KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN HÔN NHÂN YẾU LƯỢC
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN HÔN NHÂN YẾU LƯỢC
I. YẾU LƯỢC DỰ ĐOÁN
Lấy Canh làm nam, lấy Ất làm nữ. Lấy nghĩa gả em gái của Giáp là Ất cho Canh làm vợ.
Nam lấy vợ, nữ gả chồng, trong bàn cục nếu chiếm được Thái Âm, Lục Hợp là hoàn mỹ. Âm, Hợp vượng tướng hoặc chúng tương phụ tương trợ, thì hôn nhân sau này hòa hợp tốt đẹp, hạnh phúc an vui. Nếu ở Đằng Xà, Chu Tước, thì kẻ môi giới (bà mai) ở giữa gây chuyện, lừa trai gạt gái, hai bên đều bị lừa. Nếu ở Câu Trần, Bạch Hổ, chắc chắn khó thành, nếu có thành thì nam nữ sẽ có một người chết yểu, nửa đường mất bạn. Nếu ở Cửu Địa, hôn nhân có thể thành nhưng rất chậm trễ. Nếu ở Cửu Thiên, hiện tại sẽ thành, có thể đi du lịch xa kết hôn. Nếu ở Huyền Vũ, phải cẩn thận, trong đó có thể có gian trá, hoặc sau cưới sẽ bỏ trốn sang nơi khác. Ở Trực Phù là tốt nhất, vạn vô nhất thất, viên mãn vừa lòng.
Nói chung:
Trực Phù là chủ hôn.
Đằng Xà có kẻ xúi giục.
Thái Âm là nam nữ tình thâm.
Lục Hợp là mối lái, lễ vật.
Bạch Hổ ngăn trở lại hình khắc.
Chu Tước miệng lưỡi, lừa gạt.
Cửu Địa là trì trệ, nhà trai nhà gái ở xa.
Cửu Thiên là nhà trai vui vẻ, khí vũ hiên ngang.
Tám môn nói về sự thành bại, phương hướng, tuổi tác trong hôn nhân. Nếu tương hợp không khắc thì nhất định thành. Nếu gặp Hưu không (Tuần không) thì uổng công vô ích.
Hưu là trung nam, tính chậm chạp, trì độn.
Sinh là thiếu nam, tuổi không bằng nữ, phần lớn nhỏ hơn nữ.
Thương là trưởng nam, nhà trai dễ thay đổi.
Đỗ là trưởng nữ, nữ phương tóc thưa, không dày, thường phản bội nhà trai.
Cảnh là trung nữ, thông minh lanh lợi, hư trá, gian manh, khéo nói nhưng thiếu chữ tín.
Tử là mẹ, cô, dì, ngang ngạnh.
Kinh là thiếu nữ, tuổi nhỏ hơn nam, nhưng có bệnh.
Khai là bậc trên, đại diện cho của hồi môn của nữ.
Mười can (Thập Can) luận về tướng mạo nam nữ và những việc lặt vặt trong hôn nhân. Tam Kỳ nhập mộ và Lục Nghi kích hình đều không tốt. Nếu nam nữ chính hợp thì viên mãn, nam nữ lệch hợp cũng thuận lòng.
Giáp: Là gia trưởng bên nam, chính trực, đôn hậu.
Ất: Là mối lái và dì hoặc mẹ bên nữ, thanh tú đẹp.
Bính: Là đối phương tính nóng vội.
Đinh: Là người mối lái đoan chính, nhu thuận.
Mậu: Là đối phương biết lễ, thông thư.
Kỷ: Là nữ phương đôn hậu, ôn nhu.
Canh: Là tổ tiên bên đối phương không chính đáng, hay nịnh, độc ác.
Tân: Là nữ phương khéo nói, hoặc tái giá.
Nhâm: Là mẹ bên đối phương khéo léo, xấu tính.
Quý: Là thời kỳ cưới, lại là mẹ chồng.
