nhật, nhật nhập Quý Dậu, thiên ất trực sứ tại nhất cung, dĩ trực phù Thiên Bồng gia lục Quý, Hưu môn trực sự gia nhất cung, phương Bắc Hưu môn hạ hữu lục Bính, nhật kỳ nhi lâm Giáp Tý, lục Bính sở sử giả thị dã." Tức là khi Bính kỳ gặp trực sứ môn, lại là Bính gia Giáp Tý Mậu thì chính là Bính kỳ đắc sử. Do không có bản khắc gỗ, câu "kỳ dã tức Ất vi Giáp Tuất, Giáp Tý sử; Bính vi Giáp Dần, Giáp Thân sử; Đinh vi Giáp Thìn, Giáp Dần sử" ở trên có lẽ có chữ sai, vì không phù hợp với điều nói dưới. Có thể do lỗi chữ. Xem lại bài ca Yên Ba Điếu Tẩu: "Tam kỳ đắc sử thành kham sử, lục giáp ngộ chi phi tiểu bổ, ất phùng khuyển mã bính thử hầu, lục đinh ngọc nữ lâm long hổ." Tham khảo thêm Kỳ Môn Độn Giáp Bí Giáp Toàn Thư, Tam kỳ đắc sử đúng phải là: "Ất gia Giáp Tuất, Giáp Ngọ; Bính gia Giáp Tý, Giáp Thân; Đinh gia Giáp Thìn, Giáp Dần Quý." Tức là Tam kỳ đắc sử chính là Tam kỳ gặp trực sứ môn và gặp tổ hợp trên. Còn tại sao Ất lại là Giáp Tuất, Giáp Ngọ sứ; Bính là Giáp Tý, Giáp Thân sứ, tôi cũng không rõ.
32. Địa bàn Mậu lạc cung chỉ số lượng tài sản quá khứ có phần không ổn
Địa bàn nghi năm ngày mới thay đổi một lần, không thể nào trong năm ngày số lượng tài sản của người cầu đoán giống nhau được.
33. Đàn ông thứ ba có dùng Bính không?
Trong phép chiêm, chỉ nói đàn bà thứ ba dùng Đinh. Mà Đinh hợp với Nhâm, liệu đàn ông thứ ba có nên dùng Nhâm không? Điều này cần nhiều ví dụ thực tế. Còn việc có dùng Bính hay không cũng cần nhiều ví dụ kiểm chứng.
34. Tính võ đoán của cách cục và một số mâu thuẫn trong phần phép chiêm
Cách cục của Kỳ Môn khá võ đoán và bi quan, có lẽ vì Kỳ Môn chủ yếu dùng để dự đoán trong quân sự. Vì vậy, cổ pháp nói "tiểu hung tức vi cát" (hung nhỏ tức là cát) là có lý. Ví dụ "Kỷ gia Kỷ: địa hộ phùng quỷ, bệnh giả tất tử" – nếu chỉ dựa vào điều này để đoán bệnh, có rất nhiều trường hợp bệnh nhân không chết. Trong đoán bệnh, câu "gặp Sinh môn thì sống, gặp Tử môn thì chết" có nhiều trường hợp gặp Tử môn chỉ là bệnh mãn tính lâu ngày. "Canh gia Tân vi Bạch Hổ cán cách, viễn hành xa gãy ngựa chết" – chỉ dựa vào điều này để đoán việc, có nhiều ví dụ ra ngoài chẳng sao cả... Vì vậy, khi xem cách cục còn phải kết hợp với sao, cửa, thần để tham khảo tổng hợp, hoặc thêm tham khảo năm mệnh. Đoán tìm con cái: "Âm độn phương hướng thì xem địa bàn Lục Hợp" – địa bàn Lục Hợp năm ngày mới đổi một lần, không thể nào trong năm ngày đó trẻ em lạc của tất cả người cầu đoán đều ở cùng một hướng. Đoán bắt cướp: có cách xem Câu Trần/Bạch Hổ có khắc Thiên Bồng không, có cách xem Thương môn có khắc Thiên Bồng không. Theo lý thì cửa có lực lớn nhất, nên độ chính xác của Thương môn cao hơn. Còn đoán kiện tụng v.v... Phần phép chiêm cần xem cách nào chính xác thì dùng cách đó, không nên quá tin, hoặc trở về với cổ pháp dùng trực phù, trực sứ.
