HỎI ĐÁP HỌC TẬP KỲ MÔN ĐỘN GIÁP - TƯ DUY PHÁN ĐOÁN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

HỎI ĐÁP HỌC TẬP KỲ MÔN ĐỘN GIÁP - TƯ DUY PHÁN ĐOÁN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

I. Hỏi: Trong các sách Kỳ Môn xuất bản hiện nay, phương pháp lập bàn Kỳ Môn mỗi nơi mỗi khác. Có chủ trương dùng Phi Tinh, có chủ trương dùng Chuyển Bàn. Trong Chuyển Bàn lại có trường phái Tiểu Trực Phù đi theo Đại Trực Phù và không đi theo Đại Trực Phù. Cách dùng Bát Thần cũng khác nhau. Vậy cuối cùng nên lấy chuẩn nào?

Đáp: Phương pháp lập bàn Kỳ Môn vốn đã không thống nhất từ xưa. Thực chất, đây là cách những người khác nhau, từ những góc nhìn khác nhau, mô tả quy luật vận động bản chất của thời không. Bởi vì góc nhìn khác nhau, tư duy khác nhau, nên kết luận đưa ra khác nhau, và công cụ áp dụng dĩ nhiên sẽ có sự khác biệt. Vì vậy, không thể nói ai đúng ai sai, chỉ cần xem phương pháp nào phù hợp nhất với bạn. Cũng như thầy thuốc Đông y chữa bệnh, cùng một chứng bệnh, các thầy thuốc khác nhau sẽ kê ra những đơn thuốc hoàn toàn không giống nhau, nhưng bậc thầy y thuật cao đều có thể chữa khỏi. Riêng bản thân tôi, thường dùng Chuyển Bàn, và Tiểu Trực Phù đi theo Đại Trực Phù.

Tiếp theo, xin bàn sơ lược về sự khác biệt giữa Chuyển Bàn và Phi Tinh trong Kỳ Môn. Chuyển Bàn trong Kỳ Môn Độn Giáp thực chất là mô phỏng sự vận chuyển của hình thể trời đất. Còn Phi Tinh trong Kỳ Môn là sự lưu chuyển của khí cảm ứng giữa trời và đất. Phái Chuyển Bàn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống Kỳ Môn Thời Gia. Trong khi đó, phái Phi Tinh về cơ bản cùng nguồn cội với phái Huyền Không trong Phong Thủy. Một bên là hình, một bên là khí; một bên là Tiên Thiên, một bên là Hậu Thiên. Trong thực tế ứng dụng, Chuyển Bàn và Phi Tinh có thể tham khảo lẫn nhau, bởi vì bản thân chúng đều là sự mô tả quy luật tự nhiên. Cũng như hai bàn tay của con người, đều có thể phản ánh thể chất của cơ thể, chỉ có điều mỗi bên có sự thiên lệch khác nhau mà thôi.

II. Hỏi: Trong dự đoán Kỳ Môn, "Thời Can" (Thiên Can của giờ) là chỉ Thiên Bàn Thời Can hay Địa Bàn Thời Can?

Đáp: Trong dự đoán Kỳ Môn loại "động chiếm" (chiếm đoán khi có sự động), thông thường mà nói, Thời Can trước hết là chỉ Thiên Bàn Thời Can. Bởi vì trời động đất tĩnh. Kỳ Môn dự đoán thuộc hệ thống động chiếm, không động thì không chiếm. Lấy sự động ứng với bàn, rồi dùng cục bàn để ứng với sự động tĩnh của việc, thì cần tìm trạng thái động một cách rõ ràng, cho nên thông thường lấy Thiên Bàn. Nhưng Kỳ Môn dự đoán lại phải luôn chú ý phân biệt Chủ - Khách. Người động trước là Chủ, người động sau là Khách. Vì vậy, trong cùng một giờ, người thứ nhất đến cầu chiếm thì lấy Thiên Bàn làm Chủ; người thứ hai thì có thể xem Địa Bàn Thời Can. Hoặc có thể xem ai có hành động lớn hơn thì lấy Thiên Bàn Thời Can ứng với họ; ai hành động sau hoặc không động thì lấy Địa Bàn ứng với họ. Thực ra, trong hệ thống dự đoán Kỳ Môn Độn Giáp, bốn Can Năm, Tháng, Ngày, Giờ và các Kỳ Nghi khác cũng đều có thể phân biệt và ứng dụng như vậy.

Dự đoán Kỳ Môn, linh hoạt biến hóa, khiến người hoa mắt, nhưng mấu chốt là vấn đề tư duy. Lý thông thì pháp tự nhiên sáng tỏ.

III. Hỏi: Trong ứng dụng Kỳ Môn, có khi dùng phương vị để đoán, có khi lại dùng thời gian để đoán, rốt cuộc có quy định nào ở đây?

Đáp: Dự đoán Kỳ Môn, mấu chốt là phải nắm bắt được mâu thuẫn chính, tìm ra điểm độc đáo của một sự việc để phân biệt với những sự việc khác. Vì vậy, nếu có thể phân biệt rõ ràng bằng thời gian thì dùng thời gian để đoán; nếu không thể phân biệt bằng thời gian thì dùng không gian để phân biệt, thậm chí có thể dùng các trạng thái như hành động, âm thanh, màu sắc và các mối quan hệ nhân sự để phân biệt. Ví dụ, trong một giờ chỉ có một người đến xem, thì toàn bộ bàn cục có thể ứng với việc người đó hỏi. Nếu trong một giờ có nhiều người đến xem, thì có thể dùng các thông tin như phương vị họ ngồi, năm sinh, hoặc hành động để phân biệt từng người một.


HỎI ĐÁP HỌC TẬP KỲ MÔN ĐỘN GIÁP - TƯ DUY PHÁN ĐOÁN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

::KHÁI LUẬN VỀ TAM TÀI TRONG KỲ MÔN::

Tam Tài là Trời, Đất, Người. Trời động Đất tĩnh, người hấp thụ khí của Trời Đất mà sinh ra. Tam Tài đầy đủ thì vạn vật hưng thịnh, Trời Đất mới bắt đầu hiện ra sức sống. Hệ thống dự đoán Kỳ Môn, bắt nguồn từ lý luận về sự vận hóa của Trời Đất, được đặt ra dựa trên cơ sở của Tam Tài chi đạo, vì vậy thời thời xứ xứ đều thể hiện mối quan hệ biện chứng của Tam Tài. Muốn tinh thông cái đạo của Kỳ Môn, cần phải nhận biết được lý lẽ của Kỳ Môn Tam Tài.

Tam Tài chi đạo là linh hồn của hệ thống dự đoán Kỳ Môn Độn Giáp. Kỳ Môn là một trong ba môn "Tam Thức" cổ đại. Tại sao gọi là "Tam"? Chính là Tam Tài. Kỳ Môn lập cục, lấy một khí thống tam nguyên, đó là khởi đầu của Kỳ Môn Tam Tài. Lập bàn Trời, Đất, Người để ứng với vạn vật trong trời đất, đó là nền tảng của Kỳ Môn Tam Tài. Tam Kỳ là Nhật, Nguyệt, Tinh, xuất quỷ nhập thần, đó là cách dùng của Tam Tài. Lục Nhâm lại có cách nói về Thiên Tam Kỳ, Địa Tam Kỳ và Nhân Tam Kỳ, có thể thấy trong Tam Tài lại có thể phân chia thành Tam Tài nữa, đó là sự phân hóa của Kỳ Môn Tam Tài. Vì vậy, Tam Tài chi đạo, biến hóa vô cùng, dùng để xác định trạng thái của Trời Đất và sự việc con người, để ứng với sự cao thấp của đúng sai thiện ác. Hiểu rõ Tam Tài chi đạo mới có thể phân biệt rõ cơ huyền diệu trong cục bàn. Lão Tử nói: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật". Đại đạo tích tụ đến ba thì chuyển hóa, do đó mới tạo nên cái diệu của Cửu Cung, mới biểu lộ được cái vi diệu của sự sáng tạo. Đó là bản thể của Kỳ Môn Tam Tài.

Dự đoán Kỳ Môn, cần luôn chú ý nắm bắt Tam Tài chi đạo. Khi bắt đầu cần phải trước hết hiểu rõ lý lẽ Kỳ Môn của Trời và Đất. Khái quát mà nói, mỗi một thời gian, trái đất có khoảng 1/12 khu vực ứng với bàn. Nếu đều dùng một cục để luận thì ắt sẽ dẫn đến sai lầm. Vì vậy, hệ thống Kỳ Môn cần phải trước hết phân biệt ba tầng Tam Tài lớn:

  • Thiên Bàn: là bàn cục của chính giờ, là bí bản của các bậc hiền tài xưa dùng để trị quốc và dụng binh. Vì quá khái quát và trừu tượng, nên khi dùng để dự đoán nhân sự đôi khi có chỗ khó hiểu, không rõ ràng.

  • Địa Bàn: là sự ứng tĩnh, là môi trường cụ thể xung quanh, là trạng thái lớn, là sự ứng không di động.

  • Nhân Bàn: là sự phóng đại và chi tiết hóa thông tin của Thiên Bàn và Địa Bàn, là sự ứng động (hoặc có thể y theo phép mà biến thông bàn của chính giờ, phỏng theo Lục Nhâm là di thần hoán tướng).

Vì vậy, Kỳ Môn dự đoán nhân sự, đi từ Trời đến Đất, từ Đất đến Người. Lấy môi trường lớn của Địa bàn, ngoại ứng làm chủ, lấy Đất làm gốc rễ, chủ về mối quan hệ lục thân, hỏi đến đâu đáp đến đó. Là một hệ thống dự đoán mở, trong Kỳ Môn dự đoán, phàm những người, vật xuất hiện đều có thể là ứng nghiệm, xa thì ứng xa, gần thì ứng gần. Đây là cái đạo Tam Tài lớn trong hệ thống dự đoán Kỳ Môn.

