Học Kỳ Môn Độn: Các cách cục hung thường dùng trong Kỳ Môn Độn Giáp
Học Kỳ Môn Độn: Các cách cục hung thường dùng trong Kỳ Môn Độn Giáp
Các cách cục hung trong Kỳ Môn thường liên quan đến Canh, Tân, Nhâm, Quý, hoặc các quan hệ hình, xung, khắc, hại, nhập mộ giữa ngũ hành. Các cách cục hung chính bao gồm:
1. Thanh Long Đào Tẩu (青龍逃走) – Rồng xanh chạy trốn
Thiên bàn: Ất Kỳ + Địa bàn: Lục Tân (Ất + Tân)
Ất Mộc là Thanh Long, Tân Kim là Bạch Hổ. Tân Kim khắc sát Ất Mộc, hổ mạnh rồng yếu, vì thế dù là rồng cũng phải chạy trốn. Âm khắc Âm, chủ về hung.
Vào thời điểm này, nếu cất quân thì cả chủ lẫn khách đều bị tổn thương; làm ăn kinh doanh sẽ phá tài; trăm việc đều hung. Khi xem bói hôn nhân, thường chủ về người phụ nữ là người đưa ra đơn ly hôn trước.
2. Bạch Hổ Sướng Cuồng (白虎猖狂) – Hổ trắng ngang tàng
Thiên bàn: Lục Tân + Địa bàn: Ất Kỳ (Tân + Ất)
Ngược với "Thanh Long Đào Tẩu". Bạch Hổ tung hoành trên trời, còn Thanh Long thì phải lẩn xuống đất. Âm khắc Âm, chủ hung.
Vào thời điểm này, nếu khởi sự thì chủ và khách đều bị tổn hại; ra vào đều lo sợ; đi xa gặp nhiều tai họa; cưới hỏi, xây dựng đều đại hung. Khi xem bói hôn nhân, thường chủ về người đàn ông chủ động ly hôn.
3. Chu Tước Đầu Giang (朱雀投江) – Chim chu tước sa sông
Thiên bàn: Đinh Kỳ + Địa bàn: Lục Quý (Đinh + Quý)
Đinh thuộc Âm Hỏa, là Chu Tước phương Nam; Quý thuộc Âm Thủy, tựa như sông lớn. Chu Tước trên trời rơi xuống sông dưới đất, nên gọi là "Chu Tước đầu giang" (Chim chu tước sa sông). Âm Thủy khắc Âm Hỏa, chủ hung.
Vào lúc này, chủ về văn thư giấy tờ bị liên lụy, tin tức chìm nghỉm, kiện tụng tranh chấp, hoặc những việc kinh hãi quái dị, mưu mô gian trá, trăm việc đều hung.
4. Đằng Xà Yêu Kiểu (騰蛇夭矯) – Rắn bay uốn khúc
Thiên bàn: Lục Quý + Địa bàn: Đinh Kỳ (Quý + Đinh)
Ngược với "Chu Tước Đầu Giang". Quý thuộc Âm Thủy, là Huyền Vũ phương Bắc (rùa rắn); Đinh thuộc Âm Hỏa. Quý trên trời như con rắn bay rơi vào lửa dưới đất, bị lửa khắc đốt mà phải co quắp uốn éo, nên gọi là "Đằng Xà Yêu Kiểu" (Rắn bay uốn khúc). Âm Thủy khắc Âm Hỏa, chủ hung.
Vì vậy, trăm việc đều không lợi, hư kinh bất an, văn thư kiện cáo.
5. Huỳnh Nhập Bạch (熒入太白) – Sao Hỏa vào sao Kim (Hỏa nhập Kim hương)
Thiên bàn: Bính Kỳ + Địa bàn: Lục Canh (Bính + Canh)
Bính Hỏa là sao Huỳnh Hoặc (sao Hỏa), Canh Kim là sao Thái Bạch (sao Kim). Bính Hỏa gia lên trên Canh Kim, nên gọi là "Huỳnh nhập Bạch" (sao Hỏa vào sao Kim). Dương Hỏa khắc Dương Kim, Canh là kẻ trộm cướp, cho nên nói: "Hỏa nhập Kim hương tặc tức khứ" (Lửa vào xứ Kim thì giặc ra đi).