35. Làm thế nào để phân biệt bàn hiện tại dùng chuyển bàn hay phi bàn là chính xác?
Thông thường, nếu bàn đúng thì độ chính xác của các thông tin tương ứng khác sẽ trên 80%. Ví dụ các thông tin liên quan như bệnh tật, hôn nhân, cha mẹ, anh chị em, tài vận... cơ bản sẽ phù hợp với thông tin của bàn.
36. Học tập Thần Cơ Chế Địch Thái Bạch Âm Kinh – Độn Giáp Thiên
Đó là Âm Phù Kinh của Lý Thuyên đời Đường. Cuốn sách này có lẽ là cuốn sách Kỳ Môn sớm nhất hiện còn lưu hành, dùng chuyển bàn pháp vĩnh viễn gửi cung Khôn 2. Nhưng không thể đại diện cho Kỳ Môn nguyên bản. Kỳ Môn Độn Giáp được phát minh trước đời Chu. Huyền Cơ Phú và Yên Ba Điếu Tẩu Ca có lẽ còn sớm hơn Âm Phù Kinh. Thực ra, trực phù không phải chỉ sao mà là chỉ lục nghi. Ví dụ tuần Giáp Tý, trực phù là Giáp Tý Mậu. Nhưng vì ảnh hưởng không lớn nên cũng không quá quan trọng. Lục nghi kích hình là chỉ khi trực phù kích hình, các nghi khác kích hình không tính, hoặc chỉ tính mức độ không bằng. Phản ngâm, phục ngâm chỉ quan hệ giữa trực phù và trực sứ. Cách khởi cục: Đông chí: Giáp Tý thứ nhất là thượng nguyên, Giáp Tý thứ hai là trung nguyên, Giáp Tý thứ ba là hạ nguyên. Nhưng "Giáp Tý" ở đây nên chỉ giờ chứ không chỉ ngày. Trong thực tế, cách khởi cục này không bằng sách bổ và trí nhuận chính xác. Phi bàn, chuyển bàn cũng đã được kiểm chứng. Vì vậy trong phiên bản v2.0 không thêm vào, nhưng sẽ giải thích ngắn gọn ở đây.
37. Thực hành các cách xếp bàn khác nhau
Chủ yếu lấy phần phép chiêm làm chuẩn. Qua gần trăm ví dụ nghiên cứu, bao gồm trên diễn đàn, QQ, thời gian điện thoại, ý niệm tự phát... Trên diễn đàn, chuyển bàn pháp có độ chính xác cao nhất. Trên diễn đàn, với các cục lấy thời gian điện thoại, phi bàn dạng môn chuyển tinh phi, bát môn phi có độ chính xác cao hơn cửu môn phi. Nhưng trong đời sống thực tế, khi gặp việc trực tiếp, thì cửu môn phi có độ chính xác cao nhất. Không biết đây có phải là lý thuyết "nhân bàn hợp nhất" không: dùng lâu một loại bàn khởi cục sẽ tự nhiên hợp với "mã ổ đĩa" (có lẽ ý nói hợp với môi trường xung quanh). Sau một thời gian, tôi dùng môn chuyển tinh phi hoặc bát môn phi lại có độ chính xác cao hơn cửu môn phi. Cửu thần phi có độ chính xác cao hơn bát thần phi. Bát thần chuyển có độ chính xác tương đương với cửu thần phi. Sách bổ pháp có độ chính xác cao hơn trí nhuận pháp. Pháp của Mao Sơn Đạo Nhân do thời gian có hạn chỉ kiểm tra vài ví dụ, chưa dám khẳng định, nhưng đều có độ chính xác nhất định. Chuyển bàn và các loại phi bàn đều có lúc không chính xác, cũng đều có lúc là duy nhất chính xác – đây mới là khó khăn lớn nhất để phân biệt tốt xấu. Ngay cả khi dùng cùng một loại xếp bàn, lần lượt dùng sách bổ pháp, trí nhuận pháp, Mao Sơn pháp cũng tương tự: đều có lúc ứng nghiệm, lúc không, cũng có lúc là duy nhất ứng nghiệm. Ở đây, "không ứng nghiệm" được xem xét theo cách nhìn hậu sự. Nếu nhìn hậu sự mà vẫn thấy khiên cưỡng thì gọi là không ứng nghiệm. Tất nhiên, có thể do trình độ của tôi còn hạn chế, vì vậy chỉ mang tính tham khảo.
