KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 27

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 27

 

  • Nạp Âm Phân Nhật Lệ

  • Thập Nhị Thần Ngũ Âm Sở Chủ

  • Ngũ Âm Phong Động Chiêm

  • Mãnh Tướng Khí

  • Phục Binh Khí

  • Âm Mưu Khí

  • Quân Thắng Khí

  • Bại Khí

  • Ngũ Âm Phong


NẠP ÂM PHÂN NHẬT LỆ

  • Dương Thương (陽商): Giáp Tý, Giáp Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Dần, Canh Thìn, Canh Tuất.

  • Âm Thương (陰商): Ất Sửu, Ất Mùi, Quý Mão, Quý Dậu, Tân Tỵ, Tân Hợi.

  • Dương Chinh (陽徵): Bính Dần, Bính Thân, Mậu Tý, Mậu Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Tuất.

  • Âm Chinh (陰徵): Đinh Mão, Đinh Dậu, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi, Ất Tỵ, Ất Hợi.

  • Dương Giác (陽角): Mậu Thìn, Mậu Tuất, Canh Dần, Canh Thân, Nhâm Tý, Nhâm Ngọ.

  • Âm Giác (陰角): Kỷ Tỵ, Kỷ Hợi, Tân Mão, Tân Dậu, Quý Sửu, Quý Mùi.

  • Dương Cung (陽宮): Canh Tý, Canh Ngọ, Mậu Dần, Mậu Thân, Bính Thìn, Bính Tuất.

  • Âm Cung (陰宮): Tân Sửu, Tân Mùi, Kỷ Mão, Kỷ Dậu, Đinh Tỵ, Đinh Hợi.

  • Dương Vũ (陽羽): Giáp Dần, Giáp Thân, Nhâm Thìn, Nhâm Tuất, Bính Tý, Bính Ngọ.

  • Âm Vũ (陰羽): Ất Mão, Ất Dậu, Quý Tỵ, Quý Hợi, Đinh Sửu, Đinh Mùi.


THẬP NHỊ THẦN NGŨ ÂM SỞ CHỦ

  • : Dương Cung, thuộc Thổ, chủ về vua chúa.

  • Sửu, Dần: Dương Chinh, thuộc Hỏa, chủ về hạn hán, cung điện, miếu mạo, tranh chấp miệng lưỡi.

  • Mão: Dương Vũ, thuộc Thủy, chủ về mưa mù, sương mù.

  • Thìn: Dương Thương, thuộc Kim, chủ về tướng quân, lại sĩ.

  • Tỵ: Dương Giác, thuộc Mộc, chủ về bệnh tật, ưu hoạn.

  • Ngọ: Âm Cung, thuộc Thổ, chủ về nữ hậu, hoàng hậu.

  • Mùi, Thân: Âm Chinh, thuộc Hỏa, chủ về thứ dân, sĩ đồ, văn thư, sắc chỉ, hạn hán, hỏa hoạn, bưu dịch.

  • Dậu: Âm Vũ, thuộc Thủy, chủ về sương giá, tuyết, sấm sét, âm u, cầu vồng.

  • Tuất: Âm Thương, thuộc Kim, chủ về tiểu tướng, binh khí.

  • Hợi: Âm Giác, thuộc Mộc, chủ về tử tang, khóc than.

Phàm: Cung là vua, Thương là bầy tôi, con cái, đầy tớ, Giác là dân, là bệnh tật, tử tang, Chinh là việc, là tông miếu, quỷ thần, Vũ là vật, là vợ, tiền của, là biên giới.

Ví dụ: Ngày Tý, gió từ phương Tý thổi đến, là Cung động, chủ về việc của người đứng đầu, vua chúa xuất hành, ban bố mệnh lệnh. Gió mạnh gấp thì việc cấp bách, gió nhẹ nhàng thì việc vui mừng.


NGŨ ÂM PHONG ĐỘNG CHIÊM

Cung nhật (ngày thuộc Cung)

  • Gió từ Tý: núi non sụp lở, vua ra ngoài, động đất, hạn hán, có công việc đất đai.

