KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN: CÁCH XEM MỐI LIÊN HỆ GIỮA NIÊN MỆNH VÀ TRỰC SỬ MÔN

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN: CÁCH XEM MỐI LIÊN HỆ GIỮA NIÊN MỆNH VÀ TRỰC SỬ MÔN

 

1. Niên mệnh lâm trực sử môn: Đang thực hiện chính việc này.

2. Niên mệnh không có mối liên hệ nội tại với giá phù và trực sử: Việc này người đó chỉ đang nghĩ tới, chưa chắc đã thực sự làm.

3. Một trường hợp khác, cần xác định dựa vào thời gian để biết là việc sắp làm hay đã làm xong? Đó là: trực sử môn ở phía trước, niên mệnh ở phía sau, thì đó là việc sắp làm. trực sử môn ở phía sau, niên mệnh ở phía trước, thì đó là việc đã làm xong. Cần lưu ý có sự khác biệt giữa âm độn và dương độn. Ví dụ, xét tại thời điểm hiện tại, là dương độn, trực sử môn ở cung Chấn (số 3), niên mệnh ở cung Cấn, đây là trường hợp trực sử môn ở trước, niên mệnh ở sau, biểu thị đây là việc sắp làm. Một ví dụ khác, trực sử môn ở cung Khảm, mà niên mệnh ở cung Tốn, tức trực sử môn ở sau, niên mệnh ở trước, thì có thể là việc đã làm xong. Còn đối với âm độn, mối quan hệ giữa trực sử môn (phù) và niên mệnh sẽ đảo ngược trước sau.

4. Cũng cần xem xét yếu tố thời gian (tháng, năm dự đoán): Ví dụ, niên mệnh ở cung Chấn (số 3), mà hiện tại là tháng Thìn, thì việc này có thể đã được thực hiện (cung lạc của niên mệnh sớm hơn tháng dự đoán, là việc đã làm). Nếu niên mệnh ở cung Khôn, hiện tại là tháng Thìn, thì việc này vẫn chưa làm, cần phải thực hiện (cung lạc của niên mệnh muộn hơn tháng dự đoán, là việc sắp làm).

5. Phù (giá phù), sử (trực sử môn) và niên mệnh lạc cùng một cung: Việc này đang được tiến hành. Một là việc này rất quan trọng; hai là sắp có kết quả hoặc hiện tại đã có kết quả.

Vì vậy, khi dự đoán, một là phải xem cung lạc của niên mệnh người cần dự đoán; hai là xem trực sử môn, trực sử môn xác định một phạm vi, tức là xác định mục tiêu của người đó nằm trong phạm vi nào.

Niên mệnh xem như thế nào? Vận khí của người này tốt hay xấu, đã xảy ra chuyện gì? – Trước hết xem nội nhân (nhân tố bên trong), sau đó xem ngoại nhân (nhân tố bên ngoài). Nội nhân tức là các ký hiệu Thiên, Địa, Nhân, Thần (Thiên Bàn, Địa Bàn, Cửa, Thần) như sao, cửa, thần, nghi, cách cục… cũng giống như xem một vở kịch cần phải quen thuộc với các vai diễn. Thứ hai, phải xem năng lượng mạnh hay yếu. Đôi khi, trạng thái cung lạc của họ rất xấu, nhưng nhìn bề ngoài họ vẫn rất đắc ý, vì vậy không thể bị đánh lừa bởi vẻ bề ngoài. Có những doanh nghiệp bề ngoài rất phát đạt, nhưng thực tế nội bộ lại hỗn loạn. Cục Kỳ Môn phản ánh sự tồn tại khách quan, chúng ta nên lấy thông tin trong cục làm chủ đề dự đoán, không nên bị mê hoặc bởi những ảo tượng bên ngoài. Sau khi đã quen thuộc với các ký hiệu, chúng ta sẽ xem xét cường độ năng lượng. Đôi khi, cách cục rất tốt, nhưng năng lượng lại rất yếu, điều này giống như cắm hoa trong bình, trông có vẻ đẹp, nhưng vẻ đẹp không kéo dài, vì không có gốc rễ; có trường hợp bề ngoài trông có vẻ ủ rũ, nhưng năng lượng cung lạc lại rất vượng, nhìn có vẻ không có gì nổi bật, nhưng thực tế lại tiềm ẩn sức mạnh. Cả hai trường hợp trên đều có thể xảy ra, chúng ta cần phán đoán cẩn thận.

