KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 23
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN - QUYỂN 23
LUẬN VỀ THẬP PHƯƠNG TINH TƯỚNG SINH KHẮC
LUẬN VỀ THẬP PHƯƠNG TINH TƯỚNG SINH KHẮC
KỲ MÔN CHƯỢNG TRUNG KIM YẾU QUYẾT
ĐỒ CHƯỞNG THƯỢNG PHI CỬU CUNG
BIÊN CỬU CUNG PHI CHƯỞNG ĐỒ
SIÊU THẦN TIẾP KHÍ TRÍ NHUẬN QUYẾT
LỤC GIÁP LỢI DỤNG
LUẬN VỀ THẬP PHƯƠNG TINH TƯỚNG SINH KHẮC
Thiên Nguyên tức là Nhân Thời Nguyên, mười hai phương vị người ngồi bên,
Nguyệt Tướng tìm giờ theo thứ tự định, Quý Nhân cần xét Nhật Can truyền.
Thiên Nguyên: quân, vua, cha, chồng, thầy, tôn trưởng, thượng cấp, da đầu.
Quý Thần: quan lộc, tâm chủ, quần lại, tài ngoại, ngực, rốn, rún.
Nguyệt Tướng: thân thích, anh em, nội tài, vợ, bụng, eo, đùi.
Hạ phương: tiểu bối, tôi tớ, dân, vợ lẽ, cháu, chân, đồ vật nhỏ.
Can khắc Phương là vợ tì động, quan tài tổn chiết, hạ bệ mệt,
Bên ngoài đòi hỏi nhiều môi lưỡi, người trong nhà phòng ngừa không vui.
Can khắc Thần là quan lộc động, quan tài đều được rất thích nghi,
Người ngoài đòi hỏi nhiều mưu hại, chợ búa không lợi, quan tán không chậm.
Can khắc Tướng là tài nội động, cầu tài được nhiều, vợ nhiều bệnh,
Lại biết nhà cửa, cột kèo quyền, lấy vốn cầu lời nhiều tiến lợi.
Can sinh Thần vị: thân nhân đến thăm, lại có người ngoài gửi đồ nhiều,
Vật sắc, quan phủ dùng, mượn qua mượn lại trong số phỏng theo.
Can sinh Nguyệt Tướng: nội tài hưng, người gửi đồ đến theo loại phân,
Nội ngoại anh em hòa khí hợp, cần biết từ phụ yêu con cháu.
Can sinh Phương vị: trạch ân nên, che chở con, thêm cháu, tôi tớ tiền,
Chiếm sản mới biết nhiều dễ nuôi, rất mực sủng ái tự trời đến.
Thần khắc Can là quan lộc động, sĩ đáng lộc vị, mong tài không có,
Người thường quan sự được quan vật, hầu bệnh tài đến mất lặng lẽ.
Thần khắc Tướng là nội tặc sinh, câu liên trộm cướp, cấu kết sâu,
Tổn tài, bé nhỏ gặp tai bệnh, cầu mong không thành, chiếm bệnh nghiêng.
Thần khắc Phương là cách động hưng, cầu tài chậm được, việc chậm thành,
Chủ nhân giận phát, tai tôi tớ, chiếm bệnh đau rốn, chân đi khập khiễng.
Thần sinh Can có quan siêu tiến, người gửi đồ đến, quan có thể thấy,
Tế tự đúng thời được hưởng thành, tìm người nhất định đến gặp mặt.
Thần sinh Tướng là hôn nhân hợp, quà tặng đồ quý nhất đúng thời,
Cầu mong mưu đồ đều toại ý, người đi nhất định đến, chớ sinh nghi.
Thần sinh Phương vị: cách thần động, uyển chuyển mưu đồ mới mong thành,
Hòa khí chủ nhà ơn trên xuống, tôi tớ hết lòng, nghiệp sinh sôi.
Tướng khắc Can là cách hỷ bính, hoan hỉ việc vui do trời định,
Cầu tài trở ngại việc khó thành, ắt đợi thiên lộc mới hợp bính.
Tướng khắc Thần là tài động hưng, cầu tài được lợi, vợ mắc bệnh,
Cầu quan khó được, bệnh khó chữa, ra ngoài đồ vật cuối tổn ứng.