  • Gió từ Ngọ: hạn hán, động đất, hậu xuất hành.

  • Thêm giờ Tý Ngọ (trùng cung): vua và đại thần ra đi, mưa gió thất thường.

  • Gió từ Sửu, Dần, Mùi, Thân: Cung động Chinh, có hỏa hoạn, đất có báu vật, xuất binh.

  • Thêm giờ Chinh (trùng Chinh): có nghĩa binh, chiếu lệnh (gọi là nghĩa phong).

  • Gió từ Mão Dậu: Thương động Vũ, mưa lớn, đại thần bỏ chạy, hạn hán.

  • Thêm giờ Vũ (trùng Vũ): có đại xá, ngũ cốc thành tựu.

  • Gió từ Thìn Tuất: Cung động Thương, có binh hành.

  • Thêm giờ Thìn Tuất (trùng Thương): có tai ương về binh.

  • Gió từ Tỵ Hợi: Cung động Giác, chủ chiến tranh, vua lo, khách binh thương, có tang.

  • Thêm giờ Tỵ Hợi (trùng Giác): vua không thịnh.

Chinh nhật (ngày thuộc Chinh)

  • Gió từ Dương Cung (Tý): hạn hán, lửa đất nổi lên, cung miếu bị cháy.

  • Gió từ Âm Cung (Ngọ): thái tử bệnh.

  • Thêm trùng Chinh: lửa trên đất cháy.

  • Gió từ Dương Chinh (Dần): vua sợ hãi, hỏa hoạn, thú vào cắn phá, cung miếu cháy, vua chúa lo, đại hạn.

  • Gió từ Dương Chinh: lục súc chết nhiều.

  • Gió từ Dương Thương (Thìn): binh cấp bách, vua tự thủ 7 ngày, xa 70 ngày.

  • Gió từ Âm Thương (Tuất): có chiến tranh trong 1 ngày.

  • Gió từ Dương Thương: bầy tôi mạnh mà chết, vua bị tai ương (dùng ngày để chiếm quốc gia).

  • Gió từ Dương Vũ (Mão): bốn phương lân bang có việc, có bảo ngọc, sấm sét, sương giá mưa đá, bầy tôi chư hầu lo, nhiều hỏa hoạn, giặc ngoài đến.

  • Gió từ Âm Vũ (Dậu): báu vật xuất hiện, sấm sét, giặc ngoài có việc.

  • Gió từ Dương Giác (Thìn): binh tang.

  • Gió từ Âm Giác (Tuất): biên giới kinh động, binh lửa, mùa xuân có tang.

Vũ nhật (ngày thuộc Vũ)

  • Gió từ Dương Cung (Tý): của cải tụ họp, vua có mệnh lệnh, biên binh, công việc đất đai hưng khởi, tướng nhận mệnh, có tập hội, sấm sét.

  • Gió từ Âm Cung (Ngọ): băng giá mưa đá lạnh làm hại vật, có công việc đất đai.

  • Gió từ Dương Chinh (Dần): có binh, có lệnh cấp bách, bầy tôi lo, quan ải đường sá trở ngại.

  • Gió từ Âm Chinh (Thân): biên thần có việc (Vũ), đại tang hội, lạnh, tuyết, mưa đá, hẹn 5 ngày hoặc 50 ngày.

  • Gió từ phương Nam: mưa lớn, nước lo, người bệnh.

  • Gió từ phương Bắc: giặc tụ tập dưới nước.

  • Gió từ Dương Vũ (Mão): ứng vào ban ngày.

  • Gió từ Âm Vũ (Dậu): ứng vào ban đêm.

  • Gió từ Thương (Thân, Dậu): binh vây không đánh, biên giới cấp bách, quan ải trở ngại, mưa lớn, quân đội các bên đều bất lợi.

Thương nhật (ngày thuộc Thương)

  • Gió từ Dương Cung (Tý): thái tử kiêng sợ, bầy tôi có việc gấp, binh chủ mắc bệnh.

