KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN DỤNG THẦN – PHẦN ĐOÁN KINH DOANH CẦU TÀI
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN DỤNG THẦN – PHẦN ĐOÁN KINH DOANH CẦU TÀI
1. Nguyên tắc chung
Lấy nhật can làm người cầu đoán (bản thân).
Thời can làm tiền tài hoặc hàng hóa.
Giáp Tý Mậu làm vốn.
Sinh Môn làm lợi nhuận (tiền lãi).
Sao lâm Sinh Môn làm sao tài lộc.
Trực Phù làm chủ hàng (chủ lô hàng, người bán).
Trực Sử làm người mua hàng.
Lục Hợp làm người môi giới, trung gian.
Nguyệt can làm đối thủ cạnh tranh cùng ngành.
Trực Phù và Cảnh Môn làm tình hình thị trường, giá cả.
Trực Phù cũng có thể là chủ sở hữu tài sản hoặc ngân hàng.
Thời can và cung rơi của Trực Sử làm dự án kinh doanh, mặt hàng kinh doanh.
Trực Sử làm người vay (trong tín dụng).
Các cung rơi của Khai Môn, Hưu Môn, Sinh Môn làm phương hướng đắc tài.
Cung rơi của Sinh Môn làm số lượng tiền lãi.
Khai Môn làm cửa hàng, mặt bằng kinh doanh.
Sinh Môn làm nhà cửa, bất động sản.
Tử Môn làm đất đai.
Thiên Ất (sao dưới Trực Phù ở Địa bàn) làm người cho vay hoặc người đi vay.
Trực Phù làm chủ nợ, Thiên Ất làm con nợ.
Thương Môn làm người đòi nợ.
Nếu Sinh Môn rơi cung vượng tướng, lại được kỳ (tam kỳ), cát cách thì lợi nhuận lớn. Hòa (bằng) thì lợi bình thường. Hưu tù thì lợi ít. Nếu hưu tù lại gặp hung cách thì không lãi, lỗ vốn.
Giáp Tý Mậu và Sinh Môn rơi không vong, phản ngâm, mộ tuyệt, lại gặp hung cách, hung thần, thì chẳng những không có lợi mà còn rước thị phi, tai họa.
Giáp Tý Mậu và Sinh Môn trên gặp cát tinh thì càng tốt, gặp hung tinh thì có phần hung.
Có thể dùng can trên Địa bàn Giáp Tý Mậu để phán đoán số lượng tiền lãi.
Thời gian đắc tài:
Giáp Tý Mậu và Sinh Môn cùng rơi nội bàn → khoảng cách gần, thời gian nhanh.
Một trong nội bàn, một ngoại bàn → chậm hơn.
Cả hai ngoại bàn → càng chậm, càng xa.
Giáp Tý Mậu và Khai Môn cùng cung → đắc tài nhanh.
Lấy địa chi của cung rơi Địa bàn thời can làm thời điểm ứng nghiệm (năm, tháng, ngày, giờ đắc tài).
Gặp Phục ngâm: lấy địa chi của cung xung với cung Sinh Môn làm thời điểm.
2. Giao dịch buôn bán cầu tài
Nhật can làm người mua.
Thời can làm người bán.
Lục Hợp làm người môi giới, trung gian.
Nhật can sinh thời can → bất lợi cho người bán.
Thời can sinh nhật can → có lợi cho người mua.
Nhật can khắc thời can → người mua không muốn mua.
Thời can khắc nhật can → người bán không muốn bán.
Lục Hợp sinh nhật can → môi giới thiên về người mua.
Lục Hợp sinh thời can → môi giới thiên về người bán.
Lục Hợp nhập mộ hoặc không vong → có sự lừa dối, gian trá.
Nhật can và thời can tỷ hòa → giao dịch công bằng, dễ thành công.
Một trong hai (nhật can, thời can) rơi không vong → giao dịch không thành.
3. Đầu tư cầu tài
Giáp Tý Mậu làm vốn.
Sinh Môn làm lợi nhuận.
Sinh Môn rơi cung được kỳ, cát cách, cát tinh, lại sinh cung Giáp Tý Mậu → lợi nhuận gấp bội.