Tướng khắc Phương là ưu lự hưng, ưu lự bệnh tật chân khó đi,
Tai bé, tài tớ nhiều thương tổn, tranh tụng khó thắng, trạch chẳng yên.
Tướng sinh Can là bình tinh cát, nội ngoại hòa hợp, vợ chính thất,
Tài sản hưng long, con hiếu thân, cần biết người trạch hai yên ổn.
Tướng sinh Thần là hòa hợp tinh, trăm việc đều hòa, phúc đến vời,
Con hiếu, vợ hiền, nhà cửa thái, thí tài phổ tế, đường cầu bình.
Tướng sinh Phương là cát thần khóa, tài bạch ngoài đến có thân trợ,
Hỷ khánh con cháu nhiều túy xuất, cần biết trời phù, gia đình hòa.
Phương khắc Can là quan quỷ động, quan hanh, ra ngoài kiện lôi người,
Tai ưu, miệng lưỡi, oán thù tổn, tự ái, đào tị, Can thượng hình.
Phương khắc Thần là quan lộc động, cầu quan được lộc ắt thành danh,
Tổn thần, tiến cử không đề bạt, hình ngục liên tiếp gặp quan phủ giận.
Phương khắc Tướng là ngoại tặc lộ, hao tài, vợ bé sinh tai độc,
Cần biết người dục xuất vu gia, mất đồ vì tìm lại được vật.
Phương sinh Thần là hỷ hòa tinh, uyển chuyển mưu đồ đều xứng tình,
Tôi tớ hết lòng, trung ích chủ, cần biết nền vượng, nhà cập tân.
Phương sinh Can là trung hiếu tinh, cha mẹ, vua, thầy đều hân hỉ,
Ấn thụ trích bạt nhiều tiến ích, cần biết tế tự, phúc lành vời.
Phương sinh Can là Nhâm tinh đắc, địa tải cát tường hỷ sự lâm,
Hòa hợp hôn nhân mưu đồ toại, gia đình hòa khí, nghiệp canh tân.
Trên thuận, dưới sinh: trời cùng khánh, người ngoài gửi đồ, tiến tài ứng,
Thêm con, trăm việc đều hòa hợp, người đi đến lập tức, sản xuất hưng.
Dưới thuận, trên sinh: xuất hành nên, buôn bán được lợi xứng tâm hoài,
Cầu quan được cử, nhận ơn trích, tin vui trong nhà truyền báo đến.
Trên thuận khắc (thời ngoại khắc nội): ngoài người cấu trá sinh mưu hại,
Giành tranh tài phá, trên làm nhục dưới, bệnh chân, nền móng nhiều bại thoái.
Dưới thuận khắc tôn (nội khắc ngoại): bé nhỏ nghịch ngợm quan sự hoại,
Câu liên tài mất, lưỡi môi nhiều, nôn mửa bệnh tai, vô phụ mẫu.
Can Thần tỷ (bỉ) là cận mưu thân, chẳng phạm thân thích, chẳng lụy người.
Thần Tướng tỷ là thân thuộc hảo, mưu vi làm việc nhờ tông thân.
Tướng Phương tỷ là bằng hữu, tiến thoái tác vi bằng hữu thành.
Can Thương tỷ là huynh đệ loại, việc mưu chẳng thật tỷ hành (hành như vai).
Toàn tỷ thân thuộc chồng chéo liên, dưới vượt trên, tà đoạt chính,
Trên dưới hướng về không phân biệt, đại hung vô cát, tai hình cũng.
Thần với Can hợp là quan hợp, sĩ tử khoa trường vinh diệu đình,
Dung tục tụng công quan phủ lụy, mưu mong tiểu sự nhiều khó thành.
Thần với Tướng hợp là chính hợp, hôn nhân thành tựu việc hanh thông,
Lại nhiều bằng hữu, thân lân trợ, duy có bệnh chiêm mùa thu lại đông.
Tướng với Phương hợp là dao hợp, đường xa cách năm hôn tựu thành,
Mưu việc chậm thành, người bệnh ngửa, lấy dưới động trên hợp tương thừa.
Can với Tướng hợp danh là cách, nội ngoại quan phòng chậm đưa đón.