  • Gió từ Âm Cung (Ngọ): con thứ (thứ tử) lo, có biến cấp bách, binh từ Bắc nổi lên.

  • Gió từ Chinh (Dần, Thân): binh vây không đánh, lại hạn hán.

  • Thêm trùng Chinh: đại hạn.

  • Gió từ Dương Thương (Thìn): người mặc áo trắng tụ tập, quan ải đóng, đại tướng chết, xuất hành kiêng ấp ngoài có binh, có giặc nhỏ, binh ở Tây, vua lo.

  • Gió từ Dương Thương: có tai ương, thóc đắt, có binh trong 7 hoặc 70 ngày, có lệnh cấp bách.

  • Gió từ Dương Giác (Dần): binh đột ngột, lệnh cấp bách.

  • Gió từ Âm Giác (Thân): tang, công việc đất đai.

Giác nhật (ngày thuộc Giác)

  • Gió từ Dương Cung (Tý): binh trung hưng, vua lo, nước bốn bề đóng kín.

  • Gió từ Âm Cung (Ngọ): người quý hiển bệnh, tang, công việc đất đai.

  • Gió từ Chinh (Dần, Thân): đại thần bị tai, lửa, trùng, ngũ cốc đắt.

  • Gió từ Vũ (Mão, Dậu): công việc đất đai hưng khởi, mưa lớn, biên binh, người nhiều bệnh miệng lưỡi, giặc ngoài cướp bóc.

  • Gió từ Thương (Thìn, Tuất): có binh cấp bách.

  • Gió từ Dương Giác (Thìn): biên binh nổi lên, vua lo, giặc đến, chiến tranh nhiều tử vong.

  • Gió từ Âm Giác (Tuất): đại tang.

  • Thêm trùng Giác: chiến tranh, giặc nổi dân đói, nhiều người chết.

Cung là vua, các còn lại đều là đại thần, quan lệnh trưởng, bá quan, tiểu dân. Dưới đây dùng địa chi để chiếm quốc gia.

Phàm gió nổi lên đúng giờ, đúng ngày, đúng phương vị:

  • Chinh nhiều là lửa,

  • Vũ nhiều là nước,

  • Thương nhiều là binh, là thóc đắt,

  • Giác nhiều là bệnh,

  • Cung nhiều là tốt.

  • Khi cây rung lá rụng, bụi bay, cành gãy thì mới chiếm.

  • Dùng tháng, vượng, tướng, nhật thần.

  • Kỳ hạn chiếm theo tổng số Can Chi (Cung 10, Chinh 30, Vũ 50, Thương 70, Giác 90). Ví dụ Giáp Tý 18 số, Ất Sửu 16 số...

  • Lại, ngày là quan lệnh trưởng, giờ là dân.

  • Nếu Đức và Hình cùng lâm, lấy cát hung của gió mà chiếm.

  • Thường lấy ngày 20 tháng Giêng, 14 tháng Năm và tháng Mười một, để quan sát mây khí nơi Thiên Môn (cung Càn). Màu xanh, đen, đỏ, trắng đều là điềm trong ngoài không thông tâm.

Mây khí nói chung:

  • Mây tía đỏ, như khói chẳng phải khói, như mây chẳng phải mây, u uất phân phân, tiêu sác luân khuẩn, gọi là Hạ Vân (mây mùa hạ), khí hỷ.

  • Mây ngũ sắc, nhuận hòa hoãn, thấy trên thành là Cảnh Vân, điềm thái bình, một tên khanh vân.

  • Gió lớn sắp đến, mây như đống rơm rạ.

  • Mưa lớn sắp đến, mây rất nặng và nhuận.

  • Lúc mặt trời lặn, mây xanh từ Đông sang Tây dài đến chân trời, nếu không mưa thì trong ba năm sẽ có tang quân.

  • Có tang thì mây trắng từ Nam Bắc như hàng trận.

  • Mây đỏ như máu thì máu chảy.