Dùng chính thời bàn thức (bàn giờ) để dự đoán, từ xưa đã tôn trọng Tam Tài chi đạo. Sách "Kỳ Môn Độn Giáp Bí Tập Đại Toàn - Kỳ Môn Chiếm Sự" viết: "Phàm chiếm cát hung, trước hết coi trọng Cửu Tinh, lấy Cửu Tinh làm Thiên Bàn, bởi cát hung do Trời định vậy." "Phàm xuất hành tránh nạn, trước hết coi trọng Bát Môn, lấy Bát Môn làm Nhân Bàn, bởi cát hung do mình tự tạo vậy." "Phàm táng táng, di dời, xây cất, trước hết coi trọng Cửu Cung, lấy Cửu Cung làm Địa Bàn, bởi việc di dời... đều từ Đất mà khởi." Từ đó biết rằng phán đoán Kỳ Môn, là dựa vào Tam Tài của Trời, Đất, Người. Trong Kỳ Môn, Tinh ở cao, Môn ở giữa, Cung ở thấp, ứng với Trời, Người, Đất; còn Thần thì du ngoạn giữa ranh giới Tam Tài. Phàm đoán việc Trời Đất, xem bàn Trời Đất là được. Còn nhân sự là phần cuối của Trời Đất, mỗi cái là một tiểu thiên địa, nên phức tạp muôn vẻ. Cùng một giờ, trăm người trăm việc, nghìn người nghìn trạng thái, hiếm có ai giống ai hoàn toàn. Vì vậy, khi dự đoán nhân sự, cần phân biệt được sự vi tế của nhân sự thì mới không mắc sai lầm. Kỳ Môn khi dự đoán nhân sự, Môn theo người mà động. Một Môn động thì tám Môn đều động. Đó là cái vi diệu của Hậu Thiên Nhân Bàn. Muốn chỉ điểm mê lộ cho người, không thể không biết Tam Tài chi đạo. Bát Thần trong Kỳ Môn chính là điểm cơ huyền để điều phối Tam Tài.

Trong toán học, ba điểm xác định một mặt phẳng. Trong dự đoán Kỳ Môn, cũng có điều tương tự. Phàm một sự vật, cần phải từ ba góc độ khác nhau để phân tích, nắm bắt thì mới có thể nhận thức một cách khách quan và toàn diện về nó. Vì vậy, phán đoán Kỳ Môn, nên trước hết xem xét sự tốt xấu của ba cung: Giá Trù (Trực Phù) tượng cho Trời, chủ động, dời đi; Giá Sứ (Trực Sứ) tượng cho Đất, bị động, di chuyển; Thời Can tượng cho Người, theo Trời Đất mà di chuyển. Ba cung này cũng như ba Đan Điền của con người, phân chủ tính chất Trời, Đất, Người, tạo thành trạng thái ban đầu, giữa và cuối của nhân sự. Sách Kỳ Môn cổ, phần nhiều dùng Trực Phù, Trực Sứ và Thiên Ất để phán đoán, đạo lý là ở chỗ này. Trong dự đoán Kỳ Môn ngẫu hứng, một xem trạng thái của người kia, người kia động nên là Trời; hai xem trạng thái của ta, ta bị động nên là Đất; ba xem trạng thái của môi trường xung quanh (ngoại ứng), bởi nhân sự phức tạp vậy. Lấy ngoại ứng suy nội, thì Kỳ Môn "cực đại vô ngoại, cực tiểu vô nội", phàm những vật có hình tượng, có khí chất, đều có thể xem xét tỉ mỉ nguồn cơn của chúng trong cục bàn.

Trong Kỳ Môn, phàm thuộc về Trời thì phần nhiều là hư, là động, là trạng thái ban đầu của nhân sự, là Mạnh (đầu), là bên trên, là bên trái, là phía trước, là xa, là quý, là cương dương, là cha mẹ, là lãnh đạo, là con đường quan lộ, là danh tiếng, là công việc, là công, là tích cực, là rộng, là Tinh, là Trực Phù.
Thuộc về Đất thì phần nhiều là thực, là tĩnh, là trạng thái cuối của nhân sự, là Quý (cuối), là bên dưới, là bên phải, là phía sau, là gần, là tiện, là âm nhu, là con cái, là thuộc hạ, là của cải, là bất động sản, là phong thủy, là âm tư, là tiêu cực, là nhỏ, là Cung, là Trực Sứ.
Phàm thuộc về Người thì nhiều linh hoạt, nhiều dời đổi, là trạng thái giữa của nhân sự, là Trọng (giữa), là trung tâm, là đồng loại, là trung tính, là anh em, là đồng nghiệp, là hôn nhân, là gia đình, là mối quan hệ nhân sự, là công cộng, là bình đẳng, là mức độ phù hợp, là Môn, là Thiên Ất... Từ đây có thể suy loại ra vạn sự vạn vật. Ví dụ trong các cách cục Kỳ Môn, Cửu Tinh Phản Ngâm thì nhiều hư, Bát Môn Phản Ngâm thì nhiều thực; Sự nghiệp xem tình trạng của Tinh, nhân sự xem Bát Môn; việc lớn xem Tinh, việc nhỏ thì xem Cung là được. Tục ngữ có câu: "Thời gian không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa". Khi dự đoán và lựa chọn trong Kỳ Môn cũng phải rõ nguyên tắc này. Sách Kỳ Môn cổ khi dự đoán nhân sự, phần lớn coi trọng Bát Môn trước hết, chính là vì lẽ đó.

Trong dự đoán Kỳ Môn, còn có nguyên tắc "sự bất quá tam" (việc không quá ba). Tức là cùng một cục tượng, những người khác nhau xem cùng loại việc, hoặc cùng một người xem các việc khác loại, thì phàm dùng không được quá ba. Tại sao? Bởi vì Trời Đất bắt đầu sinh ra, vạn vật do ba mà định, lượng biến quá ba thì sẽ dẫn đến chất biến, thông tin nhân sự cũng vì lặp lại nhiều lần mà mở rộng ra rồi trở nên mơ hồ, cho nên sai sót ắt sẽ nhiều. Lại nữa, phàm xem việc tốt, lần đầu xem là tốt nhất, lần sau thì giảm bớt cát, lần nữa thì không còn cát nữa; phàm xem việc xấu, lần đầu xem là xấu nhất, lần sau thì giảm bớt hung, lần nữa thì không còn hung. Điều này đều từ lý lẽ Tam Tài mà ra. Học giả nếu có thể thấu tỏ được cơ chân thật bên trong thì sẽ rất có ích cho tư duy vậy.

Tam Tài chi đạo trong dự đoán Kỳ Môn, tinh tế và rộng lớn vô cùng. Do giới hạn về khuôn khổ, xin trình bày sơ lược những điều thấy được. Sai sót kính mong các bậc cao nhân trong và ngoài nước bỏ qua và chỉ bảo thêm.

BÀN VỀ TIÊU CHUẨN SỬ DỤNG TRONG DỰ ĐOÁN KỲ MÔN

Chủ và Khách là một cặp phạm trù độc đáo trong khoa dự đoán Kỳ Môn, phân âm dương, ứng động tĩnh.

Bởi vì Kỳ Môn bắt nguồn từ quân sự cổ đại, là bí kíp cướp đoạt tạo hóa, hành quân đánh giặc. Chiến tranh vốn có thắng bại, vạn vật tự có động tĩnh, nhân sự tổng có nhân quả. Từ đó mà diễn hóa ra cặp phạm trù triết học đầy tư duy biện chứng này là Chủ - Khách. Đạo dụng binh, phải biết mình biết ta, mới có thể trăm trận trăm thắng; mà phân biệt rõ Chủ - Khách càng có thể giúp ích cho việc biết mình biết ta. Vì vậy, Kỳ Môn bắt tay vào làm trước hết là phân biệt Chủ - Khách, để ứng với động tĩnh cường nhược, điểm thạch thành kim, hóa thối nát thành thần kỳ. Sự hình thành và ứng dụng của tư duy Chủ - Khách có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hệ thống dự đoán Kỳ Môn.

Chủ - Khách là sự miêu tả chính xác về hai mặt đối lập nhưng thống nhất của một sự vật. Chủ - Khách là cơ của động tĩnh, là gốc của tiến thoái. Kỳ Môn trạch cát (chọn ngày lành, hướng tốt) chính là thao tác dựa trên lý lẽ này. Trong hệ thống động chiếm của Kỳ Môn, cũng cần lúc nào cũng nắm bắt chính xác các yếu tố Chủ - Khách thì mới ứng nghiệm như thần. Bởi vì cục tượng Kỳ Môn là bức họa chân thực của thời không, mà Chủ và Khách lại thông qua bàn cục kết hợp chặt chẽ với nhau. Phân biệt rõ động tĩnh Chủ Khách, tinh tường cái yếu chỉ của Kỳ Môn, thì mới có thể "bàn giấy binh" mà không mắc sai lầm.

Ngày xưa, Gia Cát Lượng vận trù quỹ toán, khéo xoay chuyển càn khôn, chính là nhờ ông nắm bắt chính xác Chủ - Khách trong Kỳ Môn. Các bậc tiên hiền Kỳ Môn qua các đời đều có những luận thuật quan trọng về vấn đề này, đặc biệt trong hành quân đánh giặc. Kinh điển Kỳ Môn "Yên Ba Điếu Tẩu Ca" viết: "Trời tự làm Khách, Đất làm Chủ, Lục Giáp suy ra không sai lý nào", một câu đã chỉ đúng thực chất của Chủ - Khách. "Kỳ Môn Bí Tập Đại Toàn" bàn về Chủ - Khách: "Sự ứng của Kỳ Môn, thời điểm có trước sau, sự ứng có Chủ - Khách, dùng bên kia - bên này, người - ta mà suy ra." Lại nêu ví dụ về các trường hợp lợi cho Chủ, lợi cho Khách, từ đó có thể biết, đại phàm những gì mang nhiều tính động, chủ động là Khách, ngược lại là Chủ.

Việc lựa chọn và sử dụng Chủ - Khách trong Kỳ Môn, quý ở chỗ lý giải và biến thông. "Kỳ Môn Bí Tập Đại Toàn" đã luận thuật chi tiết về nguyên tắc lựa chọn Chủ - Khách:
"Phàm Chủ - Khách, động tĩnh bất định, biến hóa khôn lường. Cho nên Chủ - Khách là tượng không cố định. Hoặc lấy động trước làm Khách, động sau làm Chủ; hoặc lấy động làm Khách, tĩnh làm Chủ; hoặc lấy tiếng trước làm Khách, tiếng sau làm Chủ; hoặc lấy Thiên Bàn làm Khách, Địa Bàn làm Chủ; ... hoặc lấy Dương làm Khách, Âm làm Chủ; hoặc biến Khách thành Chủ, biến Chủ thành Khách... Cho nên người giỏi dùng Kỳ Môn, trước hết phân biệt Chủ - Khách, sau đó mới rõ phương pháp chiếm đoán." Điều này tuy nói về sự quan yếu trong hành quân đánh giặc, nhưng trong dự đoán nhân sự thường ngày cũng là tiền đề để dự đoán chính xác.