Phương với Thần hợp kinh niên sự, bé nhỏ làm việc trên việc muộn thành.
Phương với Can hợp người mưu kỷ, trong môn có việc liền tương tranh.
Tinh Kỳ Phương vị môn chư tướng, cát hung bình ổn tùy thời bình.
Đồng bằng (tỷ) là vượng, ta sinh là tướng,
Hưu là tài quan, tù là quỷ tướng,
Tử là phụ mẫu, phân trọng nhẹ,
Có khí đại hung, vô khí tiểu dạng.
Đại cát tinh vượng cố thắng nhỏ, vô khí không bằng tiểu tinh sướng.
Cát túc nhược phùng thời vượng tướng, vạn cử vạn toàn công nghiệp thượng.
Quản thậm thân tướng tinh định mệnh, chư gia bất luận ác tinh tướng.
Quan phù thái tuế tận quy thừa, áp sát trích hung linh hiển chân.
Tác trước lưu tài tài liền phát, tác trước không vong không lý hưng.
Nhược giá hưu tinh tinh phế khí, khuyên quân bất tất tiến tiền thăng.
Nay ta suy diễn cục quẻ số, biến dịch tùy thời thấy đạo lưu.
Trực phù vi cương, sử vi mục, tường diễn Tây Sơn số nhân chu.
Môn vi ngoại quái, cung vi nội, trực sử tể thời chính quái du.
Phi hào xuất hiện, nhãn kim đoạn, phục hào tàng ẩn, tường hậu đầu.
Phản quái tiên thiên tương đối thủ, bỉ phương chi hướng địch chiếm lưu.
Hỗ sát vị lai hậu đại sự, dụng chiếm vượng tướng dữ hưu tù.
Dụng hào bị thương tầm sinh cứu, tuyệt xứ phùng sinh nhất dạng sưu.
Nhị quyển phân minh suy đoán loại, thỉnh quân nhất nhất thục tường cầu.
Bạc cung bản mệnh lục nghi lý, Giáp Tý hành niên bản mệnh đầu.
Bản mệnh cung trung khởi Giáp Tý, âm dương nghịch thuận nhất bác chu.
Mệnh dữ hành niên tùy cung đoạn, liền tri tình tính hưng vong cừu.
Tam dịch ngoạn chiêm Chu Dịch chủ, Khải Mông chiêm pháp biến chi sưu.
Tham ngũ nghiên kỷ duy tại kỷ, cực thâm đạt dụng chí thành cầu.
Nhược năng niệm niệm thời tồn thử, phương khả tuần tuần đạt thượng tu.
Đoạn ca quyết này dùng Kỳ Môn để diễn quẻ Chu Dịch.
KỲ MÔN CHƯỢNG TRUNG KIM YẾU QUYẾT
Kỳ Môn huyền diệu chín cung bên (tức Biên Cửu Chưởng quyết),
Độn đến Kỳ Nghi thuận nghịch truyền.
Dương độn: thuận bố Lục Nghi (Giáp Tý Mậu, Giáp Tuất Kỷ, Giáp Thân Canh, Giáp Ngọ Tân, Giáp Thìn Nhâm, Giáp Dần Quý), nghịch bố Tam Kỳ (Tinh Kỳ Đinh, Nguyệt Kỳ Bính, Nhật Kỳ Ất).
Âm độn: nghịch bố Lục Nghi, thuận bố Tam Kỳ.
Cung, Cục, Tinh, Môn tùy Giáp hoán.
Ví dụ Dương độn cục 2, ngay tại biên cửu cung Khôn 2 khởi, Giáp Tý đến lúc nào đó, Giáp tuần phù đầu rơi vào cung nào? Liền đem tinh, môn của cung này, Tinh là Trực Phù, Môn là Trực Sử.
Ngày giờ cần độn Ngũ Tử Nguyên.
(Giáp Kỷ hoàn gia Giáp, Ất Canh Bính tác sơ, Bính Tân sinh Mậu Tý, Đinh Nhâm Canh Tý cư, Mậu Quý hà phương lạc, Nhâm Tý thị chân đồ).
Trước hết đem Giáp tuần cầu Phù Sử (tức Phù đầu giáp tuần rơi vào cung, Tinh phù, Môn sử).