Ngoài ra, sau khi xem xét nội nhân (khảo sát hình thái cơ bản), cần xem xét ngoại nhân (các yếu tố bên ngoài). Xem cái nào sinh nó; cái nào giúp nó; cái nào tiết (làm hao tán) nó; cái nào khắc nó? Đâu là yếu tố có lợi, đâu là yếu tố bất lợi? Đây là sự xem xét từ toàn bộ cục bàn. Ví dụ, niên mệnh của người này lạc ở cung Cấn, thì cung Chấn, Tốn là những yếu tố ngoại nhân gây áp lực cho nó; cung Ly, Khôn có lợi, giúp đỡ nó; cung Càn, Đoài làm tiết hao nó, là sự kéo lùi; cung Khảm là nơi nó không thích. Cũng giống như một người dù vận khí tốt đến đâu, vẫn có những việc làm bạn mệt mỏi (cung mà bạn sinh ra); có những việc giúp đỡ bạn (sinh, so sánh - tức hành sinh, hành so với mệnh); có những việc bạn không thích (cung bạn khắc); và áp lực bạn phải đối mặt (cung khắc bạn), cung khắc bạn chính là khó khăn và áp lực bạn gặp phải.

Trên đây là vấn đề xem xét toàn bộ cục, nhưng cần có một Thái Cực điểm để đo lường, bạn không thể xem xét một cách lan man. Để xem trạng thái tổng thể, lấy niên mệnh làm trung tâm, xem vấn đề gì xảy ra, sau đó từ trạng thái tổng thể mới liên quan đến sự kiện cụ thể. Khi thấy niên mệnh có điểm mâu thuẫn, hoặc nơi nó chế ngự có điểm mâu thuẫn, thì điều này liên quan đến sự kiện cụ thể. Sự kiện cụ thể thì sẽ phân Dụng thần, việc gì thì lấy dụng thần tương ứng.

Tuy nhiên, có một hiện tượng hoặc quy luật cơ bản bạn cần nắm vững, ví dụ như một đứa trẻ mười bảy, mười tám tuổi đến xem thì thường hỏi về học hành; người trung niên hỏi về sự nghiệp; người giàu có hỏi về hôn nhân hoặc bệnh tật; ông bà già hỏi về việc của con cái... Quan lại hỏi về hình phạt (sự nghiệp, tai họa), người giàu hỏi về tai ương, người bình dân hỏi về phát tài – đây là một quy luật phổ biến, sau đó chúng ta chọn lọc những vấn đề cụ thể hơn. Đâu là những quy luật phổ biến? Ở đây còn có vấn đề về thuộc tính cơ bản của các ký hiệu:

  • Gặp Giáp (Giá Phù): là một việc rất quan trọng, là đại sự.

  • Gặp Ất: vợ, phụ nữ, sự ấm ức, liên quan đến phụ nữ.

  • Gặp Bính: rắc rối, sự lộn xộn xuất hiện.

  • Gặp Đinh: có cơ hội, thời cơ xuất hiện.

  • Gặp Mậu: có liên quan đến tiền bạc, bất động sản.

  • Gặp Kỷ: có ảo tưởng, suy nghĩ vẩn vơ.

  • Gặp Canh: đàn ông, chồng, sự ngăn trở.

  • Gặp Tân: phạm sai lầm, có lỗi lầm.

  • Gặp Nhâm: sự vật có biến đổi lớn.