Ví dụ trong dự đoán Kỳ Môn, có những vấn đề như: chủ động đi dự đoán cho người khác và người khác chủ động đến nhờ dự đoán; trong cùng một giờ, nhiều người đến nhờ dự đoán trước sau khác nhau... Điều này thực ra đều thuộc phạm trù Chủ - Khách. "Kỳ Môn Bí Tập Đại Toàn" lại nói: "Nếu ta đi tìm người, ta là Khách, người kia là Chủ, lấy sao (Tinh) ở Thiên Bàn là ta, lấy sao ở Địa Bàn là người kia. Nếu người kia đến tìm ta, người kia là Khách, ta là Chủ, lấy sao ở Thiên Bàn là người kia, sao ở Địa Bàn là ta." Có thể thấy sự tương ứng giữa Chủ và Khách không phải bất biến, mà cần tùy theo trạng thái động tĩnh mà phân tích biện chứng. Vì vậy, nguyên tắc lựa chọn và sử dụng cần tùy theo hoàn cảnh khác nhau mà biến thông kịp thời, không thể cố chấp. Ví dụ trong một lần dự đoán cụ thể, có thể lấy Thời Can làm Khách, Nhật Can làm Chủ; hoặc lấy Nhật Can làm Khách, Nguyệt Can làm Chủ; hoặc lấy Nguyệt Can làm Khách, Niên Can làm Chủ. Lại có thể lấy Can ở Thiên Bàn làm Khách, Can ở Địa Bàn làm Chủ. Lựa chọn ngẫu hứng, đều ở chỗ cơ năng linh cảm của ta. Rõ cơ động tĩnh, xét ứng của Chủ Khách, thì cục thế sẽ thấy rõ như lòng bàn tay. Ví dụ như xem việc chiến tranh, cần phải phân Chủ - Khách trước, rồi mới định thắng bại; cùng một giờ có nhiều người hỏi về cùng loại nhân sự, thì lấy người hỏi trước làm Khách, người hỏi sau làm Chủ, dùng để phân biệt sự ứng. Hoặc lấy Trực Phù làm Khách, Trực Sứ làm Chủ; có ý là Khách, vô ý là Chủ, v.v. Ví dụ như Nguyệt Can là anh em, người đầu tiên cầu chiếm thì xem cung rơi của Nguyệt Can trên Thiên Bàn, bởi đó là Khách; người thứ hai cầu chiếm thì lấy cung rơi của Nguyệt Can trên Địa Bàn làm Chủ, bởi vì là Chủ thì họ động sau hoặc không động vậy.

 

 

Dự đoán Kỳ Môn: Phàm người đến chủ động cầu đoán thì dễ nhận biết; còn chủ động dự đoán thì cần phải tinh thông đạo Chủ - Khách. Người khác đến cầu ta, cơ sự của họ rõ ràng; ta đi ứng với họ, cơ sự ấy khó phân biệt. Vì vậy, phần nhiều lấy việc người đến tìm ta làm nhân (nguyên nhân) và làm Khách, lấy sự động tĩnh của ta làm quả (kết quả) và làm Chủ, Chủ là trung tâm của Khách. Bởi vì hệ thống Kỳ Môn tựa như một tấm gương, phàm có người đến thì liền có ảnh phản chiếu, cho nên Kỳ Môn không khước từ nghi vấn của người cầu đoán, càng hỏi thì kết quả càng chi tiết, đây cũng chính là đạo lợi cho Chủ của dự đoán Kỳ Môn. Trong dự đoán, không có nhân thì không thành quả, tất cả đều tuân theo nguyên tắc "Khách tùy Chủ tiện" (Khách theo sự tiện lợi của Chủ). Làm Chủ thì nên quen biết lễ đãi khách, làm Khách thì cần phải chiều theo ý của Chủ. Dân gian có câu "Học xong Kỳ Môn Độn, người đến không cần hỏi", còn đối với tầng dự đoán Kỳ Môn cao cấp, còn cần đạt tới cảnh giới "không cần hỏi người đến", cái gọi là "người chưa đến đã biết họ muốn đến".

Khái niệm Chủ - Khách trong Kỳ Môn, cũng như Thế - Ứng và Thể - Dụng trong dịch chiêm, thực chất là lập thể, là sự mở rộng của khái niệm Thế - Ứng và Thể - Dụng. Trong Kỳ Môn, để dự đoán chính xác nhân sự, cần trước hết phải rõ đạo làm Chủ và làm Khách.

Sự động tĩnh của nhà dự đoán thường rất quan trọng, trở thành then chốt của việc làm Chủ hay làm Khách. Không có Khách thì Chủ không hiện, không có Chủ thì chẳng thành Khách. Chủ và Khách là một cặp mâu thuẫn tồn tại nương tựa lẫn nhau. Có lúc, có thể lấy Chủ để ứng với Khách, có lúc lại lấy Khách để ứng với Chủ. Khách tùy theo Chủ mà tiện, nhiều Khách thì Chủ chê. Trong thực tế dự đoán, cần phải lúc nào cũng chú ý phân biệt Chủ - Khách. Chủ - Khách là cơ sự báo trước của dự đoán, phân biệt được Chủ - Khách thì cục thế sẽ sáng tỏ. Mà dự đoán Kỳ Môn thường lấy một hoàn cảnh cụ thể đối ứng với thức bàn Kỳ Môn, cho nên phàm người vật vừa vào bàn cục thì động tĩnh Chủ - Khách liền hiện ra. Con người, sự vật cụ thể trong thời không cụ thể đều có thể lần lượt lấy Chủ - Khách để ứng với chúng, vì vậy tinh thông đạo Chủ - Khách thì không gì không thể đoán, không gì không thể dự báo. Trong hệ thống mở này, ngoại ứng là điềm báo trước của việc, Chủ - Khách ứng với nhân quả của việc.

Tóm lại, mục đích trực tiếp của dự đoán Kỳ Môn là giúp người tránh hung, hướng tới cát. Bởi vì cuộc đời luôn đối mặt với những lựa chọn và cạnh tranh, điều này không thể tránh khỏi liên quan đến vấn đề lợi Chủ hay lợi Khách, cho nên càng cần nắm bắt hàm ý sâu sắc của Chủ và Khách từ góc độ triết học. Khi đối mặt với những thử thách lựa chọn và cạnh tranh, khái niệm Chủ - Khách trong tư duy Kỳ Môn càng dễ dàng giúp con người nắm bắt một cách chính xác, trực tiếp tình thế của mình, để từ đó đưa ra những phán đoán và lựa chọn phù hợp thực tế nhất, có lợi nhất. Lợi Chủ thì làm Chủ, lợi Khách thì làm Khách, thứ logic biện chứng này của hệ thống dự đoán Kỳ Môn cung cấp cơ sở lý luận quan trọng cho việc tiến thoái, lựa chọn trong cuộc đời, đó chính là giá trị của nó.

(Chuyển tiếp) Bàn thêm về tư duy phán đoán và đặc điểm của Kỳ Môn Độn Giáp

Dụng thần đa dạng, là một trong những đặc điểm của dự đoán Kỳ Môn. Chính vì điều này, dự đoán Kỳ Môn trở nên thần kỳ vô cùng; cũng chính vì điều này, dụng thần trong Kỳ Môn mới gây hoa mắt, khiến người ta khó nắm bắt và không biết theo đâu. Thực ra, việc lựa chọn dụng thần cũng như dùng thuốc chữa bệnh, thuốc không cần nhiều mà cần tinh, mấu chốt là tìm đúng chỗ bệnh. Cái gọi là "lương y chữa bệnh, thuốc chẳng qua ba hai vị, châm cứu chẳng qua một hai mũi", chính là lẽ đó. Dưới đây, xin mạnh dạn đưa ra một số nhận thức chưa thực sự chín muồi, để cầu thị với các bậc cao nhân trong và ngoài nước.

Cái gọi là Dụng Thần, là một quy định và cách dùng đặc biệt được tổng kết qua nhiều thực hành trong thuật số nhằm dự đoán chính xác thông tin nhân sự, lấy các ký hiệu khác nhau làm chỉ mục thông tin cho những nhân sự khác nhau. Dụng thần trong Kỳ Môn có hai loại: Dụng thần thông thường và Dụng thần ngẫu nhiên. Chúng là điểm cộng hưởng giữa tiểu không - thời gian cá thể và đại không - thời gian trường, là trọng tâm của sự vật, là huyền quan nhất khiếu của Kỳ Môn. Dụng thần thông thường chỉ cách dùng cố định theo quy định của lý thuyết truyền thống, như bệnh xem sao Nhuế, tài xem sao Sinh, Ất - Canh chủ hôn nhân, Can chủ về cha, v.v. Còn Dụng thần ngẫu nhiên là cách dùng chọn điểm đặc biệt dựa trên những động ứng đặc biệt trong thời không đặc biệt, như dùng số lượng vật có thể đếm được để ứng với số cung, hình thái hành động để ứng với Cửu Cung, Bát Môn, v.v. Hai loại dụng thần, một trong một ngoài, cấu thành hệ thống dự đoán Kỳ Môn hoàn bị. Bởi dụng thần do con người thiết lập, phục vụ cho mục đích tra cứu (dự đoán) thông tin nhân sự tốt hơn. Vì vậy cần phải trước hết làm rõ sự phân công của chúng thì mới có thể đạt được kết quả như ý, công bội.

Việc lựa chọn dụng thần trong Kỳ Môn, mấu chốt là phải rõ lý lẽ, lý thông thì pháp tự nhiên thông. Không rõ đạo lý, mù quáng áp dụng kinh nghiệm của người khác mà không biết biến thông thì ắt sẽ sai lầm. Muốn lựa chọn dụng thần chính xác, trước hết phải hiểu mối quan hệ giữa các bàn Trời, Đất, Người, Thần. Hệ thống dự đoán Kỳ Môn cũng giống như xã hội loài người: Thần là "nguyên thủ", là nhà lãnh đạo cao nhất, quản lý trạng thái và thông tin lớn của thời không; Sao là "quan huyện", phụ trách việc hoạch định chính sách và thực thi quyền lực, trừ một số việc lớn, thông thường họ chỉ nói nguyên tắc, không tự mình hỏi han những việc nhân sự cụ thể hàng ngày; Bát Môn là "hiện quản" (người thi hành, người chấp pháp), cụ thể quản lý cát hung của nhân sự; Cửu Cung là cơ sở, là người dân thường, là nền tảng để quyền lực của Sao, Môn, Thần có thể phát huy hiệu quả; Kỳ Nghi là sứ giả, là nhân viên liên lạc kết nối Thần, Sao, Môn, Cung; Cách cục là ghi chép của hồ sơ nhân sự, là dư luận (chỉ là lời của một phía). Hiểu được các mối quan hệ trên thì việc lựa chọn dụng thần trở nên có chương, có thể tìm kiếm.

