HẬU THIÊN BÁT QUÁI ĐỒ ĐƯỢC SỬ DỤNG NHƯ THẾ NÀO TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP?
HẬU THIÊN BÁT QUÁI ĐỒ ĐƯỢC SỬ DỤNG NHƯ THẾ NÀO TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP?
Kỳ Môn Độn Giáp về sự phối hợp giữa Bát Quái với thời gian và phương vị, cơ bản bắt nguồn từ Hậu Thiên Bát Quái Đồ, nhưng cũng có một số điểm khác biệt:
Một
Các phương pháp bói toán cổ điển của Kinh Dịch, như Nạp Giáp pháp của Kinh Phòng, Mai Hoa Dịch Số của Thiệu Ung, đều sử dụng phương vị Hậu Thiên Bát Quái, cụ thể là: Bắc Khảm, Đông Bắc Cấn, Đông Chấn, Đông Nam Tốn, Nam Ly, Tây Nam Khôn, Tây Đoài, Tây Bắc Càn. Về điểm này, Kỳ Môn Độn Giáp giống với các phương pháp trên.
Tuy nhiên, về số, các phương pháp kia sử dụng Tiên Thiên số, tức là: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Còn Kỳ Môn Độn Giáp lại sử dụng số Hậu Thiên Bát Quái tương ứng với Lạc Thư Cửu Cung, đó là: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, Trung 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9.
Hai
Đối với các phương pháp bói toán kể trên, mối quan hệ giữa phương vị Hậu Thiên Bát Quái với thời gian được xác định như sau:
Phương Bắc – Khảm: Tháng 11 âm lịch, hai tiết khí Đại Tuyết, Đông Chí; trong ngày là giờ Tý.
Phương Đông Bắc – Cấn: Tháng 12 và tháng 1 âm lịch, bốn tiết khí Tiểu Hàn, Đại Hàn, Lập Xuân, Vũ Thủy; trong ngày là giờ Sửu, Dần.
Phương Đông – Chấn: Tháng 2 âm lịch, hai tiết khí Kinh Trập, Xuân Phân; trong ngày là giờ Mão.
Phương Đông Nam – Tốn: Tháng 3 và tháng 4 âm lịch, bốn tiết khí Thanh Minh, Cốc Vũ, Lập Hạ, Tiểu Mãn; trong ngày là giờ Thìn, Tỵ.
Phương Nam – Ly: Tháng 5 âm lịch, hai tiết khí Mang Chủng, Hạ Chí; trong ngày là giờ Ngọ.
Phương Tây Nam – Khôn: Tháng 6 và tháng 7 âm lịch, bốn tiết khí Tiểu Thử, Đại Thử, Lập Thu, Xử Thử; trong ngày là giờ Mùi, Thân.
Phương Tây – Đoài: Tháng 8 âm lịch, hai tiết khí Bạch Lộ, Thu Phân; trong ngày là giờ Dậu.
Phương Tây Bắc – Càn: Tháng 9 và tháng 10 âm lịch, bốn tiết khí Hàn Lộ, Sương Giáng, Lập Đông, Tiểu Tuyết; trong ngày là giờ Tuất, Hợi.
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, thời gian trong ngày tương ứng với Bát Quái cũng giống như các phương pháp trên. Tuy nhiên, đối với 24 tiết khí thì có hơi khác. Kỳ Môn dựa trên nguyên lý: Đông Chí nhất dương sinh, Hạ Chí nhất âm sinh, lấy hai tiết khí này làm ranh giới phân chia. Mỗi quẻ tương ứng với ba tiết khí. Vốn dĩ quẻ Khảm tương ứng với Đại Tuyết và Đông Chí, nhưng trong Kỳ Môn Độn Giáp, Khảm được đổi thành bắt đầu từ Đông Chí và ba tiết khí tiếp theo. Nhờ vậy, các tiết khí được phân bố đều đặn. Về thời gian, mỗi quẻ không còn tương ứng với một hoặc hai tháng nữa, mà một quẻ tương ứng với khoảng 45 ngày.
Ba
Do những lý do nêu trên, thuộc tính âm dương của Bát Quái và thuộc tính âm dương của Can Chi cũng được điều chỉnh, dẫn đến sự khác biệt với các phương pháp bói toán khác.
Trong Kinh Dịch, Càn, Khảm, Cấn, Chấn đại diện cho cha, con trai giữa, con trai út, con trai trưởng – bởi nam giới thuộc dương, nên gọi là Tứ Dương quái (bốn quẻ dương).
Tốn, Ly, Khôn, Đoài đại diện cho con gái trưởng, con gái giữa, mẹ, con gái út – nữ giới thuộc âm, nên gọi là Tứ Âm quái (bốn quẻ âm).
Trong Kỳ Môn Độn Giáp, lại có sự phân chia khác:
Tứ Dương quái (ứng với Dương Độn) là: Khảm, Cấn, Chấn, Tốn.
Tứ Âm quái (ứng với Âm Độn) là: Ly, Khôn, Đoài, Càn.
Đối với mười thiên can: năm can đầu (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu) là dương, năm can sau (Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) là âm.