Tiếp tìm thời thần mấy cung an.
Bản thời lạc cung ở cung nào, liền lấy Trực môn gia vào làm Sử.
Lại xem Thời Can mấy cung lạc.
Ví dụ lấy Giáp Tý đến một Giáp phù đầu nào đó, trên biên cửu cung tính đến cung Giáp dừng, số còn lại chính là Kỳ (Dương độn: Bính, Đinh, Ất; Âm độn: Ất, Bính, Đinh). Từ cung trên một (cung Khảm) Giáp Tý khởi Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý, xem bản thời Can lạc vào cung nào, thì Trực Phù ở đó. Chỗ Bính, Đinh, Ất cũng vậy.
Cung số, Tinh, Môn nhớ kỹ đầu.
Cần nhớ rõ cung, tinh, môn liền thành cục. Bát quái có định vị, dù gặp Âm Dương nhị độn cũng không bay động. Cửu tinh có định cung, cần tùy Trực Phù mà bay. Xem cục nào khởi Tý đến một Giáp phù đầu, tức phân tinh, lại đếm đến một thời, tức là môn. Như Giáp Tý khởi Mậu, đến thời Can v.v.
Liền đem Phù Sử chín cung bay (trên chưởng bay chín cung phương, mới biết trước Kỳ Môn cát hung hạ lạc).
Hưu đến nhị cung, từ nhị khởi (ví dụ Dương độn cục 2, ngày Giáp Tý giờ Ất Sửu, Hưu môn bay đến Khôn nhị cung liền dừng, làm Trực Sử môn).
Nhậm trú tam cung, tại tam khởi (Nhậm từ tam cung, tức phù, tức tam cung).
Tinh Kỳ Môn hợp là vi kỳ (chín sao, Kỳ môn đều phải hợp mới dùng).
Bát Môn, Can Chi tương gia địa (Bát Môn, Can Chi gia địa bàn, đều phải tương sinh mới dùng).
Sinh khắc, hưu vượng, cát hung kê (dùng hưu, vượng, mộ, khắc mà suy cát hung).
Đây là thần tiên bí mật quyết, dẫu nghìn vàng chẳng dạy ai.
ĐỒ CHƯỞNG THƯỢNG PHI CỬU CUNG
2 7 6
9 5 1
4 3 8
BIÊN CỬU CUNG PHI CHƯỞNG ĐỒ
"Dã mã khiếu giản tẩu, phùng Dần số trư cẩu, nhất cục quá nhất cung, bất dụng Hợi Tý Sửu."
Đoài 7 (Thân) - Cấn 8 (Dậu) - Ly 9 (Tuất) - Bỏ qua (Hợi)
Càn 6 (Mùi) - Bỏ qua (Tý)
Trung 5 (Ngọ) - Bỏ qua (Sửu)
Tốn 4 (Tỵ) - Chấn 3 (Thìn) - Khôn 2 (Mão) - Khảm 1 (Dần)
SIÊU THẦN TIẾP KHÍ TRÍ NHUẬN QUYẾT
Nhuận Kỳ tự có huyền diệu quyết (dùng thời trí nhuận).
Thần tiên chẳng chịu nói phân minh.
Đông chí, Hạ chí trước khởi nhuận. Phàm một tháng tiết khí lấy 30 ngày 5 giờ 2 khắc làm chuẩn. Lấy 30 ngày chia 6 cục, lấy 5 giờ 2 khắc dư đặt nhuận. Gặp Mang chủng, Đại tuyết quá 9 ngày thì nên đặt nhuận. Đại khái 5 ngày một nguyên, một ngày 12 giờ.
Giáp Kỷ nhị hiệu phù đầu (đây là mấu chốt quan trọng nhất). Đặt nhuận lấy chữ Giáp Kỷ làm chủ. Ví dụ phù Giáp Kỷ đến trước, gọi là Siêu; phù Giáp Kỷ chưa đến, gọi là Tiếp; Giáp Kỷ với tiết cùng đến, gọi là Chính Thụ.
Tý Ngọ Mão Dậu thượng cục thiết (Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Thượng cục).
Dần Thân Tỵ Hợi trung cục cầu (Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Trung cục).
Thìn Tuất Sửu Mùi hạ cục tiệt (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Hạ cục).
