Hai phương pháp lập cục trong Kỳ Môn đoán trạch (nhà ở)
Hai phương pháp lập cục trong Kỳ Môn đoán trạch (nhà ở)
Trong quá trình diễn giải Kỳ Môn Độn Giáp, dùng Bát quái để ghi nhận phương vị, dùng mười Thiên Can ẩn một can, phối với Cửu cung để ghi nhận sự giao thoa giữa thiên tượng và địa tượng, dùng Bát môn để ghi nhận nhân sự, dùng Cửu tinh Bát thần để ghi nhận hoàn cảnh chung quanh. Có thời gian, có không gian, thể hiện đầy đủ trí tuệ về vũ trụ quan của người xưa.
Chúng ta đều biết cát hung họa phúc của con người có liên quan mật thiết đến phương hướng, mặt trời mọc lặn, trăng tròn khuyết, xuân đi thu đến trong khái niệm không gian trái đất. Mặt trời mọc lặn, xuân đi thu đến là kết quả của các thiên thể vũ trụ biến đổi theo thời gian. Cùng một không gian, phương hướng, nhưng ở những thời điểm khác nhau, xét từ góc độ vũ trụ quan thì hoàn toàn khác biệt.
Vì vậy nói Kỳ Môn Độn Giáp là một môn học vĩ mô về vũ trụ, có quan niệm về thời gian và không gian, là một môn học siêu thời đại nghiên cứu động lực thời không.
Chức năng và ứng dụng hiện đại của Kỳ Môn Độn Giáp
Bởi vì Kỳ Môn Độn Giáp là sự biểu hiện của từ trường giao thoa thời không. Trong thời phong kiến xưa, hoàng thất dùng nó để điều binh khiển tướng, xuất kỳ chế thắng. Ngày nay chúng ta dùng nó để suy tính phương cát lành ở một thời điểm nào đó. Tất nhiên, Kỳ Môn Độn Giáp sinh ra từ tự nhiên, vì vậy chức năng lý luận của nó không thể vượt ra ngoài tự nhiên. Nếu con người muốn mượn Kỳ Môn để đạt được những mục đích siêu tự nhiên theo dục vọng của bản thân, thì điều đó không thể thực hiện được. Tuy nhiên, với tư cách là một công cụ nhận thức tự nhiên, nó tồn tại một giá trị nhất định.
Ngoài ra, Kỳ Môn Độn Giáp dùng thời bàn để bói toán suy luận sự việc càng xuất thần nhập hóa, nhanh chóng và chính xác. Nếu người nghiên cứu có thể nắm bắt được bí ẩn trong đó thì khi sử dụng sẽ vô cùng kỳ diệu. Dĩ nhiên, ngoài những điều đã trình bày ở trên, Kỳ Môn Độn Giáp còn rất nhiều công dụng khác, tùy thuộc vào sự khéo léo của người sử dụng. Nhưng trong đó cũng có một phần yếu tố mê tín.
Kỳ Môn đoán trạch (nhà ở)
Kỳ Môn đoán trạch chia làm hai phương pháp: một là lập cục dựa vào thời gian dự đoán, hai là lập cục dựa vào thời gian nhập trạch (vào nhà mới). Cả hai đều dựa vào can chi của nhật thần, cùng với tượng thuật của Phù, Sử gia lâm Cửu cung để phân tích tổng hợp tham khảo. Trong điều chỉnh (cải thiện phong thủy), cần hóa giải những hung tượng đã dự đoán được, đồng thời dùng phương pháp hậu thiên để bổ sung những thông tin cát tường đã dự đoán. Như vậy con người có thể sống trong môi trường cư trú hài hòa với tự nhiên. Phương pháp điều chỉnh cũng rất đa dạng, có thể tùy cơ hóa giải, không thể rập khuôn một phương pháp, vì nếu dùng một cách máy móc thì sẽ không linh nghiệm. Tựu chung không ngoài nguyên lý sinh, khắc, chế, hóa của âm dương ngũ hành.