38. Về Thiên Kim Quyết
Đó là phần phụ lục cuối Kim Hàm Ngọc Kính Kỳ Môn Độn Giáp Bí Giáp Toàn Thư, cách đoán việc dựa theo thời can, nhật can, gồm binh chiêm, hôn nhân chiêm, tật bệnh chiêm... Ưu điểm là khi đoán một việc thì khá chi tiết, nhưng nhược điểm là chỉ đoán được một việc vì cách đoán mỗi loại về cơ bản giống nhau, không bằng phần phép chiêm có thể đoán nhiều việc khác. Vì thiếu sách, tôi cũng không rành lắm, chỉ có thể nói đơn giản về hôn nhân chiêm và tật bệnh chiêm. Trong hôn nhân chiêm, trực phù trực sứ nên chỉ nhật can và thời can thừa bát thần và cửa, bởi nhật can là nam, thời can là nữ. Trong cửu tinh, "Anh: tử xích, tế ma, đại thanh" cũng chỉ sao mà nhật can và thời can thừa, hoặc chỉ đối tượng mai mối. Thiên tam môn, địa tứ hộ thuộc Đại Lục Nhâm, tôi không rành. Phần luận cách cục "phản thủ thừa long chi tế, điệt huyết bách lượng chi nương" nên chỉ thời can. Trong tật bệnh chiêm, trực phù, trực sứ, thập can nên chỉ thời can, bởi nhật can là người, thời can là bệnh; trực phù cũng là do bệnh từ đâu ra; trực sứ là mức độ nghiêm trọng của bệnh. Các câu phán sau "phản thủ điệt huyết cát khóa thành hung, quỷ độn nhân độn tự phi cát triệu, quỷ giả nhân giả phi thị hưu chinh" cũng nên chỉ thời can. Mọi người có thể dùng chuyển bàn pháp hoặc phi bàn pháp để kiểm chứng. Nhiều câu phán trong một số sách thực ra cũng bắt nguồn từ Thiên Kim Quyết về luận cát hung cách. Khó khăn hiện tại là Thiên Kim Quyết này dùng cách xếp bàn nào, chuyển bàn hay phi bàn, còn chờ mọi người kiểm chứng.
39. Về Kỳ Môn Độn Giáp chân truyền
Hiện nay các sách cổ mà chúng ta có thể thấy đều không phải là Kỳ Môn Độn Giáp chân truyền nguyên bản. Dù mỗi sách cổ đều cho mình là chính tông, phê phán cái khác là sai. Chân truyền được đồn đã thất truyền, vì vậy độ chính xác dự đoán không thể đạt 100%. Dù là chuyển bàn pháp hiện nay, các loại phi bàn pháp, hay cách khởi cục, có lẽ đều không phải là Kỳ Môn Độn Giáp chân truyền. Do đó, với tư cách người học sau, đối mặt với Kỳ Môn có nhiều môn phái, chỉ có thể chọn cách nào thực tế chính xác mà dùng. Còn chân truyền thực sự thế nào, tôi cũng không biết.