Kỳ Môn là một hệ thống toàn ảnh, cũng như cơ thể con người, mỗi hệ thống phân chia đều có thể chẩn đoán ra bệnh tật trong cơ thể; hệ thống Kỳ Môn lại như một tấm gương, sau khi chia thành chín mảnh, mỗi mảnh đều có chức năng như ban đầu. Trong hệ thống Kỳ Môn, đầu là Ly, chân là Khảm, các cung liên quan lẫn nhau, có mối quan hệ nhân quả tất yếu. Xem xét một cung, có thể suy ngược ra các cung khác, ngắm một chiếc lá mà biết ý thu về.

Dụng thần trong Kỳ Môn đan xen phức tạp, vai trò của chúng trong các sự việc nhân sự khác nhau mỗi loại mỗi vẻ. Trong một việc nhân sự cụ thể, thường chỉ có một hai dụng thần đóng vai trò quyết định, đó chính là trọng tâm của sự việc, là mâu thuẫn chính. Dự đoán Kỳ Môn không cần phải liệt kê tất cả các dụng thần và chứng cứ, mà trước hết nên nắm bắt mâu thuẫn chính của sự vật, nâng cao lưới thì các mắt lưới sẽ mở ra, mâu thuẫn chính được giải quyết thì các mâu thuẫn thứ yếu khác sẽ được giải quyết dễ dàng. Dùng thuốc Đông y, có sự phân chia quân, thần, tá, sứ; dụng thần trong Kỳ Môn cũng có công năng như quân, thần, v.v. Phân rõ tính cấp bách, mức độ nhẹ nhàng của dụng thần nhân sự thì mới có thể nắm bắt dự đoán Kỳ Môn tốt hơn. Giống như nghiên cứu một cánh rừng, không thể nghiên cứu từng cây một, mà nên phân tích từ ba khía cạnh: tổng thể, cá thể, và mối quan hệ giữa tổng thể với cá thể.

Trong cuộc sống hàng ngày, khi giải quyết việc cần tìm cơ quan chủ quản, không rõ trách nhiệm, "bệnh cấp loạn cầu y" thì sẽ lãng phí thời gian mà ít thu được kết quả. Việc lựa chọn dụng thần trong Kỳ Môn cũng chính là như vậy, dự đoán cần tìm cơ quan chủ quản tương ứng (dụng thần chính), chứ không phải cậy nhờ khắp nơi, cầu khắp thần. Dụng thần trong Kỳ Môn nên được hiểu và nắm bắt từ nguyên tắc cảm ứng thông tin "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Học giả nên không ngừng rèn luyện khả năng dựa vào trực giác để thu nhận những ký hiệu thông tin phù hợp nhất với nhân sự. Đó chính là quan sát tượng, ngộ ra tượng, nhận thức về bản chất nội hàm chân thực của các ký hiệu. Ví dụ như Thiên Phụ vốn là văn giáo, kỹ thuật, nhưng trong cụ thể cũng có thể đại diện cho cảnh sát; Nhuệ, Cầm vừa có thể là điềm báo hôn nhân, vừa có thể là tượng thầy trò tụ họp hoặc bàn giao công việc. Mỗi ký hiệu là người phát ngôn của một trường thông tin toàn ảnh, trong những hoàn cảnh khác nhau chúng sẽ thể hiện những tính cách và bộ mặt khác nhau. Muốn kết bạn với chúng, cần phải quen thuộc với tính cách của chúng thì mới có thể dò hỏi được tình hình cụ thể của thông tin nhân sự từ chúng, tức là đọc được ý nghĩa cụ thể mà chúng muốn biểu đạt.

Trong hệ thống Kỳ Môn, các tầng lớp nhân sự khác nhau tương ứng với các dụng thần khác nhau. Ví dụ như đoán bệnh, sao Nhuế là sao bệnh, chỉ bệnh bên trong; Môn Thương là Môn bệnh, chủ về ngoại thương; sự tổ hợp giữa Thần và Cung có thể phân biệt được tình trạng bệnh tật với các tính chất khác nhau. Cấn là khối u, Lục Hợp là sự nhầy nhụa, tắc trệ, gặp phải thì lưu thông máu bị cản trở, cơ thể có u cục; Huyền Vũ là hệ thống niệu sinh dục, rơi vào Khôn, Cấn thì có tượng tắc trệ ở bàng quang và niệu đạo, v.v. Bạch Hổ là tượng va chạm mãnh liệt, Đằng Xà là tượng hư kinh và thần kinh có vấn đề, Cửu Địa là bệnh tiềm ẩn, là tượng phục tàng, Cửu Thiên là tượng cương bạo, xúc động. Cửu Thiên, Nhuế, Môn Thương rơi vào cung Càn, đầu có nguy cơ huyết khối; Lục Hợp, Bồng, Cảnh rơi vào cung Khảm, cần phòng tránh thương tổn do yến ẩm.

Việc lựa chọn dụng thần trong Kỳ Môn, sau khi đã quen với ý nghĩa và cách lấy dụng thần thông thường của tất cả các ký hiệu, thì trong thực tế vận dụng thường lấy cảm giác đầu tiên của nhà dự đoán làm chuẩn. Bởi vì dụng thần cũng là một cơ thể sống, nó không chỉ xuất hiện với một bộ mặt. Cùng một sự việc, đôi khi có thể có nhiều dụng thần; ngược lại, những việc khác nhau, đôi khi lại có thể lấy cùng một dụng thần làm chính. Mục đích của việc lựa chọn dụng thần là để nâng cao độ chính xác của dự đoán, cũng như khi ốm đau uống thuốc là để chữa bệnh, đối với những "chứng bệnh" khác nhau cần kê ra những toa thuốc khác nhau. Chỉ có đúng bệnh thì thuốc mới có thể trị khỏi. Nếu không, dùng thần có nhiều đến đâu thì cũng chẳng giúp ích được bao nhiêu trong thực tế. Dụng thần là người dẫn đường cho dự đoán, khi đã quen đường thì có thể không cần người dẫn đường. Pháp vô định pháp, việc lựa chọn dụng thần cũng vậy.

Việc lựa chọn dụng thần, thường lấy cung rơi của Trực Phù, Trực Sứ và Thời Can làm chính, rồi phối hợp với ngoại ứng, điều này rất hữu hiệu cho việc rèn luyện tư duy của người mới học. Tại sao vậy? Chúng ta biết rằng, trong hình học, ba điểm xác định một mặt phẳng; trong Kỳ Môn, cũng cần từ ba góc độ chính để nắm bắt và phân tích một vấn đề, nhằm định vị nhân sự cụ thể. Ngoài ra, còn có quy tắc dụng thần truyền thống trong Kỳ Môn, đây là "cây gậy" để nâng cao năng lực phán đoán dự đoán. Nhưng trong đó vẫn còn nhiều chỗ chưa chắc chắn, và thường quá phức tạp, đến nỗi tạo cho người ta cảm giác "nhìn ngang thành núi, nhìn dọc thành đỉnh", khó mà nắm bắt. Tác giả cho rằng, nên làm quen với những điều đã nói trước rồi sau đó mới nắm bắt thì sẽ dễ dàng hơn.

Dụng thần trong Kỳ Môn, đôi khi phải dựa vào ngoại ứng để lựa chọn, đó là dụng thần ngẫu nhiên. Cũng như khi điều tra một vụ án phải thẩm vấn nhân chứng, ngoại ứng là nguồn thông tin quan trọng. Thường thì những bằng chứng do nhân chứng cung cấp khách quan hơn là đương sự, vì vậy cần phải tham khảo thông tin này. Hoặc lấy trạng thái của người cầu đoán vào lúc hỏi việc làm ngoại ứng, hoặc lấy động tĩnh của môi trường xung quanh lúc cầu đoán làm ngoại ứng. Ví dụ như tay động thì xem Cấn, phát động (bắt đầu động) thì xem Tốn, phương Khôn động thì phân tích cung Khôn, v.v. Lại như khi đoán hôn nhân, bỗng dưng có người khác xông vào, dù cách cục trong thức bàn có tốt đến đâu thì cũng e rằng có chuyện người thứ ba xen vào. Bởi vì thức bàn đại diện cho trạng thái thông thường của thời không, nhưng ngoại ứng tiết lộ lại thường là những quy luật đặc biệt, những việc ứng không phù hợp với quy luật thông thường. Cũng như nói chuyện với người khác, thông thường phải nghe lời họ và quan sát sắc mặt của họ, nếu như nói chuyện với người câm hoặc người không cùng ngôn ngữ, thì phải diễn đạt qua cử chỉ. Vì vậy, ngoại ứng cũng là một loại ngôn ngữ mô tả thông tin đặc biệt. Thức bàn Kỳ Môn là bộ xương, ngoại ứng Kỳ Môn là da thịt. Bỏ qua da thịt, chỉ dùng bộ xương để phán đoán, cũng như dùng tia X để chẩn đoán, trừ các chuyên gia học giả, người thường khó có bản lĩnh này.

Dụng thần trong Kỳ Môn, thực chất là một phương pháp rèn luyện tư duy đặc dị. Dự đoán ở tầng cao, thường là không có dụng thần cố định, chúng ta thậm chí có thể nói thuật số chính là cửa ngõ để khai mở tư duy đặc biệt. "Tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông" (Lặng lẽ không động, cảm thì thông suốt) mới là cảnh giới cao nhất của dự đoán thuật số. (Lôi)

Bàn về hai hình thức biểu hiện của thời không trong Kỳ Môn [Chuyển tiếp]

Dự đoán Kỳ Môn, là từ những tượng mơ hồ hiển thị trên thức bàn, định vị và phục nguyên chính xác thông tin nhân sự đặc biệt đang diễn ra trong thời không. Muốn nhận biết được những tượng đó, cần phải trước hết quen thuộc với lý và số trong đó, sau đó mới có thể nâng cao độ chính xác từ cả hai phương diện định tính và định lượng. Kỳ Môn Độn Giáp, tiếp thu những tinh hoa của nhiều môn thuật số, vì vậy có thể đạt tới hiệu quả thần kỳ "người đến không cần hỏi". Dưới đây, xin từ góc độ tư duy phân tích, lược thuật đôi điều, để cầu thị với các bậc cao nhân.