Chín sao (Cửu Tinh) dựa trên đặc điểm ngũ hành để luận tướng mạo và tính cách hai bên, cũng nói đến lý lẽ giàu nghèo sang hèn. Nhưng không thể nói ngay được, phải theo thời lệnh, vượng tướng, hình khắc phân tích cụ thể thì mới luận đoán chính xác:
Bồng: Mặt đen, người lùn, bộ phận sinh dục hoặc thận, hệ thống kinh huyết có bệnh.
Nhâm: Tính cách quái gở, tướng mạo xấu, mặt hơi vàng.
Xung: Đối phương người cao gầy, âm thanh vang dội.
Phụ: Đối phương giàu có, đoan trang, có tài có mạo.
Anh: Âm thanh vang dội, mặt hơi đỏ, trên mặt có đốm nhỏ li ti hoặc tàn nhang.
Nhuế: Mặt đối phương có đốm vàng đen nhỏ, lưng dày vai to hơi gù.
Cầm: Đối phương đoan trang, trọng ổn mà tú lệ, thân hình hơi mập.
Trụ: Đối phương thanh gầy, mặt trắng, giọng đột ngột, tuấn lệ.
Tâm: Đối phương dung mạo xinh đẹp, thanh tú, đa tài đa nghệ.
Chín cung (Cửu Cung) từ ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ khởi cục luận về thành bại hôn nhân, kiêm nói về tướng mạo, hình thái, trạng thái của đối phương:
Nếu thời giá trị khởi nguyên Thủy cục, hoặc rơi cung 1 (Khảm), đối phương nhiều dâm đãng phong lưu. Nếu được lệnh hoặc được cửa cát sinh hợp, người này xinh đẹp, trinh tĩnh, hiền thục, hôn nhân hòa hợp. Nếu thất lệnh hoặc bị hình khắc, hoặc phản ngâm thành cục, miễn cưỡng cũng sẽ gập ghềnh.
Nếu thời giá trị Hỏa cục cung 9 (Ly), được lệnh thì trai tài gái sắc, thông minh xinh đẹp; thất lệnh hoặc bị hình khắc, nhập mộ, chủ hôn nhân chia tay hoặc một bên chết yểu, tàn tật.
Nếu thời giá trị Mộc cục, được lệnh thì nữ thanh tú, hiền thục, diện mạo phong thái; nam thông minh, hào phóng, thân hình đầy đặn; thất lệnh hoặc bị hình khắc, chủ hôn nhân dâm đãng không kiềm chế, hoặc mắc bệnh tật, thương tật, đi lại khó khăn.
Nếu thời giá trị cung 6,7 (Càn, Đoài) Kim cục, được lệnh thì gia đình đối phương giàu có, danh môn, nhân vật thông minh tuấn tú, sau cưới vợ chồng hòa thuận, loan phượng hòa minh; thất lệnh hoặc phạm hình xung, tuần không, mộ phế, thì đối phương xấu xí, hoặc sau cưới một bên chết sớm thành cô quả.
Cát hung cách (các cách cục tốt xấu) dựa vào những gì thấy nghe hoặc người đến cầu đoán ngồi ở chỗ nào vào thời điểm đó để phán đoán cát hung hôn nhân:
Phản thủ (Giáp gia Canh): Rể quý như rồng (thành hôn tốt).
Điệt huyệt (Canh gia Giáp): Nàng dâu nghìn vàng (tốt).
Thiên độn: Vợ chồng bạc đầu (sống lâu bên nhau).
Hổ cuồng, Long tẩu (Bạch Hổ cuồng, Thanh Long tẩu): Hai bên tổn thương lẫn nhau.
Tam trá, ngũ giả: Làm vợ lẽ (lấp phòng).
Đắc sử, thủ hộ: Nữ tài giỏi mạnh mẽ.
Xà yêu kiểu: Nữ không lành.
Tước đầu giang: Mối lái không tốt.
Phục càn, phi càn: Hai bên tính hung hãn.
Phục cung, phi cung: Hai bên đều tốt đẹp (lương ngọc).
Đại cách, tiểu cách: Gà trống nuôi con, quả phụ (cô độc).
Hình bội cách: Nam nữ bạo tàn.