40. Sự hỗn loạn của Kỳ Môn
Kỳ Môn cũng giống như phong thủy, có nhiều môn phái và hỗn loạn, càng học càng rối. Sách Kỳ Môn nhiều nhất là đời Minh, Thanh, cũng là thời đại gây hỗn loạn nhất. Các cách xếp bàn rất nhiều, mỗi loại cũng có người dùng, có lúc ứng nghiệm, dĩ nhiên cũng có lúc không. Ngoài phần mềm có thể xếp, còn có: nghi chuyển tinh phi, tinh nhập trung cung phi, cách xếp của Kỳ Môn Nhất Đắc không phân âm dương độn; ngoài ra, nhật gia Kỳ Môn có thể xếp cửa theo chiều nghịch, v.v. Phương pháp dự đoán cũng có nhiều loại. Ngay cả trong phần phép chiêm cũng có tranh cãi. Ví dụ: cầu tài có loại chuyên xem một Sinh môn (đơn cung chiêm), có loại xem quan hệ giữa Sinh môn và Mậu, có loại xem quan hệ giữa Sinh môn và nhật can. Hôn nhân: ngoài Ất, Canh, có loại xem thời can (chỉ địa bàn thời can, tức cung trực phù) và các sao, cửa, nghi trên dưới để đoán, chủ yếu từ Kỳ Môn Nhất Đắc. Vay tiền, trả tiền: có loại xem cung trực phù và quan hệ với địa bàn chi tinh, có thể xem là đơn cung chiêm; có loại xem quan hệ giữa trực phù và trực sứ. Ngoài phần phép chiêm, còn có phép chiêm lục thân: lấy nhật can làm tôi (ta), can sinh tôi là cha mẹ, can khắc tôi là quan vị, tôi khắc can là thê tài. Đối với nữ, can khắc tôi là chồng và quan vị. Trong Huyền Cơ Phú, khi đoán bát tự, khởi cục lấy niên can làm tôi, lại khác với điều này. Phép chiêm lục thân cũng có chỗ chính xác, nhưng cũng có hạn chế: nếu người nữ cầu đoán hỏi cả hôn nhân và công việc cùng lúc thì khó phân biệt, vì đều lấy can khắc tôi làm dụng thần. Nếu người nam cầu đoán hỏi cả cầu tài và hôn nhân cùng lúc cũng khó phân biệt, vì đều lấy tôi khắc can làm dụng thần. Cũng có loại muôn việc tĩnh chỉ xem cung trực phù và trực sứ để dự đoán – đó có lẽ là phương pháp Kỳ Môn nguyên thủy, như các ví dụ trong phần "Chỉ Quy chiêm nghiệm khóa", hoặc chỉ xem một cung trực phù – như phần lớn phép chiêm trong Kỳ Môn Nhất Đắc. Ngoài ra còn có Thiên Kim Quyết lấy nhật can, thời can, trực phù, trực sứ làm chuẩn. Còn có một số phái gia truyền, Kim Khẩu quyết, v.v. Vì vậy, nhiều bậc tiền bối cho rằng nên lấy các sách Kỳ Môn bản sớm làm chuẩn, không cần quá đi sâu vào các sách Kỳ Môn đời sau. Cá nhân tôi cho rằng nên lấy Huyền Cơ Phú của Vũ Hầu làm chuẩn. Huyền Cơ Phú cố gắng xem bản PDF, phần đầu mỗi đoạn ngắn gọn có lẽ là nguyên câu của Vũ Hầu, phần giải thích sau có lẽ là người sau thêm vào. Do đó, chỗ mâu thuẫn thì lấy phần đầu mỗi đoạn làm chuẩn. Ngoài ra, tham khảo Âm Phù Kinh hoặc các sách bản sớm hơn. Một số học giả cho rằng Yên Ba Điếu Tẩu Ca có thật có giả. Còn những thứ như ám can, trung môn, Thái Thường không được nói trong sách cổ có lẽ cũng không đúng, cố gắng đừng dùng. Về cung gửi, sách cổ cũng không nói gửi cung nào. Hoặc "đại đạo chí giản", gửi cung Khôn 2 là đúng.