6. Thái Bạch Nhập Huỳnh (太白入熒) – Sao Kim vào sao Hỏa (Bạch nhập Huỳnh)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Bính Kỳ (Canh + Bính)
Ngược với "Huỳnh Nhập Bạch". Cách này còn hung hơn "Huỳnh Nhập Bạch". Gặp cách này mà xem về giặc thì giặc ắt sẽ đến; phải đề phòng giặc đến cướp trại. Cố thủ mới là cát.
Học Kỳ Môn Độn Giáp 28: Các cách cục hung thường dùng trong Kỳ Môn Độn Giáp (Phần 1)
7. Đại Cách (大格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Lục Quý (Canh + Quý) – gọi là Đại Cách.
Trăm việc đều hung; tìm người không thấy; kinh doanh phá tài; xuất hành xe vỡ ngựa chết; chỉ thích hợp để bắt tội phạm.
8. Thượng Cách (上格) – còn gọi là Tiểu Cách (小格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Lục Nhâm (Canh + Nhâm)
Đi xa thì lạc đường; mưu cầu thì phá tài, mắc bệnh. Canh + Nhâm còn gọi là cách Di Đãng (移蕩格 – lay động, dời đổi), xem về công việc thì thường có biến động.
9. Hình Cách (刑格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Lục Kỷ (Canh + Kỷ)
Bởi vì ở cung của Giáp Thân Canh có Mùi, cung của Giáp Tuất Kỷ có Tuất, Mùi hình Tuất, nên gọi là Hình Cách.
Chủ về bị kiện tụng hình phạt, kinh doanh phá tài, xuất hành mắc bệnh.
10. Kỳ Cách (奇格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Ất, Bính, Đinh (Tam Kỳ)
Canh + Ất: Ất và Canh hợp nhau, lại gọi là Hợp Cách.
Canh + Bính: là Bạch nhập Huỳnh, chủ về giặc đến, cho nên còn gọi là Tặc Cách (cách giặc).
Canh + Đinh: Đinh Hỏa khắc Canh Kim, lại gọi là Phá Cách (cách phá).
Tam Kỳ cách (Canh gặp Tam Kỳ) khi xuất hành hay dùng binh đều đại hung.
11. Phục Cung Cách (伏宮格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: cung của Lục Giáp Trực Phù (tức Canh + Mậu)
Ví dụ: Dương Độn cục 1, tuần Giáp Tý. Giáp Tý Mậu là đầu tuần, tọa tại địa bàn cung 1. Đến giờ Đinh Mão, thiên bàn Giáp Thân Canh di chuyển đến cung 1, tức là Canh gia lên địa bàn nơi Trực Phù Giáp Tý Mậu đang ngự. Hình thành thế cục sao giặc (Canh Kim) trên thiên bàn khắc sát Trực Phù (Giáp Mộc) đang ẩn phục dưới địa bàn. Đây chính là cách cục Canh khắc Giáp, nên gọi là Phục Cung Cách.
Cách này đại hung, cả chủ lẫn khách đều bất lợi. Tìm người chẳng thấy, đợi người chẳng đến. Xuất hành trên đường dễ gặp trộm cướp, hoặc xe hỏng ngựa chết, trăm việc không thuận.
12. Phi Cung Cách (飛宮格)
Thiên bàn: Lục Giáp Trực Phù + Địa bàn: Lục Canh (tức Mậu + Canh)
Tức là cách cục Giáp + Canh, ngược với Phục Cung Cách. Bởi vì Trực Phù trên thiên bàn đang bay động thì gặp Canh Kim dưới địa bàn, nên gọi là Phi Cung Cách.
Cũng đại hung, đặc biệt bất lợi cho khách (vì thường lấy thiên bàn là khách, địa bàn là chủ). Thiên bàn là Trực Phù Giáp, gặp địa bàn Canh Kim khắc sát, tự nhiên càng bất lợi. Chiến đấu thì chủ thua trận, đại tướng bị bắt; làm ăn thì phá sản; phải đổi nơi.
