KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN DỤNG THẦN – PHẦN ĐOÁN MANG THAI VÀ SINH NỞ
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN DỤNG THẦN – PHẦN ĐOÁN MANG THAI VÀ SINH NỞ
1. Phán đoán giới tính thai nhi
Lấy sao Thiên Nhuế ở cung Khôn làm người mẹ. Lấy sao ở Thiên bàn lâm vào cung Khôn làm thai nhi. Sao dương là con trai, sao âm là con gái. Nếu sao Thiên Cầm (Thiên Thụ) lâm cung Khôn là sinh đôi: can dương là trai, can âm là gái.
Lấy cửa (môn) lâm cung Khôn làm thai nhi: cửa dương là trai, cửa âm là gái.
Lấy nhật can làm mẹ, thời can làm con. Căn cứ vào âm dương của thời can cùng sao, môn, cung mà thời can lâm để phán đoán nam nữ.
Hoặc lấy Trực Phù làm sản phụ, lấy Lục Hợp hoặc Trực Sử làm thai nhi để lấy dụng thần.
2. Phán đoán tình trạng ngôi thai và việc sinh nở có thuận lợi hay không
Lấy cung Khôn làm phòng sinh (sản thất), sao Thiên Nhuế làm sản phụ, sao ở Thiên bàn lâm cung Khôn làm thai nhi.
Thiên Nhuế khắc sao Thiên bàn: chủ sinh nhanh.
Sao Thiên bàn sinh Địa bàn Thiên Nhuế: con luyến mẹ, bụng mẹ lưu luyến, sinh chậm.
Sao Thiên bàn khắc Địa bàn Thiên Nhuế: con khắc mẹ, chủ mẹ nguy hiểm.
Địa bàn Thiên Nhuế khắc sao Thiên bàn: mẹ khắc con, chủ con chết.
Tuy nhiên, nếu được khí vượng tướng và gặp kỳ môn cát cách thì không ngại.
Nếu thời can lâm sao Thiên bàn rơi vào mộ của Địa bàn, chủ con chết trong bụng mẹ. Nếu cả Thiên bàn và Địa bàn đều gặp hung môn, hung cách, thì cả mẹ lẫn con đều nguy.
Lấy cửa (môn) lâm cung Khôn làm thai nhi:
Sản thất khắc cửa: thai không yên.
Cửa khắc cung Khôn: sản phụ thường xuyên bệnh.
Nếu gặp Phục ngâm: con luyến mẹ, thai ổn định nhưng sinh chậm.
Trên có Bạch Hổ thì sinh nhanh.
Cửa đến cung Khôn mà hưu tù, nhập mộ: có thể là thai chết lưu.
Nếu lâm Tam Kỳ (Ất, Bính, Đinh) thì là cát lợi.
3. Phán đoán thời điểm sinh
Thông thường lấy can ở Thiên bàn của cung xung với cung Khôn (cung đối xứng) làm thời điểm ứng nghiệm (kỳ sinh). Cũng có thể dùng các phương pháp đoán ứng kỳ khác như: ngày âm xem can trên Canh, ngày dương xem can dưới Canh, v.v.