41. Học thuyết thập thần theo can năm của người cầu đoán
Chủ yếu học phần "chiêm vận mệnh" trong Huyền Cơ Phú: "Nhân thủ niên can vi mệnh, sinh thời chi cục vi định, tiện thủ bản mệnh vi đề, thứ khán cửu tinh hà nghi... Sinh ngã chi can vi phụ mẫu, ngã sinh chi can vi tử tôn, tỷ kiên tức thị huynh đệ, khắc ngã quan lộc kiên tật, ngã khắc thê vị cập tài, âm dương phân biệt nghi kỵ." Dùng lý thuyết này, có thể bỏ qua hơn 120 mục phép chiêm trong phần phép chiêm, chỉ với một cục có thể đồng thời dự đoán tối đa cha mẹ, con cái, anh em, quan lộc tật bệnh, vợ tiền của mười người có niên can khác nhau (mười thiên can). Nếu chia thêm thiên nghi, địa nghi thì có thể tối đa hai mươi người. Nhưng cách cục không áp dụng được, vì niên can cố định, lý do giống như mục "16. Khi nào không nên quá dựa dẫm vào phán đoán tổ hợp cách cục". Cũng có một số hạn chế, đã đề cập ở mục "40. Sự hỗn loạn của Kỳ Môn". Nhưng vì xuất phát từ Vũ Hầu, ắt hẳn chính tông hơn các học thuyết khác, nên có giá trị nghiên cứu đáng kể.
42. Không có thầy ở bên cạnh thì chớ tu tập pháp thuật Kỳ Môn hay sử dụng bùa chú
Như đã nói ở trên, cái hiện nay dùng khó bảo đảm là Kỳ Môn Độn Giáp chân truyền. Nếu cục số sai, nhưng hiệu quả của pháp thuật vẫn tồn tại, chẳng phải sẽ phản đòn vào mình sao? Cũng đã xem trên mạng, có người vì luyện pháp thuật Kỳ Môn mà bị điên! Một số bậc tiền bối học giả nói "mười người học Kỳ Môn chín người điên" có lẽ là chỉ việc học pháp thuật Kỳ Môn bị điên, hoặc dùng nhầm pháp thuật Kỳ Môn hoặc bùa chú, xui xẻo ba, năm năm, thậm chí mười năm – hậu quả rất đáng sợ! Vì vậy, không có thầy sáng (minh sư) hướng dẫn, tuyệt đối không được tu tập pháp thuật Kỳ Môn, càng không được có tà niệm. Trong nhiều trường hợp, người thi triển pháp thuật và người nhận pháp thuật sẽ nhận phản hồi giống nhau. Điều này cũng như sách luyện khí công nói: khi luyện lên tầng cao sẽ xuất hiện ảo ảnh, mà ảo ảnh này bắt nguồn từ tham niệm và sợ hãi của bản thân, không phải chân thực. Chỉ có không sợ hãi, không tham lam, thản nhiên đối diện mới có thể tu chính quả. Nhưng tốt nhất vẫn nên có minh sư ở bên cạnh. Ngoài ra, không biết pháp thuật, bùa chú của Kỳ Môn có giống như phái Mao Sơn, có quá trình "thỉnh thần, tống thần" và có những ngày kiêng kỵ hay không. Thỉnh thần dễ, tống thần khó – lỡ thỉnh thần mà không tống đi được thì đại họa ập đến.