Sinh Môn và Giáp Tý Mậu tỷ hòa → lợi trung bình.
Cung Sinh Môn khắc cung Giáp Tý Mậu, lại gặp hung thần hung cách → ắt lỗ vốn.
Cung Giáp Tý Mậu sinh cung Sinh Môn → chủ thêm vốn vẫn có lãi.
Sinh Môn rơi vào mộ tuyệt (xét theo tháng lệnh) lại gặp hung thần hung cách → ắt hao hết vốn.
4. Mua hàng cầu tài
Nhật can làm người mua.
Thời can làm hàng hóa.
Cung Thời can vượng tướng, được cát môn cát cách, trên có cát thần → hàng chất lượng tốt.
Hưu tù, không được kỳ môn cát thần → hàng chất lượng kém.
Hưu tù, lại lâm hung môn hung cách, trên có Huyền Vũ → hàng giả, hàng nhái, kém phẩm chất hoặc ôi thiu.
Thời can sinh nhật can → dù hàng tốt hay xấu cuối cùng vẫn có lãi.
Thời can khắc nhật can, hoặc không vong, mộ tuyệt → không có lãi.
Nhật can sinh thời can → chủ động đi mua.
Nhật can khắc thời can → vẫn mua được.
5. Bán hàng cầu tài
Trực Phù làm người bán.
Trực Sử làm người mua.
Trực Sử được kỳ môn cát cách sinh Trực Phù, hoặc tỷ hòa → có thể bán được.
Trực Phù sinh Trực Sử, hoặc hai bên tương khắc → không bán được.
Ngoài ra có thể lấy nhật can làm người bán, thời can làm hàng hóa, Giáp Tý Mậu làm vốn, Sinh Môn làm lãi.
Nhật can sinh thời can → người luyến hàng, không muốn bán.
Thời can sinh nhật can → hàng luyến người, không bán được.
Nhật can khắc thời can → muốn bán nhanh nhưng chậm.
Thời can khắc nhật can → bán nhanh.
Có lãi hay không: nếu cung Thời can (hàng hóa) sinh Giáp Tý Mậu hoặc Sinh Môn → có lãi.
Cung Thời can không sinh Giáp Tý Mậu hoặc Sinh Môn, hoặc tương khắc → không lãi.
Cung Thời can gặp hung thần hung cách xung khắc cung nhật can → ắt lỗ vốn.
(Lưu ý: cung 2 và 8 không gặp phản ngâm thì luận tỷ hòa; gặp phản ngâm thì luận xung.)
6. Mua bán bất động sản cầu tài
Sinh Môn làm nhà ở.
Tử Môn làm đất đai.
Trực Phù làm người mua hoặc người bán nhà đất.
Sinh, Tử nhị môn được tam kỳ cát cách → nhà đất tốt.
Nếu hai môn này sinh cung Trực Phù: có lợi cho người mua, mua xong phát đạt.
Nếu Sinh, Tử không được cát cách → nhà đất tầm thường hoặc xấu.
Nếu chúng sinh cung Trực Phù: có lợi cho người bán, bán xong phát đạt.
Tỷ hòa → bình an.
Nếu Sinh, Tử hưu tù vô lực, lại gặp hung thần hung cách → nhà đất xấu.
Nếu hai cung này khắc cung Trực Phù → mua xong phá gia bại sản.
Nếu Trực Phù sinh hai cung đó → ắt vì nhà đất mà suy bại, bất lợi.
Cũng có thể lấy nhật can làm người mua hoặc người bán, thời can làm nhà hoặc đất, xem quan hệ sinh khắc.
7. Mở cửa hàng cầu tài
Siêu thị, cửa hiệu, khách sạn, nhà hàng, kể cả mở nhà máy… đều lấy nhật can làm người cầu đoán, Khai Môn làm cửa hàng, mặt bằng, nhà máy, khách sạn… (ký hiệu đại diện).
8. Hợp tác làm ăn cầu tài
Nhật can làm bên ta.
Thời can làm người hợp tác.
Thời can được kỳ môn cát cách sinh cung nhật can → có lợi cho ta.
Nhật can sinh cung thời can → có lợi cho người kia.
Nhật can và thời can tỷ hòa → công bằng.