1. Hai phái lớn của thuật số truyền thống - Tượng số và Ngũ hành

Tượng số và Ngũ hành là hai phái quan trọng trong thuật số truyền thống. Trong đó, thuật Ngũ hành lấy Lục Nhâm, một trong "Tam thức", làm đại diện; còn Tượng số thì lấy phái Tượng số của Dịch làm đại diện.

Dự đoán Tượng số, phương pháp trực quan, giản dị, con số chính xác, tư duy phân tích phán đoán sự vật theo hướng từ ngoài nhìn vào trong, cấu trúc cơ bản của nó tôn trọng Cửu Cung Lạc Thư. Dự đoán Ngũ hành, phương pháp tinh vi, trừu tượng, phức tạp, tỉ mỉ, tư duy phân tích phán đoán sự vật theo hướng từ trong nhìn ra ngoài, Can Chi là bộ khung và ngôn ngữ mô tả cơ bản của thuật Ngũ hành.

Tượng số là hình là khí cụ, Ngũ hành là chất là đạo. Vì vậy, Tượng số cụ thể còn Ngũ hành huyền diệu. Nguyên tắc Tượng số thích ứng trong vũ trụ trời đất, tượng và số là thước đo để dựa vào, biểu tượng bên ngoài không thay đổi; còn quy tắc đặc thù của Ngũ hành chỉ thích ứng với trái đất (nói chính xác là bắc bán cầu), khi địa điểm thay đổi thì quy tắc cụ thể ắt sẽ phải thay đổi theo. Tượng số và Ngũ hành đều lấy việc mô tả thời không và mô phỏng thời không làm nội dung chính của chúng. Tượng số không phân biệt lớn nhỏ, Ngũ hành có sự phân biệt về tầng bậc. Tượng số dùng bề ngoài để xem xét bên trong, tượng và số khác nhau thì nhân sự ắt khác nhau, ngược lại cũng vậy; Ngũ hành dùng bên trong để xem xét bề ngoài, thế lực của Ngũ hành khác nhau thì tính chất của sự việc khác nhau, ngược lại cũng vậy. Tượng số định lượng, Ngũ hành định tính. Ngũ hành và Tượng số kết hợp ăn ý với nhau có vai trò vô cùng quan trọng trong việc nắm bắt chính xác phương hướng phát triển của sự vật.

2. Hai loại cấu trúc số lý trong Kỳ Môn Độn Giáp

Mô hình thời không Kỳ Môn, khéo léo dung hợp Tượng số và Ngũ hàng, hai hệ thống thuật số, lại với nhau, nhìn ngang thành núi, nhìn dọc thành đỉnh, cực kỳ huyền diệu. Các bàn Trời, Đất, Người, Thần và Tam Kỳ, Lục Nghi của nó, mỗi thứ đều đại diện cho những tượng và số riêng, lại có thuộc tính ngũ hành và quan hệ sinh khắc riêng. Trong đó, thông tin đan dọc thành lưới, vì vậy có thể nhanh chóng, chính xác, hoàn chỉnh mô tả nguyên nhân, kết quả, tất cả các trạng thái của Trời, Đất, nhân sự trong thời không.

Thức bàn Kỳ Môn được xây dựng dựa trên bộ khung Cửu Cung Lạc Thư. Ở đây, Cửu Cung Lạc Thư trở thành giá đỡ để thông tin thời không nương tựa. Vì vậy, thông tin trong đó, muôn biến cũng không rời tông tích, phép tắc có cội nguồn. Mà Cửu Cung Lạc Thư là ngôn ngữ mô tả tượng số của Hậu Thiên, vì vậy, xét từ biểu tượng bên ngoài, Kỳ Môn Độn Giáp chứa đựng thực chất của Tượng số.

Tam Kỳ, Lục Nghi, với vai trò là cầu nối thông tin trong Kỳ Môn Độn Giáp, là bước then chốt để tạo thành cục Kỳ Môn. Tam Kỳ, Lục Nghi chính là Thiên Can, là cấu trúc cơ bản của thuật Ngũ hành. Trong thức bàn Kỳ Môn, Địa Chi cũng được phân bố trong Cửu Cung, trở thành bảng chia độ cho thông tin thời gian và thông tin phương vị. Do đó, Can và Chi đều được đưa vào hệ thống Kỳ Môn, và nguyên tắc phán đoán của thuật Ngũ hành cũng có thể được áp dụng vào trong đó.

3. Hai loại tiêu chuẩn phán đoán khác nhau trong Kỳ Môn

Kỳ Môn Độn Giáp, với tư cách là sự mô phỏng vận chuyển của thời không, tương ứng với toàn ảnh của thời không chân thực. Bởi vì thuật số dùng hai cách là tượng số và ngũ hành để biểu đạt trạng thái của thời không, mà Kỳ Môn lại là sự mô phỏng chân thực của thời không, cho nên, trong hệ thống Kỳ Môn, tượng số và ngũ hành cũng như huyết nhục của con người, không thể tách rời. Và với tư cách là hai phương thức biểu hiện khác nhau, trong thực tế dự đoán, cũng có thể dựa vào hai lối tư duy khác nhau để phân tích và phán đoán.

1. Tiêu chuẩn phán đoán theo Tượng số

Kỳ Môn Cửu Cung, cũng như ngoại hình và y phục của một người, là hình tượng bên ngoài. Muốn nhận biết người này, dĩ nhiên trước hết phải nhận biết khuôn mặt. Dung mạo dễ biết, đó chính là đặc điểm của dự đoán Tượng số.

Trong phương pháp dự đoán Tượng số của Kinh Dịch, có vạn vật loại tượng của Bát Quái, cũng có số của Cửu Cung. Trong dự đoán Kỳ Môn, có thể tham khảo các nội dung liên quan và lối phân tích này. Bởi vì Kỳ Môn có các bàn Trời, Đất, Người, Thần, có hơn ba mươi ký hiệu tượng số khác nhau, lượng thông tin tổ hợp trong đó càng lớn hơn. Mà Tam Kỳ, Lục Nghi bản thân cũng có nội hàm tượng số riêng, khi kết hợp lại, có thể phân loại vạn vật mà không sót. Tượng có thể mô tả trạng thái sự việc, số có thể xác định thời gian ứng nghiệm và số lượng, rất hữu hiệu. Ví dụ khi phân tích một việc, thấy dụng thần của nó rơi vào cung Tốn (số 4), thì thời gian ứng nghiệm có thể đoán là số 4, hoặc 4 ngày, 4 tháng, 4 năm, v.v. Lại như tính tình cơ bản của Bát Quái, cũng có thể vận dụng linh hoạt. Đối với Cửu Tinh, Bát Môn, Bát Thần, đều có thể theo lối tư duy này mà sắp xếp ra nội hàm tượng số của chúng. Thấy tượng mà hiểu ý, là một cách dùng quan trọng trong phán đoán Kỳ Môn. Ví dụ một người đàn ông xem hôn nhân, Thiên Bàn Ất Kỳ rơi vào cung Ly (số 9), cung đó có Cửu Địa, Thiên Bồng và Khai Môn, Địa Bàn Lục Nghi là Mậu, thì có thể đoán: Người phụ nữ da trắng, dung mạo tú lệ, chiều cao 1,61m, ngoài mềm trong cứng, sùng bái lãng mạn, thích văn học, mê du lịch, thích mặc y phục màu đỏ, vàng. Lưu ý trong thực tế dự đoán thường xuyên rèn luyện tư duy tượng số của mình, là chìa khóa để nâng cao trình độ dự đoán Kỳ Môn nhanh chóng.

2. Tiêu chuẩn phán đoán theo Ngũ hành

Dự đoán Ngũ hành, lấy sự sinh khắc chế hóa, vượng tướng hưu tù, tuần không, nhập mộ của ngũ hành làm tiêu chuẩn để phán đoán trạng thái nhân sự, đây là lối tư duy thường dùng của các nhà nghiên cứu Kỳ Môn nói chung. Bởi trong Kỳ Môn, Can Chi có thuộc tính ngũ hành, Cửu Cung cũng có thuộc tính ngũ hành, sự tổ hợp của các ngũ hành này tạo thành khung phán đoán ngũ hành của Kỳ Môn. Trong sách "Kỳ Môn Pháp Khiếu", đã liệt kê chi tiết phương pháp lấy ngũ hành làm tiêu chuẩn để phán đoán trạng thái nhân sự và thời gian ứng nghiệm. Ví dụ như hình phạt chủ về quan tai, vô dụng; gặp hợp thì xung là thời gian ứng nghiệm, v.v. Trong thực tế ứng dụng, phương pháp phân tích này rất hiệu quả. Như mưa lâu ngày gặp Tuần không thì tạnh, tìm người gặp không mà không thấy, đều có thể trực tiếp áp dụng nguyên tắc chung của thuật Ngũ hành để phân tích và phán đoán.

Dự đoán Kỳ Môn, vốn nổi tiếng là hiệu nghiệm thần kỳ, nhưng lối tư duy phán đoán của nó không ngoài hai loại tượng số và ngũ hành. Cái gọi là "pháp vô định pháp, tâm sinh vạn pháp", chỉ có linh hoạt vận dụng các tiêu chuẩn này, không ngừng rèn luyện tư duy đặc biệt, lâu ngày ắt có thể đạt tới hiệu quả "thần xuất quỷ một". (Lược)

Bàn về tính tương đối của thời không trong Kỳ Môn Độn Giáp

Kỳ Môn Độn Giáp, với tư cách là một mô hình thời không đặc biệt, mô phỏng chân thực sự vận chuyển của thời không, vì vậy có thể dự đoán chính xác sự phát triển vận động của nhân sự trong thời không. Hệ thống dự đoán Kỳ Môn, lấy không gian làm thể, thời gian làm dụng; không gian là chiều ngang, thời gian là chiều dọc, tung hoành đan xen tạo thành mạng lưới, do đó có thể định vị chính xác thông tin nhân sự trên bàn.

Dự đoán Kỳ Môn, dưới hệ tọa độ được tạo thành bởi bốn trụ Năm, Tháng, Ngày, Giờ, mỗi giờ cố định là một cục, sắp xếp thành cục diện Cửu Cung, khi dự đoán thì tùy thời bắt lấy thông tin trong thời không, đưa vào bàn, tìm ra nhân quả của sự việc. Đó chính là quá trình dự đoán Kỳ Môn.