Tuế nguyệt cách: Bố mẹ chồng/vợ bất lợi.
Thời nhật cách: Vợ chồng không bền lâu.
Hiện doanh, bạch (Doanh nhập Bạch, Bạch nhập Doanh): Mỗi bên giữ ý riêng.
Bất ngộ hữu biến: Kích hình, cuồng.
Nhập mộ, la võng: Ắt gặp uất ức.
Phản vịnh, môn bách: Gây tai họa.
Nam nữ niên mệnh tương sinh tương hợp: Đầu bạc con cháu đầy sân.
II. CÁCH LẤY DỤNG THẦN
Trong dự đoán hôn nhân, cách lấy dụng thần là lấy Giáp coi Ất là em gái, lấy Canh coi Giáp là địch thủ. Giáp muốn làm dịu mâu thuẫn với Canh, nên hứa gả Ất làm vợ cho Canh.
Lục Canh là nam, Lục Ất là nữ, Lục Hợp là người mối lái.
Nếu cung Ất và cung Canh rơi vào tương sinh tương hợp thì việc mối lái thành; tương khắc thì không thành.
Cung Canh sinh cung Ất, chủ nữ thích nhà nam.
Cung Ất khắc cung Canh, nữ sợ nam mà không gả.
Cung Canh khắc cung Ất, nam chê nữ mà không cưới.
Nếu miễn cưỡng thành, ắt gặp hình khắc, hoặc vợ chồng bất hòa, hoặc một bên chết sớm.
Cung Ất được Kỳ Môn cát cách hoặc được hợp, thì nữ xinh đẹp phong tình, biết lễ thông thư; được Kỳ Môn hung cách, thì nữ mắc bệnh, xấu xí hung ác, hoặc tâm địa bất thiện; gặp Hàm Trì, Bồng Nguyên, thì phong lưu dâm đãng; gặp hình khắc, thì sau cưới chết sớm; Thiên bàn Ất mang kích, hình, thì nữ hung dữ; Thiên bàn Ất mang đức hợp, thì nữ hiền lành.
Cung Canh được Kỳ Môn cát cách, thì nam nghiêm chỉnh đường đường, biết lễ hiểu nghĩa; được Kỳ Môn hung cách, thì nam có bệnh, xấu xí hung ác; gặp Bồng Nguyên thì dâm đãng; gặp hình khắc thì bị thương tật.
III. CUNG ẤT VÀ CUNG CANH RƠI VÀO ĐÂU
Cung Ất và cung Canh hình thành cách vô trung sinh hữu hoặc tỉ hòa thì việc hôn nhân ắt thành.
Ất Kỳ nhập mộ, nữ chết yểu; cung Canh viêm vượng, nam chết sớm, vợ chồng không bền lâu.
Rơi cung 1 (Khảm): Mùa đông được lệnh thì trinh cố tĩnh; thất lệnh thì dâm đãng.
Rơi cung 2 (Khôn): Được lệnh thì đôn hậu; thất lệnh thì chí không kiên định.
Rơi cung 3 (Chấn): Mùa xuân được lệnh thì trinh cố tĩnh; thất lệnh thì dâm đãng.
IV. NẠP THIẾP (LẤY VỢ LẼ)
Vẫn lấy Canh làm nam, làm chồng; lấy Ất làm vợ cả; lấy Đinh làm người định lấy làm vợ lẽ.
Nếu cung Ất và Đinh sinh cung Canh, người nữ ấy nhất định chịu lấy.
Cung Ất, Đinh khắc cung Canh, ắt không muốn lấy.
Cung Ất và Đinh tỉ hòa, chủ vợ cả và vợ lẽ hòa thuận.
Cung Ất khắc cung Đinh, là vợ cả không dung nạp vợ lẽ.
Cung Đinh khắc cung Ất, là vợ lẽ muốn lấn át.
Cung Đinh rơi vào cung mộ, tuyệt, việc ắt không thành, thành cũng chẳng có lợi.
Cung Canh sinh cung Đinh, nam theo đuổi nữ nhưng công dã tràng.