  • Mây đen như đường thì có đại xá.

  • Mây như rồng bay thì nước lớn tràn vào.

  • Khí đỏ như bóng người, trong ba ngày bầy tôi phản.

  • Mây đủ năm sắc mà không mưa, có hiền nhân ẩn dật.

  • Khí đỏ vàng bốn bề, liên tiếp ngày đêm chiếu sáng đất, đại thần buông thả.

  • Màu đỏ che mặt trời như máu, đại hạn dân đói.

  • Mây đen biến đổi di chuyển, giặc ngoại khinh Trung Quốc.

  • Mây như tấm vải, Đông Tây Nam Bắc trên ấp, có biến (dê biến?).

  • Mây đen như đầu trâu, rồng rắn biến hóa, chủ bệnh, lưu vong, không tốt cho tân nương, cũng là Địch xâm phạm Hoa.

Khí chiến tranh:

  • Mây đỏ như lọng che trên dê, trong nghìn dặm chiến tranh tốt, ngoài xa lo.

  • Mây đỏ như chó vào trại, đại chiến chảy máu.

  • Mây đỏ xoay mà không động, hoặc như rắn đỏ, như thuyền úp, như cày bừa, hoặc khí trắng như xe vào Bắc Đẩu rồi di chuyển, dưới chảy máu, tướng chết.

  • Hoặc mây trên trắng như cầu vồng mà giao nhau, hoặc bên mặt trời có quyết ngọc, cầu vồng trắng năm sắc, đều là khí chiến tranh.

Ngày xuất quân, trời tối mờ, mây khí âm trầm, ắt có chiến tranh. Nếu trời xanh ấm áp, gió bụi chẳng động, không thấy địch, cũng không đánh.


MÃNH TƯỚNG KHÍ

Phàm khí lên đến trời, dưới có danh tướng. Bào Phác Tử nói: Khí mãnh tướng, như thế lửa, như cương giương cung, hoặc trắng như bột phấn, như kho lúa, đen như rừng núi tre gỗ, hoặc tía đen như cửa trên lầu, hoặc lên hoặc xuống đỏ như cờ phướn, hoặc khí phát ra từ từ như mây mà biến thành hình núi, hoặc mây khí như hình giao (giao long), như rồng, như hổ trong sát khí, hoặc trong trắng mà ngoài khí đỏ bao quanh, hoặc trong đen mà khí đỏ ở phía trước, hoặc bừng bừng như hình khói lửa, đều là hùng dũng, mưu sâu, không thể đương nổi. Nếu ở trên quân ta thì nên tốc chiến.


PHỤC BINH KHÍ

Phàm hai quân giao chiến, trước sau trái phải có khí đỏ, tức có phục binh. Khí phân phân, miên man nối tiếp nhau, thì phục binh xe ngựa. Như có chiếu rơm cỏ, thì phục ít binh. Khí trắng phân vân, như hình lầu, thì phục vạn binh. Trên quân khí đen dương dương, mà khí đỏ ở giữa, hoặc như mây đen có chày đỏ, hoặc chim trong mây đỏ, người trong mây đen, hoặc như phướn tiết trong mây đen, hoặc như núi non ở ngoài, hoặc trước đen mà mây trắng sau, đều là khí phục binh.


ÂM MƯU KHÍ

Phàm khí trắng đi thành đàn, hoặc như bầy cỏ đi quanh quẩn, kết trận mà đến, hoặc mặt trời mặt trăng mờ mịt không sáng, thì binh sĩ nội loạn và binh phát từ trong. Hoặc đen như phướn tiết mà ra khỏi trại, ắt có trá mưu. Hoặc đen mà xe cờ lâm trận ta, ắt có loạn thần, mưu với giặc. Ngày âm (u ám) mà đêm trăng sáng, vua mưu thần; đêm âm mà ngày trời sáng, thần mưu vua. Hoặc ngày đêm âm u, hoặc mười ngày liền âm u, không phải tháng đông mà gió nổi loạn, thì vua tôi gian mưu, cũng là hai nước mưu hại nhau. Khí đen lưu hành, xen lẫn ngũ sắc, lâm trên quân ta, thì địch và thần mưu, tự bại chết.