  • Gặp Quý: xuất hiện khó khăn, rắc rối.
    Đối với những thông tin cơ bản này, cần phải ghi nhớ kỹ.

Ngoài việc nắm vững ý nghĩa của các ký hiệu, còn phải nắm vững nguyên lý của chúng, tức là nguyên lý âm dương ngũ hành. Ví dụ như ba ký hiệu Mậu, Kỷ, Canh, đều đại diện cho sự ngăn trở, cản trở, nhưng tính chất không giống nhau.

  • Gặp Giáp Tý Mậu: có thể bị ngăn trở vì vấn đề tiền bạc.

  • Kỷ cũng là sự ngăn trở, sự ngăn trở này là bên ngoài mạnh mẽ nhưng bên trong đã suy yếu, bên ngoài thực chất nhưng bên trong hư ảo.

  • Sự ngăn trở của Canh: thì bên trong và bên ngoài đều như nhau, không thể tiến vào.
    Tuy đều là sự ngăn trở, nhưng tính chất không giống nhau. Đối với Mậu – nếu vượt qua được cửa ải đầu tiên, chỉ cần kiên trì thì có thể thành công. Đối với Kỷ – sự ngăn trở bề ngoài nhìn có vẻ khó giải quyết, nhưng chỉ cần bạn đã thâm nhập được vào việc đó, thì bên trong tự nhiên sẽ tan rã. Đối với Canh – sự ngăn trở mang tính chất từng lớp, khó có thể giải quyết.
    Ví dụ, trong xem xét cơ thể con người, Mậu, Kỷ, Canh đều đại diện cho khối u. Mậu đôi khi là khối u lành tính, nhưng trong một số trường hợp cũng có thể chuyển từ lành sang ác, và là khối u đặc. Kỷ – thì là u nang, bên ngoài là thịt, bên trong là nước, là rỗng. Canh – bên trong bên ngoài đều là nhân (cứng), là ác tính, có tính phá hoại.
    Nhâm, Quý đều là thủy, đều chủ về sự biến đổi, nhưng không giống nhau:

  • Gặp Nhâm thủy: là sự thay đổi triệt để, như thay đổi nghề nghiệp, làm lại từ đầu.

  • Gặp Quý thủy: là sự thay đổi vi mô, như thay đổi vị trí công tác, điều chỉnh cục bộ...

Sau khi hiểu những thông tin trên – có thể nói rằng, dùng Kỳ Môn để đoán ý định (ý đồ, mục đích đến xem) của người ta không hề khó. Một là phải biết lẽ thường tình trong thế gian; hai là phải rõ ý nghĩa, thuộc tính và các thông tin suy luận của các ký hiệu; ba là phải biết mối liên hệ giữa các sự vật. Mối liên hệ giữa các sự vật thường liên quan đến Năm, Tháng, Ngày, Giờ. Điểm này vô cùng quan trọng.

  1. Năm, Tháng, Ngày, Giờ độc lập, không liên quan (rơi vào các cung khác nhau).

  2. Năm, Tháng, Ngày, Giờ lạc cùng một cung (cả bốn).

  3. Năm, Tháng, Ngày hoặc Tháng, Ngày, Giờ lạc cùng một cung (ba cái).

  4. Năm & Giờ, Tháng & Ngày, Năm & Ngày, Tháng & Giờ lạc cùng một cung (hai cái) – chỉ cần kết nối với Năm, Tháng, Ngày, Giờ, thì sự vật đã có sự liên quan, sự ràng buộc.