Dự đoán Kỳ Môn nhân sự, có hai lối tư duy trích xuất thông tin:

  1. Dùng kho thông tin được cấu thành bởi hệ thống thời gian làm chỉ mục. Ví dụ, lấy trụ năm làm lãnh đạo, là thế hệ cha chú, là xa, là người lớn tuổi; trụ tháng làm bạn bè, anh em, đồng nghiệp, cùng thế hệ; trụ ngày làm bản thân, là chủ thể của việc, là trạng thái hiện tại; trụ giờ làm con cái, thế hệ sau, cấp dưới, là gần, v.v. Quy vạn vật về một tầng bậc nhất định, lấy thời gian làm khung, phối hợp với lý thuyết ngũ hành, từ đó có thể lấy làm manh mối để thu được thông tin cần thiết.

  2. Dùng hệ thống được cấu thành bởi phương vị làm chỉ mục thông tin. Đây là hệ thống động chiếm của Kỳ Môn. Cái gọi là "động ắt có việc", nghĩa là hễ có người đặt câu hỏi, môi trường xung quanh có sự thay đổi, hoặc tâm ta có động, thì có thể lập khóa chiếm việc. Bởi vì Kỳ Môn Độn Giáp dùng để mô phỏng sự vận chuyển của thời không, thì cục chẳng phải bày ra vô ích, có ký hiệu là có nhân sự tương ứng, cho nên phàm hiện tượng nào trong môi trường không gian, đều có thể đưa vào bàn Kỳ Môn, phân tích ra nhân duyên trong đó. Ví dụ có thể lấy biểu cảm, hành động hoặc phương vị của người làm dẫn dắt, đưa vào Cửu Cung, phân tích các nhân tố liên quan ở các cung, liền biết được xu hướng phát triển đại khái của việc. Trời người hợp nhất, vạn vật toàn ảnh, vì vậy có thể đem Cửu Cung đối ứng với bất kỳ một hệ thống nào, xem động ứng của nó, dùng nguyên tắc vạn vật loại tượng, suy ra nguyên nhân và kết quả của sự việc từ cung tương ứng trên bàn.

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, thời gian và không gian không phải là tuyệt đối, đều có tính tương đối và tính biện chứng.

Kỳ Môn Độn Giáp thông thường lấy thời điểm đặt câu hỏi và thời điểm sự việc xảy ra để lập cục, nhưng cũng không phải hoàn toàn như vậy. Bởi vì 18 cục Âm Dương Độn của Kỳ Môn, thực ra cũng tương đương với hệ thống 64 quẻ, vì vậy cũng có thể bói toán. Có những phái trong Kỳ Môn chủ trương rằng, chỉ cần tĩnh tâm lý hội, có thể không cần câu nệ vào việc sử dụng thời điểm hiện tại, mà tùy ý chọn bất kỳ một thời điểm nào đó để lập cục suy đoán, cũng chẳng có gì là không ứng nghiệm.

Phương vị không gian trong hệ thống Kỳ Môn cũng tương tự như vậy. Phương vị, theo một nghĩa nào đó, chỉ là một quy định hậu thiên, do con người đặt ra, thực ra không có phương hướng đông tây nam bắc cố định. Lạc Thư Cửu Cung hậu thiên, cũng chỉ là một mô hình thích ứng với trái đất, nó thực ra bắt nguồn từ địa hình Trung Quốc. Vì vậy, đối với việc lớn của quốc gia, xã hội, tự nhiên, có thể dùng Cửu Cung bát phương cố định để định vị, cho nên dùng thời cục cố định của Kỳ Môn là có thể xác định được trạng thái của việc. Còn đối với việc riêng của cá nhân, việc thường ngày, thì nguyên tắc phương hướng đôi khi phải có một số thay đổi, mới hợp với lý lẽ trời đất. Làm sao biết được điều đó? Bởi vì, theo lý thuyết toàn ảnh, Cửu Cung có thể đối ứng với trạng thái của một người, vì vậy, theo quan điểm của "ta" mà nhìn, thì trước Nam sau Bắc, trái Đông phải Tây. Đây chính là sự phân bố trạng thái của "ta", là hệ thống phương vị hậu thiên của bản thân "ta". Nó không thay đổi theo sự vận chuyển của trái đất, mà lấy "ta" làm trung tâm, thay đổi theo sự thay đổi của "ta". Trạng thái nó biểu thị là vận động, tùy ý, và phạm vi thích ứng của nó chỉ có hiệu lực đối với việc riêng của cá nhân. Trong hệ thống dự đoán Kỳ Môn, trạng thái của "ta" (nhà dự đoán) và trạng thái của người cầu đoán đều vô cùng quan trọng, đều là những nhân tố tham khảo bắt buộc phải xem xét. Trên thực tế, Bát Môn trong hệ thống Kỳ Môn cũng như vậy, trong cùng một thời gian (cùng một cục), Bát Môn không phải là bất biến mà tương ứng với tám phương, chúng thay đổi theo trạng thái của nhà dự đoán, người cầu đoán và sự thay đổi của môi trường xung quanh. Chỉ có như vậy, mới có thể trăm người trăm ứng, nghìn người nghìn ứng, mỗi người mỗi khác. Trong Kỳ Môn Độn Giáp, phương vị được dùng làm hệ tọa độ ngang để phân biệt các hiện tượng nhân sự khác nhau trong cùng một thời cục.

Trong dự đoán Kỳ Môn Độn Giáp, chỉ có nắm chặt manh mối của thời không, mới có thể phân tích sâu sắc nhân quả của nhân sự, và mới có thể phát huy đầy đủ vai trò thần kỳ của Kỳ Môn. (Lược)

:: Bàn về vai trò của Bát Thần trong Kỳ Môn Độn Giáp ::

Các vị thần được dùng trong Kỳ Môn Độn Giáp, thường có: Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Cửu Địa, Cửu Thiên, Câu Trần, Chu Tước (mười vị; có phái khác còn có Thanh Long). Bởi vì trong mỗi cục của Âm, Dương độn, trên bàn Bát Chá Thần chỉ có tám vị trí thần, nên thường gọi là Bát Thần. Tác dụng, tính tình của các vị thần, các phái Kỳ Môn đều có luận thuật, trong quy tắc vận dụng và thứ tự sắp xếp mỗi phái mỗi khác. Phải trái thế nào, vẫn chưa có ai bình luận cặn kẽ. Tác giả không dè mình nông cạn, viết thành bài này, mong có tác dụng "ném viên gạch để mời ngọc".

Thần trong Kỳ Môn, cũng tương tự như thần trong các dòng thuật số khác. Đã gọi là thần, ắt phải có chỗ thần kỳ, không phải người thường có thể đo lường được. Theo một nghĩa nào đó, họ đều có linh có thịt, có tính cách độc đáo, có quyền hạn và nghĩa vụ khác nhau, cũng như người sống vậy, nhưng họ thông suốt rộng lớn, biến hóa khôn lường. Muốn vận dụng thuật Kỳ Môn, trước hết phải nhận biết được tính cách của họ, thì mới có thể phân biệt cát hung họa phúc. Tính tình của các vị thần, sách cổ có lược thuật. "Kỳ Môn Pháp Khiếu" nói: "Trực Phù là thần Thiên Ất, Đằng Xà là thần hư trá, Thái Âm là thần âm phù, Lục Hợp là thần hộ vệ, Bạch Hổ là thần hung bạo, Huyền Vũ là thần đạo tặc, Cửu Địa là thần kiên cố, Cửu Thiên là thần uy hãn, Câu Trần là thần kéo dài trì trệ, Chu Tước là thần văn minh." Còn Thanh Long là thần nhân từ. Dựa vào bản tính này, chúng ta có thể suy rộng ra, để nhận biết họ tốt hơn. Ví dụ: Lục Hợp là thần hộ vệ, hòa hợp, nên tính của nó do dự, thiếu quyết đoán, không phân biệt đúng sai, đa sầu đa cảm, tham sống sợ chết. Thái Âm là thần âm phù, nên tính của nó là âm tư, tăm tối, thần bí, che chở, hiếu sinh, yếu mềm. Cửu Thiên đã là thần uy hãn, thì khi đối ứng với nhân sự, tính nó cương liệt hiếu đấu, uy vũ khó khuất phục, khá có tính tình của Mãnh Trương Phi; mà Cửu Thiên đã gọi là Trời, thì khi đoán thiên thời, dị tượng nên xem xét màu sắc của nó. Bạch Hổ hung bạo, Thanh Long nhân từ, tạo thành sự đối chiếu rõ rệt. Các vị thần đều là những trường thông tin mang tính khí riêng, tính cách rõ nét.

 

Cách sắp xếp vị trí các vị thần trên bàn Bát Trá trong Kỳ Môn, các sách ghi chép mỗi nơi mỗi khác. Bởi vì bản thân Kỳ Môn có hai phái là Phi Bàn và Chuyển Bàn, cho nên cách sắp xếp thần cũng có hai cách: xoay chuyển (chuyển bàn) và bay (phi bàn). Trong Kỳ Môn Phi Bàn, còn có thuyết một bàn chín thần. Bởi vì Kỳ Môn tuân theo Thiên Đạo, mà Thiên Đạo lưu chuyển không ngừng, như xuân hạ thu đông kế tiếp nhau không sai chạy. Vì vậy, tác giả cho rằng, thần nên sắp xếp theo kiểu Chuyển Bàn là phù hợp. Ví dụ như sách "Kỳ Môn Pháp Khiếu", vốn là Kỳ Môn Phi Bàn, nhưng cách sắp xếp Bát Thần vẫn tuân theo nguyên tắc của Chuyển Bàn. Đối với phương pháp sắp xếp Bát Thần, kinh điển Kỳ Môn "Yên Ba Điếu Tẩu Phú" viết: "Trước giá trị phù ba vị là Lục Hợp, Thái Âm chi thần ở trước hai vị. Sau một cung là Cửu Thiên, sau hai cung là Cửu Địa." Cách sắp xếp mấy vị thần này đã thành định luận, còn cách sắp xếp các vị thần khác thì mỗi phái có chút khác biệt. Ở đây, tác giả xin nêu ra cách sắp xếp của mình. Cụ thể: Dương Độn sắp xếp xuôi theo chiều thuận – Trực Phù, Câu Trần, Thái Âm, Lục Hợp, Thanh Long, Chu Tước, Cửu Địa, Cửu Thiên; Âm Độn sắp xếp ngược theo chiều nghịch – Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Cửu Địa, Cửu Thiên. Tại sao lại sắp xếp như vậy? Chủ yếu là dựa trên nguyên lý Thái Cực: Dương Độn coi trọng thần Dương, Âm Độn coi trọng thần Âm, đồng thời giúp các vị thần tạo thành một hệ thống hoàn bị. Trong đó, Câu Trần và Đằng Xà hỗ vi phi phục (bay và ẩn), Thanh Long và Bạch Hổ hỗ vi phi phục, Chu Tước và Huyền Vũ hỗ vi phi phục. Khi lựa chọn sử dụng, cần phải cân nhắc thông tin của cả hai. Ví dụ như Thanh Long là vị trí tài lộc, trong Âm Độn thì tìm vị trí của thần Bạch Hổ hoặc cung xung chiếu của nó.