Phàm địch binh bất ngờ ập đến, ắt có mây đỏ rực rỡ và vương tử còn thấy, hoặc đỏ như cờ phướn, hoặc chỉ thấy mây đỏ, như cầu vồng, như chó, như thuyền úp, và mây trắng khắp trời như tấm vải, trải qua Sửu Mùi, hoặc rộng 6,7 trượng, Đông Tây dài đến trời, trên dưới khởi binh, màu đỏ thì càng mạnh, màu xanh thì đại tang. Lại trắng như dây bầu, như áo tiên, nghìn vạn kết chùm, ngừng lại rồi lại hưng khởi, đến 8,9 trượng, liên tục không dứt, nghìn dặm binh đến. Hoặc cầu vồng đỏ như chó, bốn con tụ lại, như người đi không dứt, hoặc như hỏa hổ, hoặc trên có mây, dưới có mưa móc, giữa trời xuống vào quân ta, hoặc mây đen từ địch đến bao phủ quân ta, có mây như người mà đỏ lâm thành ấp, mà bốn phía nhìn không thấy mây, chỉ thấy mây nửa trời nổi lên, hoặc như người Hồ xếp trận, hoặc như cầm khiên, như chày đỏ, như mây lửa, như người cầm tiết, hoặc như cờ phướn giương ra, đều chủ địch binh đột ngột đến tập kích ta.

Trước trận màu đen, có âm mưu. Màu xanh, binh phản. Màu đỏ, binh đói. Màu vàng, mau chóng đi, nên đánh.


QUÂN THẮNG KHÍ

Khí quân thắng: trước đỏ sau trắng, mây như cờ phướn, vẫy chỉ về phía địch. Hoặc khí như đê đập, trước sau sát đất. Hoặc như vành nhật nguyệt sáng rực, như chim bay đến mà cao. Hoặc đỏ trắng nối nhau, như gà chọi trong mây mù, hoặc như ba tấm lụa, trước rộng sau lớn, hoặc như một tấm lụa, đều không thể thắng nổi.

Lại như năm ngựa cúi đuôi, mà đỏ như chim trong khí, như chày đỏ, trong mây trắng như người, trong mây đen như người cầm rìu chỉa về phía trước, như rắn ngóc đầu chỉa về phía trước, như người dắt trâu, như thuyền úp, như đê nhỏ, như rừng cây, như hổ phục báo rình, như mộc, như lầu, như đỏ bao quanh. Hoặc đỏ vàng liên kết, trời như lọng hoa độc lập, hoặc mây ngũ sắc như kéo tơ, như trước trận nhọn, đều là khí thịnh vượng.


BẠI KHÍ

Trên trại khí tù, tù, phế, khô tán, hoặc như gan ngựa, như tro tàn, như xe hỏng không chạy nổi, như trâu nằm, như nhà đổ, đều là bại khí. Hoặc khí như cờ xí rách, tối tăm, cơm chưa kịp ăn, cơm chưa kịp chín, thì mau chóng rời đi. Hoặc đen như núi lở, sao Doanh đầu rơi xuống đồn lũy. Hoặc mây trắng như bầy chim nổi lên, chạy vào trại, kết nối, trăm dặm không dứt, chốc lát biến mất, chủ nước khác đến hàng. Khí như bầy chim bay loạn, như bột, như bụi, như khói cỏ cháy, trước nhọn sau bại, như cỏ khô quay, thì mau đánh.