13. Tuế Cách (歲格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Niên Can (tức địa bàn có tam kỳ lục nghi trùng với thiên can của năm hiện tại)
Dùng việc thì đại hung.
14. Nguyệt Cách (月格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Nguyệt Can
Dùng việc thì đại hung.
15. Nhật Cách (日格) – còn gọi là Phục Can Cách (伏幹格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Nhật Can
Bởi vì nhật can nằm dưới Canh Kim, nên còn gọi là Phục Can Cách. Cả chủ và khách đều bị tổn hại, đặc biệt bất lợi cho chủ. Trong dự đoán Kỳ Môn, thường lấy nhật can làm người cầu đoán, cũng giống như trong Tứ Trụ lấy can ngày làm mệnh chủ. Vì vậy, khi nó gặp hung tinh Canh Kim thì tự nhiên đại hung bất lợi.
16. Phi Can Cách (飛幹格)
Thiên bàn: Nhật Can + Địa bàn: Lục Canh
Ngược với Phục Can Cách. Bởi vì nhật can ở thiên bàn xoay động, gặp hung tinh Canh Kim dưới địa bàn, nên gọi là Phi Can Cách. Cũng đại hung, cả chủ lẫn khách đều bị tổn hại.
Các cách cục hung thường dùng trong Kỳ Môn Độn Giáp (Phần 2)
17. Thời Cách (時格)
Thiên bàn: Lục Canh + Địa bàn: Thời Can (tức địa bàn có tam kỳ lục nghi trùng với thiên can của thời gian đang dùng)
Cũng chủ hung.
Tổng kết: Niên, nguyệt, nhật, thời can khi gặp Canh Kim đều là cách cục hung. Vào những lúc này, xuất quân, đi xa, mưu cầu việc gì đều bất lợi. Chỉ thích hợp để bắt trộm cướp hoặc tìm người đi lạc.
Các cách cục hung thường dùng trong Kỳ Môn Độn Giáp (Phần 2)
18. Lục Nghi Kích Hình (六儀擊刑)
Thiên bàn Trực Phù + Địa bàn cung tương hình với Trực Phù, cụ thể:
Thiên bàn Giáp Tý Mậu + Địa bàn cung Chấn 3 (Tý hình Mão)
Thiên bàn Giáp Tuất Kỷ + Địa bàn cung Khôn 2 (Tuất hình Mùi)
Thiên bàn Giáp Thân Canh + Địa bàn cung Cấn 8 (Thân hình Dần)
Thiên bàn Giáp Ngọ Tân + Địa bàn cung Ly 9 (Ngọ tự hình)
Thiên bàn Giáp Thìn Nhâm + Địa bàn cung Tốn 4 (Thìn tự hình)
Thiên bàn Giáp Dần Quý + Địa bàn cung Tốn 4 (Dần hình Tỵ)
Lục Nghi Kích Hình cực kỳ hung, dù Lục Nghi là Trực Phù cũng không thể dùng. Một khi động ắt có tai họa tổn thương. Nếu lại gặp cách Thiên Võng Tứ Trương (bốn góc trời giăng lưới) thì chắc chắn bị bắt, có tù ngục.
19. Tam Kỳ Nhập Mộ (三奇入墓)
Thiên bàn Ất Kỳ + Địa bàn cung Càn 6 (Ất Mộc là âm mộc, trường sinh tại Ngọ, đế vượng tại Dần, mộ tại Tuất) hoặc cung Khôn 2 (nói chung Mộc mộ tại Mùi)
Thiên bàn Bính Kỳ + Địa bàn cung Càn 6 (Tuất là mộ của Bính Hỏa)
Thiên bàn Đinh Kỳ + Địa bàn cung Cấn 8 (Đinh Âm Hỏa, trường sinh tại Dậu, đế vượng tại Tỵ, mộ tại Sửu)
Tam Kỳ nhập mộ, trăm việc chẳng nên, mưu cầu gì cũng nên bỏ. Việc lành chẳng lành, việc dữ chẳng dữ, là tượng vô lực.