43. Về việc dự đoán nhiều có hại không?
Dự đoán vì là hành vi tiết lộ thiên cơ. Một số người học Dịch Kỳ Môn không chỉ một lần đặt vấn đề này, và cũng viết ra trải nghiệm của mình. Theo kinh nghiệm của tôi, nhận định này là đúng. Bản thân tôi cũng từng dự đoán rất nhiều để học hoặc giúp người, vận may có dấu hiệu xui xẻo hoặc hao tài nhẹ, v.v. Vì mục đích dự đoán của tôi không mang ý xấu và thường là giúp người, không lấy một đồng nào, nên vận rủi không quá lớn. Tôi không biết mọi người thế nào, nên chỉ có thể nói trải nghiệm của mình. Hoặc có thể đưa ra vài lời khuyên: một số việc tự mình biết là được, đừng tiết lộ ra ngoài. Đối với người cầu đoán mang ý bất thiện thì không chiêm: như cầu tài để đánh bạc, cầu sinh tử của người khác, người thứ ba cầu tình cảm của người khác để chờ thời cơ chen vào, cầu thai nhi là trai hay gái để chọn phá thai (vì nhà nước đã lập pháp cấm siêu âm để tránh mất cân bằng giới tính từ vài năm trước). Nếu tâm thái coi người cầu đoán như vật thí nghiệm để kiểm tra độ chính xác... Đôi khi tụng kinh Phật hoặc làm việc thiện nhiều hơn sẽ giảm bớt tổn hại do dự đoán.
44. Về phục ngâm cục
Trên diễn đàn dự đoán, phục ngâm cục dễ xuất hiện. Phần lớn là do người cầu đoán đã cầu đoán lặp lại, vì vậy không động. Kết quả dự đoán là kết quả của lần khởi cục trước hoặc lần cầu đoán trước đó. Cần chú ý phân biệt.
45. Về tiến cung, thoái cung
Thực ra có cổ pháp có thể tìm. Trong phần phép chiêm, mục "83. Chiêm đạo đồ cát hung: Thời can sở lạc tiền nhất cung, ngộ Thiên Bồng vi tặc, như vô bất ngộ, tái khán thời can sở gia bản cung, đắc tam kỳ cát môn tinh vượng tướng cập chư cát cách giả bất phòng." "Tiền nhất cung" của thời can chính là cung phía trước, dương thuận âm nghịch, chỉ việc sẽ xảy ra trong tương lai.
46. Một số phương pháp đoán sai phổ biến có thể
Dùng cửu môn phi, dương thuận âm nghịch. Ví dụ: từ 0 giờ đến 11 giờ ngày 7/11/2008, sáu giờ này, can và sao của Khai môn đều giống nhau: đều là Thiên Xung tinh và Giáp Thân Canh, chỉ khác cung lạc. Ví dụ: từ 0 giờ đến 19 giờ ngày 5/11/2008, mười giờ này, can của Thiên Nhuế tinh đều mang Đinh kỳ. Nếu dùng phần phép chiêm về công việc để xem Khai môn, mà lấy can và sao của Khai môn để đoán tính chất công việc v.v. thì chắc chắn sai – không thể sáu giờ liền giống nhau được! Tương tự, nếu dùng phần phép chiêm về bệnh tật để xem Thiên Nhuế tinh, mà lấy can của Thiên Nhuế tinh để đoán bệnh tật thì chắc chắn cũng sai – không thể mười giờ liền giống nhau được! Dùng chuyển bàn pháp để đoán bệnh cũng vậy. Ví dụ: từ 0 giờ đến 19 giờ ngày 5/11/2008, mười giờ này, can của Thiên Nhuế tinh đều là Giáp Tý Mậu, Giáp Ngọ Tân, và đều thừa Trực Phù. Còn sao và nghi của Khai môn trong chuyển bàn pháp thì có thể dùng, vì chúng thay đổi khác nhau.
Ví dụ: trong mười giờ từ 0 giờ đến 21 giờ ngày 26/11/2008, đối với phi bàn (dương thuận âm nghịch), nhật can Canh đều thừa Thiên Tâm tinh; nếu dùng cửu thần phi thì đều thừa Đằng Xà; chuyển bàn cũng giống và đều thừa Cửu Thiên. Nếu lấy sao và thần mà nhật can thừa để đoán một số việc như công việc hiện tại, ngoại hình, phẩm hạnh... thì chắc chắn không đúng, nguyên lý giống như đã nói ở trên.