Mây như lọng úp, như cá úp lâm trên quân, như bầy cừu, bầy lợn trong khí, ở ngoài mười dặm, nhìn xa trên quân, khí nhiều mà trước trắng sau xanh, hoặc sao Cơ lâm trên trại, như ngựa trong khí dần dần vào trại, như rắn chỉ uốn khúc, như bầy cáo kinh chạy, hoặc ánh sáng đỏ từ trời chảy xuống, như khí phát ra liên tiếp đêm chiếu sáng người, hoặc như cuốn chiếu, như tro, như người nằm không tay không chân, như chim bay loạn, như thuyền úp, xe lọng, như đê vỡ, như mù bắt đầu nổi lên, tụ tán xuất một. Như mười lăm, năm mươi, người khéo tay đối diện nhau, lại khí ra mà nửa đứt thì tướng bại, khí dần hết thì tướng chạy, đều là tướng bại chạy trốn.

Thành trì không thể đánh:

  • Phàm mây xanh vàng lâm thành, hoặc mây trắng từ trong thành ra hướng Nam Bắc, hoặc khí trắng ra mà khí xanh vào phía Bắc, qua lại bốn phương xa.

  • Hoặc khí đỏ như chày hướng ra ngoài, có mây đen như sao xuất hiện, gọi là Tinh Tinh.

  • Hoặc vành nhật nguyệt có khí xanh đỏ từ trong bốn phía ra.

  • Hoặc mù che thành mà không vào.

  • Hoặc trên thành khí trắng như hình cờ phướn mây.

  • Hoặc như lụa đỏ, hoặc mây xanh vào, như đầu trâu húc nghìn người.

  • Hoặc khí như khói lửa, hoặc từ trong ra mà vào quân ta.

  • Hoặc như hai rắn, hoặc mây chia ra mưa tuyết.

  • Hoặc mây khắc ngày, như ngày Giáp Ất lúc bình minh có mây trắng, ngày Bính Đinh có mây đen, v.v...

  • Hoặc khi vây thành, sấm sét mưa kéo dài hơn mười ngày.

  • Lại trên thành khí đầy người không thấy, đều là không thể đánh.

Thành có thể bị hạ:

  • Phàm khí đỏ trên thành, mà khí vàng bốn mặt bao quanh, tướng chết thành hàng.

  • Khí trong thành tụ lại, như lầu mà xuất hiện ra bên ngoài.

  • Lại cầu vồng đỏ từ ngoài vào, ba ngày có thể bị thương.

  • Nhật nguyệt trùng vòng mà cầu vồng trắng xuyên qua, và mù mờ vào thành, khí trắng bao quanh rồi vào sau, nơi nào vào thì đánh nơi đó.

  • Khí đỏ đen như da cáo trải qua và chính đỏ, hoặc như trống mái, trống trống (hùng thư) lâm thành.

  • Hoặc khí đỏ như đầu người, như chim bay, như xe hỏng, khí ra hướng Đông Nam thì không thể đánh.

  • Khí hướng Tây Bắc, hoặc mây như hình người năm, như ba trâu, như rắn trắng chỉ thành, hoặc khí xanh, hoặc khí trên đỏ dưới trắng, và mặt trời không sáng, có gió Tây Nam đến, ắt có thể hạ được.

  • Khí trong thành ra lại vào, người muốn trốn.

Phàm khí của hai quân giao chiến, lấy ta ở phía Tây, giặc ở phía Đông làm ví dụ:

  • Phía Tây dày, phía Đông mỏng;

  • Phía Tây dài, phía Đông ngắn;

  • Phía Tây cao, phía Đông thấp;

  • Phía Tây nhuận, phía Đông khô; thì quân ta thắng. Ngược lại thì bại.

  • Khí yên thì quân yên, khí tán thì quân loạn.

  • Khí ở phương Nam thì quân cũng ở phương Nam, khí ở phương Bắc thì quân cũng ở phương Bắc.

  • Đối địch có lửa đến, rất sớm.

  • Bóng râm che người, lấp hào, đại tặc sắp đến.

  • Mây như giao long, khí thắng.

  • Mây như thỏ trống, như gà trống thì vong.

  • Ngày Giáp Ất, phương Đông khí xanh, khí thịnh. Khí vàng, khí tử.