20. Tam Kỳ Thụ Hình (三奇受刑) – còn gọi là Tam Kỳ Thụ Chế (三奇受制)
Bính Kỳ, Đinh Kỳ lâm địa bàn cung Khảm 1, hoặc gặp địa bàn Lục Nghi Nhâm, Quý (thủy): đó là Hỏa nhập Thủy hương (lửa vào chốn nước).
Ất Kỳ lâm địa bàn cung Càn 6, Đoài 7, hoặc gặp địa bàn Lục Nghi Canh, Tân (kim): đó là Mộc nhập Kim hương (gỗ vào chốn kim).
Đều bị khắc chế, nên gọi là Tam Kỳ thụ hình hoặc Tam Kỳ thụ chế. Lúc này không thể hành động
21. Thời Can Nhập Mộ (時幹入墓)
Tức là khi thiên can của giờ đang dùng ở trên thiên bàn, gia lâm cung địa bàn đúng là mộ địa của nó. Ví dụ:
Giờ Bính Tuất: Bính thuộc Dương Hỏa, mộ của Hỏa là Tuất, do đó thiên bàn Bính gia địa bàn cung Càn 6 (cung Tuất) là Thời Can Bính nhập mộ.
Giờ Nhâm Thìn: Nhâm thuộc Dương Thủy, mộ của Thủy là Thìn, thiên bàn Nhâm gia địa bàn cung Tốn 4 (cung Thìn) là Thời Can Nhâm nhập mộ.
Giờ Quý Mùi: Quý thuộc Âm Thủy, mộ là Mùi, thiên bàn Quý gia địa bàn cung Khôn 2 (cung Mùi) là Thời Can Quý nhập mộ.
Giờ Mậu Tuất: Mậu thuộc Dương Thổ, mộ là Tuất, thiên bàn Mậu gia địa bàn cung Càn 6 là Thời Can Mậu nhập mộ.
Giờ Kỷ Sửu: Kỷ thuộc Âm Thổ, mộ là Sửu, thiên bàn Kỷ gia địa bàn cung Cấn 8 (cung Sửu) là Thời Can Kỷ nhập mộ.
Giờ Đinh Sửu: Đinh thuộc Âm Hỏa, mộ là Sửu, thiên bàn Đinh gia địa bàn cung Cấn 8 là Thời Can Đinh nhập mộ.
22. Môn Bách (門迫) – Môn khắc cung
Môn bách nói về mối quan hệ giữa Bát Môn (tám cửa) trên nhân bàn và Cửu Cung (chín cung) dưới địa bàn. Trong đó:
Môn khắc cung gọi là Bách (迫)
Cung khắc môn gọi là Chế (制)
Môn sinh cung gọi là Hòa (和)
Cung sinh môn gọi là Nghĩa (義)
Ca quyết cổ nhân:
Kinh, Khai tam tứ lâm Hưu cửu,
Thương, Đỗ hoàn quy nhị bát cung,
Sinh, Tử bài lai cư đệ nhất,
Cảnh môn lục thất tổng tương đồng.
Cát môn bị bách cát bất tựu,
Hung môn bị bách họa trùng trùng.
Nghĩa là:
Kinh Môn, Khai Môn thuộc Kim, lâm cung Chấn 3, Tốn 4 (Kim khắc Mộc)
Hưu Môn thuộc Thủy, lâm cung Ly 9 (Thủy khắc Hỏa)
Thương Môn, Đỗ Môn thuộc Mộc, lâm cung Khôn 2, Cấn 8 (Mộc khắc Thổ)
Sinh Môn, Tử Môn thuộc Thổ, lâm cung Khảm 1 (Thổ khắc Thủy)
Cảnh Môn thuộc Hỏa, lâm cung Càn 6, Đoài 7 (Hỏa khắc Kim)
Các trường hợp trên đều là môn khắc cung, cổ nhân gọi là Môn bách hay Môn bị bách.
Cát môn bị bách thì việc cát chẳng thành (việc tốt cũng mất, nhưng không gây hậu quả xấu). Hung môn bị bách thì họa chồng họa (không những việc chẳng xong, mà gắng làm còn mang tai họa).
23. Phục Ngâm (伏吟)
Phục Ngâm có ba loại: Tinh phục ngâm, Môn phục ngâm, Trực Phù phục ngâm.