Thần trong Kỳ Môn, bắt nguồn từ tinh tượng, có mối quan hệ mật thiết với Can Chi. Theo "Thần Cơ Chế Địch Thái Bạch Âm Kinh" chép: "Phàm Cửu Thiên chi thần ở Lục Giáp, Chu Tước chi thần ở Lục Bính, Thái Âm chi thần ở Lục Đinh, Câu Trần chi thần ở Lục Ất, Lục Hợp chi thần ở Lục Kỷ, Bạch Hổ chi thần ở Lục Canh, Huyền Vũ chi thần ở Lục Tân, Cửu Địa chi thần ở Lục Quý." Nghĩa là, mỗi Thiên Can đều phối với một vị thần. Sách "Kỳ Môn Độn Giáp Tông Tông Đại Toàn" nói: "Thái Âm ở trên trời tại Đinh, ở dưới đất tại Mão." Lại nói: "Giáp Tuất tuần, Âm tại Đinh Sửu; Giáp Thân tuần, Âm tại Đinh Hợi; Giáp Ngọ tuần, Âm tại Đinh Dậu; Giáp Thìn tuần, Âm tại Đinh Mùi; Giáp Dần tuần, Âm tại Đinh Tỵ." Bởi thế, vị trí của thần trên trời và thần dưới đất tương ứng, nhưng mỗi bên mỗi khác. Thần trên trời phối hợp cố định với Thiên Can, còn thần dưới đất thì không phối hợp cố định với Địa Chi, chỉ đổi phương vị theo Can. Mỗi tuần là một tập đoàn năng lượng, là một giai đoạn đặc định, vì vậy trong mỗi tuần, phương vị Địa Chi mà thần dưới đất cư trú cũng là cố định. Do đó, ắt có hai Địa Chi trong tuần bị "Tuần không" (không có thần nào chủ quản). Lúc đó, các chi bị không đó "lục thần vô chủ", không biết theo đâu, trạng thái trường hỗn loạn, đây chính là cái gọi là "cô vị" (vị trí cô độc) trong Kỳ Môn. Chi xung với cô vị gọi là "hư". Cô hư: cô là ở ngoài dã, hư là ở trong triều. Mười vị thần (Thập Thần) mỗi vị có bản vị riêng, cũng như chủ nhân và căn nhà vậy. Mười vị thần với tư cách là người phát ngôn của Nhị Thập Bát Tú, Can Chi như căn nhà có tác dụng che chở cho thần và truyền dẫn thông tin của thần.

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, thần là sợi dây liên kết các bàn Trời, Đất, Người, là một trong những huyền cơ của thức bàn Kỳ Môn.

Bàn Bát Trá Thần di chuyển theo sự xoay chuyển của Thiên Bàn, Tiểu Trực Phù đi sát theo Đại Trực Phù. Vì vậy, Bát Thần là sự phân loại và định vị thông tin ánh xạ của Cửu Tinh về mặt thiên văn, địa lý, nhân sự. Sau khi Trực Phù tinh được xác định, sự phân công của các tinh còn lại cũng được xác định tương ứng, do Trực Phù tinh quân phân phối. Tiểu Trực Phù với tư cách là thuộc hạ của Đại Trực Phù, dĩ nhiên cũng phải nghe theo Đại Trực Phù. Đại Trực Phù là soái lĩnh dẫn đầu, còn Bát Thần là tờ ủy nhiệm, thư bổ nhiệm. Tuy rằng Cửu Tinh có chức vị, công năng và tính tình riêng, nhưng muốn danh chính ngôn thuận, phát huy đầy đủ vai trò của mình thì vẫn cần phải có một tờ ủy nhiệm. Bằng không, danh không chính thì lời không thuận, vượt quyền can thiệp vào việc ngoài phận sự thì hiệu quả sẽ không tốt. Vì vậy, thông thường, Bát Thần tuy không thể ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của nhân sự, nhưng sẽ ảnh hưởng đến quá trình diễn biến của nhân sự. Bát Thần là cha mẹ của Cửu Tinh, cha mẹ suy yếu thì dù con cái có khỏe mạnh đến đâu, rốt cuộc cũng thiếu hậu lực, trong lòng phát sinh hư ảo. Vì thế, Cửu Tinh là hiển, là Dương; còn Bát Thần là ẩn, là Âm.

Dự đoán Kỳ Môn có một nguyên tắc: "Gấp thì theo Thần, thư thả thì theo Môn". Bát Thần và Bát Môn dĩ nhiên cũng tồn tại mối quan hệ tồn tại nương tựa lẫn nhau. Trong dự đoán, Môn là điểm tham khảo chính để dự đoán nhân sự, còn Thần là vị khách tạm trú trong môn hộ. Mối quan hệ giữa chúng tương đương với quan hệ giữa linh hồn và thể xác. Thần là vật trên trời, dưới đất có các khu vực quản hạt riêng. Môn là chủ thể của nhân sự, tuy nghìn biến vạn hóa nhưng khó rời khỏi tông chỉ của nó, trong mờ mịt vẫn phải chịu sự ràng buộc của Bát Thần. Các cách cục Thần Độn, Nhân Độn, Quỷ Độn trong Cửu Độn của Kỳ Môn đã ẩn chứa huyền cơ này. Trời đất vận chuyển, thời gian trên trời và thời gian dưới đất rõ ràng là có khác biệt. Tác dụng của Thần, cuối cùng vẫn phải thông qua Bát Môn để thể hiện ra. Nói một cách chính xác, thần trên trời không có thuyết vượng suy. Nhưng khi xuống đến mặt đất, thì "phong thủy luân lưu chuyển", linh hồn của Bát Thần cũng có cơ vận suy vượng theo thời vận. Sách "Kỳ Môn Thống Tông" cho rằng, thần có hai loại: Dương Tướng và Âm Thần. Dương Tướng đi theo tinh, Âm Thần đi theo môn. Bởi vì, Trực Phù tinh là quan huyện, Trực Sứ là người phát ngôn của nó ở cõi trần gian, là "hiện quản" cụ thể. Trực Phù với tư cách là quan huyện, công việc ngàn trùng, không thể hỏi đến từng việc, ông ta chỉ hoạch định một số chính sách, còn việc cụ thể phải dựa vào Trực Sứ để hoàn thành. Thường nói "quan huyện không bằng hiện quản", có thể thấy chức quyền của Trực Sứ. Cửu Tinh có thuyết bổ nhiệm, dĩ nhiên Bát Môn cũng có sự phân chia danh mục. Đối với nhân sự, Bát Môn coi trọng hơn thông tin không gian, còn Bát Thần thì coi trọng hơn thông tin thời gian.

Trong thức bàn Kỳ Môn, Cửu Cung tượng trưng cho Đại Địa, là điểm xuất phát và nền tảng của mọi sự chiêm đoán nhân sự. Các Sao, Môn và Bát Thần trong Kỳ Môn đều phải thông qua Cửu Cung để tác động lên nhân sự. Vì vậy, Bát Thần như những sứ giả, truyền tải các loại thông tin giữa Trời, Đất, Người. "Họa phúc vô môn, duy nhân tự chiêu." (Họa phúc không có cửa, chỉ do người tự mời gọi). Vai trò của Bát Thần là cung cấp thông tin để con người tối đa hóa khả năng tránh hung, hướng tới cát.

Bởi vì Bát Thần thuộc tính Âm, nên trong chiêm đoán Kỳ Môn, chúng chỉ đóng vai trò phụ trợ và tăng thế. Muốn xác định tính chất (cát hung), cần phải kết hợp với Sao và Môn để cùng tham khảo. Thần hung gặp cục tốt thì không đủ gây họa, thần cát gặp cục xấu thì trợ giúp cho điều ác. Bởi thế, "Kỳ Môn Bí Quyết Tổng Phú" nói: "Nếu ba điệp mà được Kỳ Môn, như giao long được mưa móc; thấy Lục Hợp gặp sát cục, như hổ sói mọc thêm cánh." Mà "theo Thần" và "theo Môn", thực chất là phải thuận theo Thiên Đạo, hướng đến cát. Ai đang cầm quyền thì đi theo người đó, đến chỗ quý nhân là "quan huyện" hoặc "hiện quản" dĩ nhiên sẽ mượn oai hùm, làm việc được nửa công gấp đôi.

Trong phán đoán Kỳ Môn, vai trò của Thần rất quan trọng. Các cách cục Nhân Độn, Thần Độn, Quỷ Độn trong Cửu Độn của Kỳ Môn đều sử dụng đến Thần: Thái Âm chủ về Nhân, Cửu Thiên là Thần, Cửu Địa là Quỷ. Bát Thần Kỳ Môn có thể đoán việc của ba cõi (Thượng, Trung, Hạ giới). Thần chính là mạch lạc của vũ trụ, là điểm khép mở của huyệt vị nơi chân khí vũ trụ vận hành, là cửa Huyền Tẫn (huyền bí cái nôi). Chỉ khi mở được kênh thông đạo này, mới có thể thong dong trong cơ huyền của Kỳ Môn Độn Giáp, tiến thẳng đến chân lý của Kỳ Môn.


– Bàn thử về thiên văn bối cảnh của việc dùng cục trong Kỳ Môn [Chuyển tiếp]

Việc định cục trong Kỳ Môn, các nhà thuật số xưa nay vẫn mỗi người mỗi tông. Nhiều ý kiến khác nhau, người học khó lòng biết theo ai. Dựa trên cơ sở đó, tác giả mạn phép nêu ra ý kiến nông cạn của mình, mong các bậc cao nhân chỉ bảo.