Sự kết hợp giữa Năm, Tháng, Ngày, Giờ với Dụng thần cũng rất quan trọng. Ví dụ, xem công việc, lấy Khai môn làm dụng thần, gặp tổ hợp Bính + Canh, lạc cung Khôn, hiện tại là tháng Bính Thìn. Dụng thần Khai môn ngay lúc này kết nối với Tháng Can (Bính), như vậy bạn xem việc điều chuyển công tác, thì không chỉ là việc bạn tự điều chuyển, mà có thể là cả một tập thể đồng nghiệp của bạn cùng thuyên chuyển. Đây không phải là sự kiện cá nhân của bạn, mà là do bạn đi ảnh hưởng đến người khác cũng phải đi, hoặc do người khác đi ảnh hưởng đến bạn cũng phải đi. Một ví dụ khác: Khai môn gặp Mậu + Canh, xem việc điều chuyển công tác, vì năm nay là năm Mậu (Mậu là niên can), niên can có quan hệ với dụng thần. Điều này có hai khả năng: một là do sự thay đổi lãnh đạo, bạn mới phải đi; hai là bạn đi cùng với lãnh đạo. Cũng có thể là do yếu tố từ cha mẹ, người lớn tuổi mà phải đi. Cụ thể là điều gì, cần kết hợp với các điều kiện khác để phân tích sâu hơn. Nhưng mối quan hệ giữa sự vật với Năm, Tháng, Ngày, Giờ là điều bạn cần phải xem xét.

Một số trường hợp đặc biệt:

  • Nhật thời đồng cung (Ngày và Giờ cùng cung): Việc này đang xảy ra, đang tiến hành. (Vì Thời can chủ thể sự việc).

  • Nguyệt nhật đồng cung (Tháng và Ngày cùng cung): Là hai việc đang tiến hành đồng thời, hoặc vì làm việc này mà kéo theo việc khác xuất hiện. (Niên nhật đồng cung cũng có ý nghĩa tương tự).

  • Niên thời đồng cung (Năm và Giờ cùng cung): Chuyện cũ nói lại, việc xưa bàn lại.

Một điểm khác, đó là vấn đề chồng lấp ký hiệu. Ví dụ ngày Tân, giờ Tân – Nhật thời đồng cung, cần phân tích từ hai góc độ, lần lượt từ góc độ Nhật can và Thời can. Niên thời đồng cung (chồng lấp), thì giải mã từ góc độ Niên và Thời.
Ví dụ: Năm Mậu, giờ Mậu, đồng cung, đều lâm Thiên Nhuế Tinh. Người ta hỏi về cha mẹ, thì có thể là bị bệnh. Người ta hỏi về con cái, thì có thể là vấn đề học tập. Góc độ giải mã là không giống nhau.
Ví dụ: Tổ hợp Mậu Tân + Bính, Thiên Nhuế Tinh lâm Tử môn, Lục Hợp:

  • Người ta hỏi về cha mẹ: Có thể phán đoán: sức khỏe không tốt (Nhuế), nhiều loại bệnh (Lục Hợp, Tân + Bính là hợp cách), bệnh cũ tái phát (Mậu + Bính), tiền tiêu cũng khá nhiều (Mậu Tân đồng cung), và thời gian kéo dài cũng khá lâu (Tử môn).

  • Người ta hỏi về con cái: Có thể phán đoán: con bạn học không tốt (Nhuế, Tử môn), nhiều môn đều không như ý (Lục Hợp, Tân + Bính). Bạn không thể nói con học không tốt là do hôn nhân (ví dụ trẻ mới 5 tuổi). Mậu + Bính, Long phản thủ, chủ sự lặp đi lặp lại, lúc tốt lúc xấu. Tân + Bính, Tân đại diện cho sai lầm, đôi khi phạm sai lầm nhỏ, sai lầm là do bạn học nhỏ của cháu gây ra (Bính là nguyệt can, Tân + Bính, lâm Lục Hợp, gặp hợp thì bị người khác ràng buộc, ảnh hưởng).

Bất kỳ sự vật nào cũng không tồn tại độc lập, đều có mối liên quan. Một ví dụ khác: Tân + Ất + Đỗ môn + Huyền Vũ, hỏi tại sao đến học? Bởi vì Đỗ môn lâm Huyền Vũ, kỹ thuật của bạn chưa thông thạo nên mới đến học. Đây chính là mối liên hệ giữa các sự vật.