KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN DỤNG THẦN – PHẦN ĐOÁN VIỆC HỌC HÀNH, THI CỬ

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN DỤNG THẦN – PHẦN ĐOÁN VIỆC HỌC HÀNH, THI CỬ

  1. Phàm việc học hành thi cử:

  • Nếu thí sinh tự mình đến xem, lấy nhật can làm thí sinh.

  • Nếu cha mẹ đi xem thay cho con, lấy thời can làm thí sinh.

  • Ngoài ra cũng có thể xem thiên can năm sinh của thí sinh, lấy niên can làm dụng thần.

  • Lấy sao Thiên Phụ làm hội đồng coi thi (trường thi, cơ quan khảo thí).

  • Lấy Trực Phù làm chủ khảo hoặc giám khảo chính.

  • Lấy Trực Sử làm phó chủ khảo hoặc phó giám khảo.

  • Lấy Đinh kỳ làm bài văn (bài làm).

  • Lấy Cảnh Môn làm bài thi (đề thi, quyển thi).

  • Lấy niên can làm trường đại học nơi sẽ được tuyển.

  • Nếu là lớp bồi dưỡng, lấy Thiên Nhuế làm học viên, Trực Phù làm đơn vị tổ chức, Thiên Phụ làm giáo viên.

Nếu cung rơi của thí sinh vượng tướng, được tam kỳ, cát môn, cát cách, lại được sao Thiên Phụ, Trực Phù, niên can sinh trợ, thì có thể thi đỗ vào trường lý tưởng.

Nếu cung rơi của thí sinh vượng tướng, được tam kỳ, cát môn, cát cách, nhưng khắc sao Thiên Phụ, Trực Phù, niên can, thì vẫn có thể thi đỗ vào trường khá tốt.

Nếu cung rơi của thí sinh hưu tù vô lực, không được kỳ môn cát cách, nhưng được sao Thiên Phụ, Trực Phù, niên can sinh trợ, thì dù kết quả thi không tốt lắm, nhưng vẫn có thể đỗ.

Nếu cung rơi của thí sinh tử tuyệt, nhập mộ hoặc không vong, lại gặp hung môn, hung cách, và bị sao Thiên Phụ, Trực Phù, niên can khắc, thì chắc chắn không thể đỗ.

  1. Xem trạng thái cung rơi của Đinh kỳ và Cảnh Môn, cùng mối quan hệ sinh khắc với sao Thiên Phụ, Trực Phù, niên can, để phán đoán chất lượng bài làm và điểm số.

  • Cung rơi của Cảnh Môn đại diện cho điểm thi.

  • Cung rơi của nhật can đại diện cho số thí sinh đỗ.

  • Niên can sinh cung rơi của Đinh, Cảnh Môn, lại được cát cách, chắc chắn đỗ vào trường hạng nhất.

  • Niên can sinh Cảnh Môn, nhưng không được cát cách, có thể đỗ vào trường phổ thông.

  • Niên can không sinh Cảnh Môn, Đinh, nhưng Đinh tự mình vượng tướng, có thể đỗ diện đào tạo ủy thác, tự túc, hoặc học dự thính.

  • Niên can không sinh Đinh, Cảnh Môn, hoặc gặp phản ngâm, nhập mộ, hoặc rơi vào không vong, thì khó đỗ.

  • Niên can khắc Cảnh Môn, Đinh, chẳng những không đỗ, mà còn rước thêm phiền phức.

  1. Nếu Trực Phù (Thiên Ất) có ngũ hành sinh cho nhật can và ngũ hành của cung Cảnh Môn, đồng thới cung Đinh kỳ lại vượng tướng, ắt sẽ đỗ đạt thành danh.

  • Niên can gặp tam kỳ, cát môn, cát tinh: rất tốt lành.

  • Nếu được tam kỳ nhưng không được cát môn, thì danh khó đạt.

  • Nếu được cát môn nhưng không được tam kỳ, thì cuối cùng cũng sẽ thành công.