Phàm Cửu Tinh ở bản cung không động: gọi là Tinh phục ngâm.
Bát Môn ở bản cung không động: gọi là Môn phục ngâm.
Lục Giáp Trực Phù ở bản cung không động: gọi là Trực Phù phục ngâm.
Phàm vào các giờ thuộc Lục Giáp (Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần) thì môn, tinh, phù đều là phục ngâm. Phục ngâm có lợi cho chủ, không lợi cho khách. Khi gặp phục ngâm, nói chung không nên hành động. Phục ngâm chủ về chậm, lâu.
Trong phục ngâm, không thích hợp dùng binh, chỉ thích hợp thu vén tài sản, như đi đòi nợ. Trong đó, Thiên Bồng + Thiên Bồng, Tử Môn + Tử Môn, Giáp Ngọ Tân + Giáp Ngọ Tân là hung nhất, thường chủ về mất mát phá tài hoặc chết chóc. Tai họa dồn dập. Nếu không gặp cát môn cát cách thì càng hung; nếu gặp cát môn cát cách thì có thể cứu.
Riêng Thiên Hiển thời (giờ Thiên Hiển – Lục Giáp gặp Nhật Can) thì phục ngâm thường không hung mà ngược lại là cát.
24. Phản Ngâm (反吟)
Phản ngâm chỉ việc Cửu Tinh, Bát Môn, Trực Phù rơi vào cung địa bàn xung với nó (đối xung). Gồm Tinh phản ngâm, Môn phản ngâm, Trực Phù phản ngâm.
Ví dụ: sao Thiên Bồng vốn ở cung Khảm 1, rơi vào cung Ly 9: đó là Tinh phản ngâm.
Hưu Môn vốn ở cung Khảm 1, rơi vào cung Ly 9: đó là Môn phản ngâm.
Thiên bàn Giáp Tý Mậu gia lâm địa bàn Giáp Ngọ Tân (Tý Ngọ xung): đó là Trực Phù phản ngâm.
Phản ngâm không cát, đặc biệt môn phản ngâm càng bất lợi. Nếu gặp Tam Kỳ hoặc cát môn thì còn có thể cứu, không thì tai họa ập đến. Phản ngâm có lợi cho khách, không lợi cho chủ. Phản ngâm chủ về nhanh, việc có phản phúc (lặp lại, đảo điên).
Phản ngâm chủ việc làm nhanh, thành bại dễ thấy. Đi xa có thể đi giữa đường quay về. Làm việc lớn lâu dài dễ có đầu không có cuối. Cũng như trong lục hào dự đoán: "bệnh mới gặp xung thì khỏi, bệnh lâu gặp xung thì chết". Bệnh gần đây gặp phản ngâm dễ khỏi, bệnh mãn tính gặp phản ngâm khó lành. Xem hôn nhân gặp phản ngâm thì không thành; xem cầu tài gặp phản ngâm thường ra về tay trắng, lỗ vốn.
25. Bội Cách (悖格)
Thiên bàn Bính Kỳ + Địa bàn Trực Phù
Hoặc Thiên bàn Trực Phù + Địa bàn Bính Kỳ
Hoặc Bính gia lên Niên Can, Nguyệt Can, Nhật Can, Thời Can
Tất cả các trường hợp trên đều gọi là Bội Cách.
Bính là thiên uy, tính cách uy mãnh, quá bạo táo, dễ gây rối loạn, làm hỏng việc. Vào lúc Bội Cách, khởi sự thường làm điều ngang ngược, cương kỷ hỗn loạn, khó đạt mục đích, dễ xuất hiện kẻ phản thần, loạn tặc. Tuy nhiên, Bính là một trong Tam Kỳ, nếu được Tam Cát Môn hội hợp thì vẫn có thể dùng, không nhất thiết cứ coi là hung.
26. Thiên Võng Tứ Trương (天網四張) – Bốn góc trời giăng lưới
Cổ nhân và người nay bàn về Thiên Võng Tứ Trương rất lộn xộn. Có người cho rằng thiên bàn Lục Quý gia lâm địa bàn Thời Can là Thiên Võng Tứ Trương, có người lại cho là thiên bàn Thời Can gia lâm địa bàn Lục Quý.