Thời can khắc nhật can → bất lợi cho ta.
Nhật can khắc thời can → bất lợi cho người kia.
Đồng thời, nếu cung Sinh Môn sinh ta thì tốt, khắc ta thì không tốt.
Lấy Địa bàn nhật can làm bên ta, Thiên bàn can trên đó làm người hợp tác. Thiên bàn sinh Địa bàn → lợi cho ta. Địa bàn sinh Thiên bàn → lợi cho người kia. Tỷ hòa → công bằng. Tương khắc → không thành, nếu thành cũng không thuận.
9. Vay tiền hoặc mượn tiền
Trực Phù làm chủ sở hữu (cho vay) hoặc ngân hàng.
Trực Sử làm người đi vay.
Trực Phù sinh Trực Sử, hoặc Trực Sử khắc Trực Phù → có thể vay được.
Trực Phù khắc Trực Sử, hoặc Trực Sử sinh Trực Phù → vay không thành.
Một trong hai (Trực Phù, Trực Sử) rơi không vong → cũng vay không được.
Xét quan hệ sinh khắc giữa sao Thiên bàn và sao Địa bàn tại phương đến vay: Thiên bàn là động, là khách, là người đi vay; Địa bàn là tĩnh, là chủ, là chủ nợ/ngân hàng. Địa bàn sinh Thiên bàn → ắt cho vay. Tỷ hòa → có thể cho vay nhưng do dự. Tương khắc → không cho vay, thêm nhục.
Nếu can mà Thiên bàn lâm rơi vào mộ khố của Địa bàn → chủ nợ hà tiện, không cho vay.
Phương đến vay mà gặp không vong → chủ nợ không có tiền hoặc không có nhà, đến cũng vay không được.
10. Cho vay
Trực Phù làm ngân hàng (người cho vay).
Thiên Ất (sao dưới Trực Phù ở Địa bàn gốc) làm người đi vay.
Sinh Môn làm tiền lãi.
Trực Phù khắc Thiên Ất → tốt.
Thiên Ất khắc Trực Phù → xấu.
Thiên Ất sinh Trực Phù → tốt.
Trực Phù sinh Thiên Ất → xấu.
Sinh Môn và Thiên Ất cùng khắc Trực Phù → tiền cho vay mất trắng.
Sinh Môn và Thiên Ất cùng sinh Trực Phù → gốc lãi đều đòi được.
Sinh Môn và Thiên Ất, một sinh một khắc Trực Phù → không đòi được hết hoặc chậm.
Nếu Thiên Ất hưu tù vô lực, dù sinh Trực Phù cũng không có khả năng trả → kết cục trả không đủ hoặc chậm.
11. Đòi nợ
Trực Phù làm người cho vay.
Thiên Ất (sao dưới Trực Phù ở Địa bàn) làm con nợ.
Thương Môn làm người đòi nợ.
Thương Môn khắc Thiên Ất → người đòi nợ thực tâm đòi.
Thiên Ất khắc Thương Môn → cãi nhau, không phục.
Thương Môn và Thiên Ất cùng sinh Trực Phù → gốc lãi đòi được hết.
Thương Môn và Thiên Ất cùng khắc Trực Phù → gốc lãi mất trắng.
Thương Môn sinh Trực Phù, khắc Thiên Ất → đòi được.
Thương Môn sinh Thiên Ất, khắc Trực Phù → không đòi được.
Thiên Ất vượng tướng khắc Thương Môn → có khả năng trả nhưng không trả.
Thiên Ất hưu tù sinh Thương Môn → có tâm trả nhưng không có lực, trả cũng không đủ.
Nếu Thiên Ất gặp Canh, Tân để khắc Trực Phù → ắt phải kiện tụng.
Trực Phù khắc Thiên Ất, lại gặp Đinh kỳ hoặc Cảnh Môn rơi cung Tứ (cung Tốn, Đỗ Môn chủ cơ quan pháp luật) → cũng phải kiện tụng.
Giáp Tý Mậu gặp Khai Môn rơi nội bàn → nợ đòi nhanh.
Thiên Ất gặp Thiên Bồng hoặc Huyền Vũ, lại khắc cung Trực Phù → con nợ cố tình không trả.