Tượng thuật phân tích của Cửu thần (Bát thần):
Trực Phù: Đại diện cho hướng nhà phía Đông Bắc.
Đằng Xà: Đại diện cho đàn bà, sự kinh hãi bất an.
Thái Âm: Đại diện cho đàn bà, sự riêng tư, ẩn khuất.
Lục Hợp: Đại diện cho con cái, anh em, bạn bè thân hữu.
Câu Trần (Bạch Hổ): Đại diện cho đường sá, sự chết chóc, tổn thương.
Chu Tước (Huyền Vũ): Đại diện cho miệng lưỡi, thị phi, trộm cắp, tiểu nhân.
Cửu Thiên: Đại diện cho phòng ở sáng sủa.
Cửu Địa: Đại diện cho phòng ở u ám, tối tăm.
Tượng thuật phân tích của Bát môn:
Hưu Môn: Là cửa nẻo của trạch Khảm (hướng Bắc), đại diện cho giếng, suối, nước.
Thương Môn: Là cửa nẻo của trạch Chấn (hướng Đông), đại diện cho chợ búa, ồn ào.
Đỗ Môn: Là cửa nẻo của trạch Tốn (hướng Đông Nam), đại diện cho vườn hoa, đất xanh.
Cảnh Môn: Là cửa nẻo của trạch Ly (hướng Nam), đại diện cho màu sắc, gấm vóc.
Đây là Đông tứ trạch (bốn hướng nhà phía Đông).Tử Môn: Là cửa nẻo của trạch Khôn (hướng Tây Nam), đại diện cho đồng vắng, nhà cô độc.
Kinh Môn: Là cửa nẻo của trạch Đoài (hướng Tây), đại diện cho sự phế bỏ, thiếu thốn, ô uế.
Khai Môn: Là cửa nẻo của trạch Càn (hướng Tây Bắc), đại diện cho nhà cửa rộng lớn.
Sinh Môn: Là cửa nẻo của trạch Cấn (hướng Đông Bắc), đại diện cho đường sá.
Đây là Tây tứ trạch (bốn hướng nhà phía Tây).
Tượng thuật phân tích của Thập can (mười thiên can):
Giáp: Đại diện cho cột cái, đòn dông.
Ất: Đại diện cho kèo, xà ngang, cửa sổ, giường.
Bính: Đại diện cho bàn thờ thần, hương khói.
Đinh: Đại diện cho ống khói, bếp lò.
Mậu: Đại diện cho tường vây, nhà kho.
Kỷ: Đại diện cho nơi ở, sân trời (thiên tỉnh), nhà cửa.
Canh: Đại diện cho hành lang, nóc nhà.
Tân: Đại diện cho kho lương, cửa sổ, cửa ra vào, nồi, chậu.
Nhâm: Đại diện cho giếng nước.
Quý: Đại diện cho nhà vệ sinh, cửa sau.
Tượng thuật phân tích của Cửu tinh:
Thiên Bồng: Đại diện cho nhà cửa, sân vườn, con trai giữa.
Thiên Nhậm: Đại diện cho đường sá, đạo sĩ, con trai út.
Thiên Xung: Đại diện cho cửa sổ, cửa ra vào, xà nhà, con trai trưởng.
Thiên Phụ: Đại diện cho ni cô, đồ vật, con gái trưởng.
Thiên Anh: Đại diện cho nhà đường (phòng khách chính), con gái giữa.
Thiên Nhuế: Đại diện cho sân vườn, người mẹ già, quyến thuộc, đường sá.
Thiên Cầm (Thiên Thụ?): Đại diện cho dì (mẹ vợ), phòng đường (nhà chính).
Thiên Trụ: Đại diện cho cửa ngõ, nhà vệ sinh, con gái út.
Thiên Tâm: Đại diện cho tường vách.
Tượng thuật phân tích của Cửu cung:
Cung Khảm (1): Vượng thì nhà cửa thanh tú, vuông vức, uyển chuyển, có nề nếp; suy thì cao thấp không đồng đều, thấp lún, u ám, có ao nước.