Những điều này đều không đúng, vì sẽ mâu thuẫn với phép thập can khắc ứng. Ví dụ: Quý gia các can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) đã có tên riêng: Quý + Mậu là "Thiên Ất hội hợp", Quý + Ất là "Hoa Cái phùng tinh", Quý + Bính là "Hoa Cái bội sư", Quý + Đinh là "Đằng Xà yêu kiểu", Quý + Kỷ là "Hoa Cái địa hộ", Quý + Canh là "Thái Bạch nhập cương", Quý + Tân là "Võng cái thiên lao", Quý + Nhâm là "Thiên Võng Tứ Trương". Tương tự, các can gia Quý cũng có tên riêng. Nếu tất cả đều gọi là "Thiên Võng Tứ Trương" thì rối loạn hết.
Vì vậy, theo Soái Mã Kỳ Môn, chỉ có Quý + Quý mới được gọi là "Thiên Võng Tứ Trương". Bởi vì chỉ trong tuần Giáp Dần Quý, giờ Quý Hợi mới xuất hiện cục Quý + Quý.
Ca quyết cổ nhân:
Thiên Võng Tứ Trương bất khả đương,
Thử thời dụng sự hữu tai ương.
Nhược hữu cường nhân xuất giả hủ,
Lập tiện thân khu huyết quang.
Trùng cầm thượng thả tị ư võng,
Sự mãnh bặc phục xuất môn tường.
Nghĩa là: Gặp cách "Thiên Võng Tứ Trương", không thể khởi sự, khởi sự không thành, trái lại có tai họa. Ngay côn trùng chim muông còn phải tránh lưới, huống chi người.
Về cao thấp của lưới, có hai ý kiến trái chiều:
Một cho rằng: Thiên Võng rơi cung 1,2,3,4 là lưới thấp, có thể bò tránh ra; rơi cung 6,7,8,9 là lưới cao, không thể dùng.
Ý kiến khác: Rơi cung 1,2,3,4 lưới thấp khó thoát; cung 6,7,8,9 lưới cao thì có thể đi lại tự do.
Vấn đề này cần phải thực hành kiểm nghiệm.
27. Ngũ Bất Ngộ Thời (五不遇時) – Năm can không gặp thời
Ngũ Bất Ngộ Thời là khi thiên can của giờ đang dùng khắc nhật can của ngày, và phải là dương khắc dương, âm khắc âm. Từ nhật can đếm đến can giờ bị khắc, đúng bảy bậc, nên trong tứ trụ gọi là "Thất Sát". Hai can cách nhau năm bậc, vì thế trong Kỳ Môn gọi là "Ngũ Bất Ngộ Thời".
Cụ thể:
Ngày Giáp: giờ Canh Ngọ (Canh Kim khắc Giáp Mộc)
Ngày Ất: giờ Tân Tỵ (Tân Kim khắc Ất Mộc)
Ngày Bính: giờ Nhâm Thân (Nhâm Thủy khắc Bính Hỏa)
Ngày Đinh: giờ Quý Mão (Quý Thủy khắc Đinh Hỏa)
Ngày Mậu: giờ Giáp Dần (Giáp Mộc khắc Mậu Thổ)
Ngày Kỷ: giờ Ất Sửu (Ất Mộc khắc Kỷ Thổ)
Ngày Canh: giờ Bính Tý (Bính Hỏa khắc Canh Kim)
Ngày Tân: giờ Đinh Dậu (Đinh Hỏa khắc Tân Kim)
Ngày Nhâm: giờ Mậu Thân (Mậu Thổ khắc Nhâm Thủy)
Ngày Quý: giờ Kỷ Mùi (Kỷ Thổ khắc Quý Thủy)
Phàm gặp Ngũ Bất Ngộ Thời, đại hung, dù được Tam Kỳ hay Cát Môn cũng không thể dùng. Việc thường không thuận, nhưng chưa hẳn đều hung, còn tùy vào tổng thể cục diện tốt xấu, cát hung của tinh, môn. Tốt nhất nên tránh giờ Ngũ Bất Ngộ Thời khi chọn giờ làm việc.
