KỲ MÔN ĐỘN GIÁP – ĐOÁN QUẺ YẾU LĨNH (Phần 2)
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP – ĐOÁN QUẺ YẾU LĨNH (Phần 2)
Nhập Khố (Nhập kho): Nhập khố là hình thức tháng vượng của nhập mộ, nhưng chỉ khi là tỷ hòa (cùng hành) mới tính, sinh trợ thì không tính. Dựa trên nguyên lý của Tứ trụ bát tự: "Nhật can cực nhược nên dùng tỷ kiên, kiếp tài, không nên sinh trợ". Nguyên lý này giống như một đống lửa nhỏ yếu, nếu dùng quá nhiều củi chất vào sẽ làm lửa tắt, nhưng nếu được lửa (tức tỷ hòa) thì ngọn lửa nhỏ yếu sẽ trở nên mạnh. Ở đây, nhập mộ cần phân biệt âm dương. Ví dụ: Bính mộ ở Càn, Đinh mộ ở Sửu. Nhưng tháng vượng do tỷ hòa thì không phân âm dương. Bính, Đinh nếu nhập mộ ở các tháng Tỵ, Ngọ đều được coi là nhập khố. Lực lượng của nhập khố rất yếu, nếu coi như nhập mộ cũng không sai khác nhiều.
Địa bàn nghi nhập mộ: Có thuyết cho rằng địa bàn nghi vì ở dưới địa bàn lâu ngày (năm ngày mới thay đổi một lần) nên đã quen với việc nhập mộ, do đó ảnh hưởng không lớn.
Về Trung cung: Trung cung thực chất là vị trí trung tâm, cũng có thể hiểu mở rộng là một hình tròn hoặc hình vuông có khoảng cách ngắn lấy tâm làm gốc. Bản mới (các phiên bản sau) sửa thành ký sinh (gửi) vào một trong các cung, xem chung với cung được ký sinh đó. Trong Huyền Cơ Phú, Trung cung được nói là Ngũ Hoàng đại hung. Trong Chỉ Quy, nó là cung chủ tể. Cả hai thuyết đều có sự ứng nghiệm, nhưng thuyết Ngũ Hoàng đại hung ứng nghiệm nhiều hơn. "Trung cung là Thổ tú", do đó Trung cung thuộc hành Thổ.
Ký cung (gửi cung) của Trung cung: Theo thuyết của Huyền Cơ Phú, Trung cung thuộc Thổ, vì vậy việc ký cung của Trung cung chỉ có thể tưởng tượng theo cách thuộc Thổ. Các cách ký cung vào bốn góc (ký tứ duy) hoặc ký theo tám tiết đều làm thay đổi hành của Trung cung, có lẽ là không đúng. Nhưng lý thuyết chỉ là lý thuyết, nếu thay đổi hành của Trung cung mà cho kết quả chính xác hơn thì vẫn có thể sử dụng.
Về Trung môn (cửa giữa): Tức là "ký môn chi bí" (bí mật về việc gửi cửa). Trong Chỉ Quy, dương ký vào Tử môn, âm ký vào Sinh môn. Nhưng trong thực hành, có thể coi như Tử môn, hoặc coi như cửa của bậc chủ tể, cửa của vua chúa. Hiện tại giới học thuật vẫn đang tranh luận về việc liệu Trung môn có phải là một sai lầm hay không. Những người học sau như chúng ta chỉ có thể dùng thực tiễn để chứng minh.
Thuộc tính của Trực Phù và Đằng Xà: Trực Phù thuộc Mộc, Đằng Xà thuộc Thổ.
Ám Can (can ngầm) là gì: Ám Can là những can nằm ẩn bên trong sự việc, hoặc ở giai đoạn hậu kỳ của sự việc. Trong các sách cổ không có khái niệm Ám Can, do đó không chủ trương sử dụng Ám Can. Nếu dùng thì cũng chỉ nên dùng ở dưới chủ tinh, trong phi môn (phi môn ở đây không nhất thiết chỉ trực sử), tức là chỉ dùng Ám Can ở dưới Trực Phù, bởi Ám Can này ảnh hưởng đến cát hung toàn cục. Hiện nay, Ám Can cũng được chia thành nhiều phái: Chỉ Quy có một bộ, Pháp Khiếu có một bộ, và còn những bộ khác nữa... Tất nhiên không thể nói là sai, miễn là làm tăng độ chính xác thì đó là điều tốt.
Hưu tù phế của Cửu Tinh (chín sao): Sao vượng ở hành sinh nó (con), tướng ở hành tỷ hòa (vai), hưu ở hành nó khắc (vợ tài), tù ở hành khắc nó (quan quỷ), phế ở hành sinh nó (cha mẹ). Tuy nhiên, trong Huyền Cơ Phú không có thuyết pháp này, vì vậy chỉ có thể tham khảo. Đặc biệt khi Cửu Tinh làm Dụng thần, như Thiên Bồng là đạo tặc, Thiên Nhuỵ là bệnh tật thì không thể lấy tháng vượng làm chuẩn, nếu không thì mùa thu không có đạo tặc, mùa hè không có bệnh tật, điều đó rất phi lý.
Về giờ mặt trời thực (Chân Thái Dương thời): Người xưa dùng cách đo bóng cọc tre để xác định thời gian, thực chất rất chính xác. Đừng nghĩ rằng người xưa không có kim đồng hồ thì thời gian không chính xác. Phương pháp xác định thời gian bằng bóng cọc tre này tương đương với...