Tiết thông Phù, Phù gặp Tiết.
Phù, tức phù đầu Giáp Kỷ; Tiết, tức tiết khí.
Vạn lạng hoàng kim chẳng nhẹ nói.
Trước tiết gặp Phù chính là Siêu, sau tiết gặp Phù chính là Tiếp.
Siêu Thần Tiếp Khí nếu có thể minh, liền là Tam Sơn vân ngoại khách.
LỤC GIÁP LỢI DỤNG
Kinh nói: "Nếu có sử dụng, trăm việc đều hướng về phương Lục Giáp sở tại, gọi tên thần đó, đi 60 bước rẽ trái vào Thái Âm trung. Lại Lục Đinh tên Thái Âm, gặp quý nhân thì vui mừng, gặp trận thì thắng".
Giáp Tý tuần, thần tên "Vương Văn Khanh". Lên đàn, bái tướng, lĩnh thụ binh phù, nguyên soái vận trù mệnh khởi binh, phát trữ lương, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước rẽ trái vào Thái Âm trung, thì phát động nắm giữ như thần.
Giáp Tuất tuần, thần tên "Từ Hà". Lợi cho việc đốn phạt sơn lâm, sửa sang đường sá, phân quyết hà đạo, được tự nhiên, mở đường không tổn hại, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước rẽ trái vào Thái Âm trung, thì được như ý, đường sá tự thông.
Giáp Thân tuần, thần tên "Cái Tân". Nếu vào núi săn bắn, bắt hổ, sói, côn trùng, thú dữ, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước rẽ trái vào Thái Âm trung, côn trùng thú dữ tự nhiên không động.
Giáp Ngọ tuần, thần tên "Linh Quang". Nếu đóng trại, đặt trận, tuần thú, chiến đấu, hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước rẽ trái vào Thái Âm trung, thì ắt thắng.
Giáp Thìn tuần, thần tên "Hàm Chương". Nếu cầu quan, bái tướng, lâm dân, nhậm chức, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước rẽ trái vào Thái Âm trung, thì làm quan không bại hối.
Giáp Dần tuần, thần tên "Giám Binh". Nếu dương binh, chấn vũ, giáo trận, đảng khấu, hành quân, chinh phạt bất đạo, đều hướng về phương đó gọi tên thần, đi 60 bước rẽ trái vào Thái Âm trung, xuất hành, an biên, giặc tự nhiên không nổi.
Sáu tuần Giáp trên quản hạt, Ngũ Hành tôn thần, thể thống hiếu tĩnh. Khi hành sự, viết chữ tương chế thì tốt. Bởi Lục Giáp nội quản Ngũ Hành, mà động tĩnh vô phương. Ngũ Hành hàm thắng, có đạo tương sinh tương khắc. Tay trái tượng trời, tay phải pháp đất, thần linh hiếu tĩnh, nên viết chữ Ngũ Hành tương chế, vận hóa chi đạo, không gì không kiêm cái. Nếu muốn xuất binh, đại tướng tay trái dùng son viết chữ "Cường" (强), tay nắm giữ, đi 60 bước rẽ trái vào Thái Âm, có thể lấy yếu thắng mạnh. Nếu gặp quý nhân, cầu quan, và các quan nhị thiên thạch, lệnh trưởng, tay trái viết chữ "Thiên" (天). Nếu buôn bán, họp bạn bè, gả cưới, lập khế, thì viết chữ "Hòa" (和). Nếu vào núi, bắt thú, săn bắn, thì viết chữ "Sư" (狮). Nếu bộ khúc cư chúng, thì viết chữ "Cường" (强). Nếu qua sông, trị thủy, thì viết chữ "Thổ" (土) hoặc "Mậu" (戊). Nếu sóng dậy, thuyền sắp chìm, đặc biệt kỵ bát phong, xúc thủy long, chiêu dao, hàm trì chi nhật, nên viết chữ "Mậu" (戊). Nếu du sơn, nhập đạo, thì viết chữ "Long" (龙), rồng chẳng dám động. Trực Phù lâm phương đó, đi trước 60 bước rẽ trái vào Thái Âm trung, được điều này thì thiên đạo hanh thông. Đây là diệu dụng ngũ hành chế thắng.