Cung Khôn (2): Vượng thì đất đai rộng rãi, nhà cửa rộng lớn; suy thì đổ nát, cũ kỹ, bên cạnh có đền miếu, thần điện.
Cung Chấn (3): Vượng thì nhà cao cửa rộng; suy thì cửa nẻo hư hỏng, xung quanh có chợ búa, cây cối rậm rạp.
Cung Tốn (4): Đại diện cho phòng khách.
Cung Trung (5): Đại diện cho nơi cư trú (nhà ở).
Cung Càn (6): Vào mùa Hạ thì gần lò gạch, lò sưởi; vào mùa Đông thì gần cầu cống; xung quanh có công trình chính phủ.
Cung Đoài (7): Vượng thì tường vây ngay ngắn, chỉnh tề; suy thì thiếu hụt, đổ nát, không đều, xung quanh có nước bẩn.
Cung Cấn (8): Vượng thì cư trú an lành; suy thì đổ nát, cũ kỹ, xung quanh có đường nhỏ, gò cao.
Cung Ly (9): Vượng thì cong thẳng, mới mẻ; xung quanh có lò lửa.
Tượng thuật phân tích của các cách cát hung (cát hung cách):
Thanh Long phản thủ: Chủ nhà cửa rộng rãi, cao ráo.
Phi điểu điệt huyệt: Chủ nhà cửa mới mẻ, đẹp đẽ.
Cửu độn: Chủ nơi ở tàng phong tụ khí (giữ được phong thủy).
Tam trá: Chủ được che chở, bảo vệ.
Tam kỳ đắc sử: Chủ đường đường, nhà cửa nghiêm trang.
Ngọc nữ thủ môn: Chủ gia cư thanh tịnh.
Ngũ giả: Chủ thêm phần thích hợp, tiện nghi.
Tam thắng cung: Chủ tu tạo, sửa sang nhà cửa được cát lợi.
Thanh Long tẩu thoát: Chủ hành lang, nhà cửa có tổn hại, sứt mẻ.
Bạch Hổ xương cuồng: Chủ phía Tây (hướng Tây) mạnh hơn.
Quý + Đinh: Chủ nhà bếp và nhà vệ sinh không tốt.
Đinh + Quý: Chủ quỷ thần quấy nhiễu, tai ương.
Phục càn nhập trạch: Chủ chưa được thuận lợi.
Phi càn: Chủ nền móng gặp tai ương.
Phục cung: Chủ phòng ngừa người khác hãm hại.
Phi cung: Chủ họa khởi nội bộ (anh em tranh giành).
Đại cách, tiểu cách: Chủ phía trước và phía sau xung chiếu, bất lợi.
Doanh nhập bạch hổ (Doanh nhập Thái Bạch?): Chủ phòng ngừa nhà có dị tượng, quái đản.
Bạch hổ nhập doanh (Thái Bạch nhập doanh): Chủ phòng ngừa hỏa hoạn.
Ngũ bất ngộ thời: Chủ người ở có tổn hại.
La võng tứ chương: Chủ sự việc trái ngang, bất trắc.
Lục nghi kích hình: Chủ hung tai, họa ngầm, tiềm ẩn.
Tam kỳ nhập mộ: Chủ nơi ở u tối, âm khí.
Thiên mã phùng không: Chủ không có lối thoát.
Phục ngâm, phản ngâm cùng bát môn phá chế: Đều chủ các điều bất cát.
Xem cát hung cách ở chỗ nào, là lục thân gì (phụ mẫu, huynh đệ, thê tử, tử nữ, v.v.) thì sẽ ứng nghiệm vào người đó.
Lại phụ thêm:
Bính, Đinh (hỏa) gặp Chu Tước: Nhà ở ồn ào, cãi cọ.
Canh, Tân (kim) gặp Bạch Hổ: Tai bay vạ gió bất thường.
Nhâm, Quý (thủy) gặp Huyền Vũ: Ắt xuất hiện trộm cắp.
Mậu, Kỷ (thổ) gặp Câu Trần: Lập tức thấy đổ nát, phá bại.