Kinh Dịch viết: "Ngửa thì xem văn trên trời, cúi thì xét lý dưới đất, bởi thế mới biết được lẽ sáng tối." Bất kỳ một hệ thống thuật số nào cũng đều có bối cảnh thiên văn mà nó dựa vào để sinh thành và phát triển. Nghiên cứu thuật số học, trước hết phải làm rõ bối cảnh thiên văn của các khái niệm thuật số, mới có thể nắm bắt được thực chất của dự đoán thuật số mà vận dụng linh hoạt. Đây cũng chính là con đường để khám phá cách dùng cục trong Kỳ Môn.

Kỳ Môn Độn Giáp là một hệ thống dự đoán toàn ảnh lập thể được xây dựng dựa trên "Bắc Đẩu – Mặt Trời – Trái Đất". Trong dự đoán Kỳ Môn, việc định cục vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác của dự đoán. Mà trong các dòng phái Kỳ Môn, có các phương pháp Siêu Tiếp, Trí Nhuận, Chiết Bổ, còn có phương pháp định cục theo tiết khí của Mao Sơn Đạo Nhân, giữa chúng có nhiều điểm sai khác. Rốt cuộc phương pháp định cục nào là hợp lý nhất? Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt phân tích, bắt đầu từ hàm ý thiên văn của số cục.

Chúng ta biết rằng, Trái Đất vừa quay quanh Mặt Trời (công chuyển), vừa tự quay quanh trục của nó từ Tây sang Đông (tự chuyển). Đông Tây Nam Bắc không phải là bất biến, quỹ đạo chuyển động của Trái Đất (đường xoắn lò xo) quyết định tính tương đối của phương hướng Đông Tây. Trong sự vận động đồng thời của tự chuyển và công chuyển, dưới tác động tổng hợp của các thiên thể vũ trụ lên Trái Đất, vạn vật trên Trái Đất sinh trưởng suy vong, sinh sôi không ngừng. Đứng từ Trái Đất mà xét, căn nguyên sâu xa chính là sự biến đổi của từ trường Trái Đất gây ra sự biến đổi của bốn mùa nóng lạnh. Lạc Thư chính là sự tổng kết ở mức độ cao về quy luật biến đổi của từ trường Trái Đất. Hệ thống dự đoán Kỳ Môn, mô phỏng quá trình vận hành của Trái Đất trong vũ trụ, mô phỏng quy luật phát sinh, phát triển, biến hóa của vạn vật, nhất định phải tuân theo triết lý "đạo pháp tự nhiên" (Đạo bắt chước tự nhiên). Cơ chế số cục của nó được xây dựng trên cơ sở của đồ hình Lạc Thư Cửu Cung, vì vậy nó là sự mô tả chính xác và chi tiết về sự biến đổi của từ trường Trái Đất.

Sự công chuyển của Trái Đất sinh ra khái niệm tiết khí, mà tiết khí lại là then chốt để định cục trong hệ thống Kỳ Môn, do đó chúng ta tiếp tục phân tích nội hàm của tiết khí. Từ góc độ thiên văn, tiết khí được xác định dựa trên sự biến hóa âm dương của Mặt Trời, Mặt Trăng và Bắc Đẩu. Mỗi tháng, Mặt Trời và Mặt Trăng giao hội một lần, gọi là Tiết; Mặt Trời, Mặt Trăng và Bắc Đẩu giao hội một lần, gọi là Khí. Mỗi Tiết, Khí đều biểu thị vị trí và quan hệ của Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất. 24 tiết khí, thực chất là các điểm đột biến, điểm nhạy cảm trên quỹ đạo công chuyển của Trái Đất khi tiếp nhận năng lượng vũ trụ (chủ yếu là bức xạ năng lượng từ Mặt Trời). Bởi vì tốc độ công chuyển của Trái Đất lúc nhanh lúc chậm, điều này dẫn đến độ dài thực tế của mỗi tiết khí không đều nhau: mùa đông một tiết khí không đủ 15 ngày, mùa hè một tiết khí có thể vượt quá 15 ngày. Tiết khí là điểm đánh dấu sự biến đổi bốn mùa của Trái Đất, quyết định sự thay đổi môi trường lớn của từ trường Trái Đất. Trong đó, sự thay đổi của Xuân phân, Thu phân, Hạ chí, Đông chí và Lập xuân, Lập hạ, Lập thu, Lập đông là rõ rệt nhất. Kỳ Môn Độn Giáp lấy bốn lập, hai phân, hai chí làm ranh giới để phân bố Cửu Cung. Đông chí, Tiểu hàn, Đại hàn khởi tại cung 1 (Khảm); Hạ chí, Tiểu thử, Đại thử khởi tại cung 9 (Ly); dùng hai chí để phân chia thuận nghịch. Còn lại mỗi cung phân bố ba tiết khí, theo thứ tự cung mà suy ra. Dùng tiết khí để định giai điệu chính của từ trường Trái Đất – đó chính là số cục.

Dự đoán Kỳ Môn, lấy lịch Can Chi làm hệ tọa độ gốc để xây dựng hệ tọa độ độc đáo của riêng mình. Vì vậy, khái niệm tiếp theo chúng ta nên nghiên cứu là Can Chi và Lục Thập Giáp Tý. Trong lịch Can Chi, trụ năm được xác định từ Lập xuân này đến Lập xuân tiếp theo, trụ tháng được xác định dựa theo tiết khí. Do đó, trụ năm và trụ tháng thực chất được quyết định bởi sự công chuyển của Trái Đất, còn trụ ngày và trụ giờ được quyết định bởi sự tự chuyển của Trái Đất. Bởi vì sự tự chuyển và công chuyển của Trái Đất không thể ăn khớp hoàn hảo, nên lịch Can Chi không có đầy đủ các chức năng của một bộ lịch thông thường, nhưng lại có vai trò đặc biệt như một cây thước chuẩn và một hệ quy chiếu. Lịch Can Chi được quy định dựa trên chu kỳ vận hành phổ biến của các thiên thể. Trong đó, Lục Thập Giáp Tý với tư cách là một tập đoàn năng lượng thông tin độc lập, ký hiệu đại diện của nó chính là Giáp Tý, vì vậy Giáp Tý chứa đựng tất cả thông tin của Lục Thập Hoa Giáp. Kỳ Môn Độn Giáp quy định, trong Lục Thập Giáp Tý của ngày tháng, cứ 5 ngày là một nguyên, gặp ngày Giáp, Kỷ là phù đầu. Phù đầu Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Thượng Nguyên; Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Trung Nguyên; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Hạ Nguyên. Thượng, Trung, Hạ ba nguyên tạo thành một tiết khí hoàn chỉnh. Phù đầu Thượng Nguyên và tiết khí thường không đến cùng một lúc, có khi phù đầu Thượng Nguyên đến trước, gọi là Siêu Thần; tiết khí đến trước, gọi là Tiếp Khí. Đây chính là Siêu Thần Tiếp Khí mà Kỳ Môn Độn Giáp nói tới, nó được đặt ra để giải quyết mâu thuẫn phát sinh giữa tự chuyển và công chuyển của Trái Đất. Siêu Thần Tiếp Khí giống như một sợi dây thun, có tác dụng điều chỉnh giữa số cục và sự biến đổi thực tế của từ trường Trái Đất. Mỗi 5 ngày là một nguyên, tức là tương đương với 60 giờ (một nguyên), trong đó Giáp Tý của giờ là phù đầu. Thực ra, ở đây vẫn sử dụng chu kỳ 60.

Bởi vì số cục dựa trên sự biến đổi của từ trường Trái Đất để thiết lập hệ tọa độ, nó chủ yếu nên được xem xét từ góc độ công chuyển của Trái Đất, cho nên tiêu chuẩn lựa chọn số cục cũng nên lấy tiết khí làm chính. Mỗi khi qua một tiết khí, cần phải đổi một giai điệu chính, cũng như khi thời tiết thay đổi thì trang phục của chúng ta cũng phải thay đổi theo. Sự chuyển giao giữa tiết khí với tiết khí, là sự thay đổi về chất (chất biến); sự biến đổi của ba nguyên trong một tiết khí, là sự thay đổi về lượng (lượng biến). Tiết khí cũng như nhiệm kỳ của chính phủ trong thực tế, quyết định ai sẽ cầm quyền. Còn Thượng, Trung, Hạ ba nguyên là sự điều chỉnh số cục trong nội bộ một tiết khí, cũng như sự điều chỉnh nhân sự trong một nhiệm kỳ chính phủ, trường tổng thể cơ bản không thay đổi.

Trong sự luân chuyển của các tiết khí, sự thay đổi giữa bốn lập, hai phân, hai chí là lớn hơn cả, định cục theo số của Cửu Cung; còn lại thì dựa theo nguyên tắc "Dương tiến một, Âm lùi một" để đổi cục. Nhìn như vậy, thuyết Trí Nhuận (đặt thêm tháng nhuận) e rằng không đủ làm căn cứ. Còn việc dùng phù đầu của trụ ngày đến hay chưa làm tiêu chuẩn để dùng cục, tác giả cho rằng cũng không hợp lý lắm, bởi vì độ dài mỗi tiết khí không phải là cố định, mùa thu mà thực hành cái lệ của mùa hè, há chẳng trái với lẽ thường ư? Hệ thống Kỳ Môn là hệ thống mô phỏng sự vận hành của thời không vũ trụ, dĩ nhiên phải phù hợp với Thiên Đạo. So sánh với nhau, tuy rằng bản thân cục Chiết Bổ cũng có sai số nhất định (sai số khớp), nhưng tác giả cho rằng cục Chiết Bổ hợp lý hơn phái Trí Nhuận một chút. Nguyên tắc định cục của Mao Sơn Đạo Nhân, lấy sự đến của tiết khí làm tiêu chuẩn, phá vỡ quy định về Thượng, Trung, Hạ nguyên của phù đầu ngày tháng, dĩ nhiên cũng có đạo lý nhất định, nhưng vì cần có bộ lịch chuyên biệt làm căn cứ, nên đối với người mới học thì không thích hợp lắm. Phải trái thế nào, còn cần có những nghiên cứu sâu hơn. Bởi vì mỗi loại hình thuật số đều là sự toàn ảnh tương ứng với một hệ thống phân chia nào đó của thời không, là sự mô phỏng quy luật vận hành của thời không, vì vậy tác giả cho rằng nên phân tích từ góc độ thiên văn sẽ hợp lý hơn.