  • Lúc mới xuất quân, khí đỏ theo mặt trời mọc, ở lại có lo; theo mặt trời lặn, ngoài báo nguy, thu quân đừng đi.

Kinh Phòng nói: "Khí đỏ đi theo, khí đen đi theo sau, khí đỏ tắt thì bắt được giặc; có đỏ không đen thì không bắt được giặc. Bị vây cũng thế. Trên quan ải khí uất uất như lửa sáng, um tùm, thì có cứu viện đến. Xuất quân, mây theo sau, theo đó mà đánh thì thắng; ngược lại, nên gấp rút đóng quân cố thủ."


NGŨ ÂM PHONG

Cung thanh phong (tiếng gió ầm ầm, như sấm trống, như trâu bò kêu trong hang), làm đổ nhà gãy cây, chủ đất động, vua phiền lòng, ra lệnh gấp, quý thần phụ trợ, nghi ngờ, binh khởi không yên. Ngày đó gió từ Cung đến: núi bật, bờ lở, vua ra, đất nứt. Gió từ Giác: châu chấu phá hại ngũ cốc. Gió từ Thương: mưa lớn, mưa rào. Gió từ Chinh: trùng, lang sói làm hại. Gió từ Vũ: mưa lớn, rét, đại thần hung.

Thương thanh phong (tiếng gió như đàn cừu lìa đàn, như gõ khánh chuông, như cánh chim bay tụ, như nước chảy rưng rức, tiếng lạ hoặc), làm đổ nhà gãy cây, chủ trong cung có binh khởi, đánh nhau, lệnh cấp bách, quan ải đóng, hàng hóa đắt. Ngày đó gió từ Thương đến: người mặc áo trắng tụ tập, quan ải đóng, đại tướng lui, ngoại binh vào. Gió từ Giác: nước có tang, binh hành. Gió từ Cung: nước có lo, tướng ở ngoài binh không đánh. Gió từ Chinh: vua ra lệnh hành binh, chủ hung. Gió từ Vũ: mưa lớn đến, ngoại binh giải tán.

Giác thanh phong (tiếng gió như nghìn người cùng hò hét, hoặc như hợp, như nghìn người ca hát, làm người bi ai, như gió hót, chim gõ kiến trèo cây), làm đổ nhà gãy cây, có binh cấp bách, đánh vào thành ấp. Gió từ Thương: có binh bạo, quân lệnh, trong 

cung người quý bệnh, việc đất đai hưng khởi. Gió từ Vũ: dân ngoài đồng đói. Gió từ Chinh: tơ đắt, có lửa cháy. Gió từ Cung: chẳng lành. Gió từ Giác: chẳng tốt.

Chinh thanh phong (tiếng gió như ngựa phi, lửa cháy, như tiếng trói lợn kêu), làm đổ nhà, đến hỏa tai, tai dịch, việc gấp, binh hành. Ngày đó gió từ Chinh đến: lửa cháy, vua lo. Gió từ Giác: hỏa tai, công việc đất đai, đại hạn. Gió từ Cung: tang khóc, chùa miếu hỏa hoạn. Gió từ Thương: có đánh nhau. Gió từ Vũ: báu vật ra, nước nhiều sấm sét, có sứ giả.

Vũ thanh phong (tiếng gió như đánh trống ấm, như hươu non kêu, như nước dậy sóng, khí kích thích), làm đổ nhà gãy cây, binh khởi, hàng hóa đắt. Ngày đó gió từ Vũ đến: mưa đá, sương giá hại. Gió từ Thương: đánh nhau, tướng lo. Gió từ Cung: bão, mưa lớn, hàn khí hại vật. Gió từ Chinh: thần dân có lo. Gió từ Vũ: vây thành không đi.

Đây là sách Phong Giác (góc gió).

cung người quý bệnh, việc đất đai hưng khởi. Gió từ Vũ: dân ngoài đồng đói. Gió từ Chinh: tơ đắt, có lửa cháy. Gió từ Cung: chẳng lành. Gió từ Giác: chẳng tốt.