KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP DỰ ĐOÁN
DỰ ĐOÁN BỆNH TẬT
Dự đoán bệnh tật, lấy sao Thiên Nhuế (天芮) trong Cửu tinh làm ký hiệu chính đại diện cho bệnh tật, đồng thời kết hợp xem các cửa Tử Môn (死門), Thương Môn (傷門), Kinh Môn (驚門), Đỗ Môn (杜門), Cảnh Môn (景門) trong Bát môn.
Xem tam kỳ lục nghi mà Thiên Nhuế lâm đến, cũng như trạng thái của Bát thần ở trên, dựa vào đó để phán đoán tính chất và vị trí của bệnh; sau đó căn cứ vào cát hung của cách cục Kỳ Môn, trạng thái vượng tướng, hưu tù của tiết khí thời lệnh, cũng như quan hệ sinh khắc với bản thân người cầu đoán, tổng hợp phán đoán mức độ nặng nhẹ của bệnh, xu hướng phát triển và tiên lượng.
Lấy sao Thiên Tâm (天心) và Ất Kỳ (乙奇) làm ký hiệu đại diện cho bác sĩ và thuốc men, xem cung lạc của chúng với cung của sao bệnh Thiên Nhuế có quan hệ sinh khắc như thế nào, từ đó phán đoán sự thành bại và hiệu quả của việc điều trị.
DỰ ĐOÁN YÊU ĐƯƠNG HÔN NHÂN
Đoán yêu đương hôn nhân, thường lấy Ất Kỳ trên Thiên bàn làm bên nữ, lấy Canh (庚) trên Thiên bàn làm bên nam. Nếu hai cung lạc này tương sinh hoặc tỷ hòa, lại gặp cát môn cát cách, thì tình yêu có thể thành, hôn nhân tốt đẹp. Nếu hai cung tương xung tương khắc, việc hôn nhân khó thành, hoặc quan hệ vợ chồng không tốt. Lại lấy Lục hợp (六合) làm bà mối. Cung Lục hợp sinh cung Ất Kỳ, thì mối nghiêng về bên nữ; cung Lục hợp sinh cung Canh, thì mối nghiêng về bên nam.
Cung lạc của Ất Kỳ lâm cửa nào, sao nào, thần nào, cách cục gì, đại diện cho tính cách, thân thể, ngoại hình và trạng thái nghề nghiệp của bên nữ. Cung lạc của Canh lâm cửa, sao, thần, cách cục gì, đại diện cho tính cách, thân thể, ngoại hình và trạng thái nghề nghiệp của bên nam.
Với người đã kết hôn, không thể dùng can hợp với dụng thần để làm ký hiệu đại diện cho phối ngẫu, mà dùng trạng thái sinh, khắc, hình, xung, hại của hai cung lạc của họ để phán đoán hôn nhân của họ tốt xấu cát hung.
Nếu dự đoán những việc trọng đại như kết hôn hoặc ly hôn, còn có thể lần lượt xem người thứ ba của cả nam và nữ, lấy Bính Kỳ (丙奇) làm người đàn ông thứ ba xen vào giữa hai bên nam nữ.
DỰ ĐOÁN THAI NGHÉN
Phán đoán giới tính thai nhi: Lấy cung Khôn, sao Thiên Nhuế làm người mẹ; lấy sao trên Thiên bàn lâm cung Khôn làm thai nhi, sao dương là thai nhi nam, sao âm là thai nhi nữ. Trong đó, sao Thiên Cầm (天禽) lâm cung Khôn là sinh đôi, can dương là bé trai, can âm là bé gái. Lại lấy cửa lâm cung Khôn làm thai nhi, cửa dương là thai nam, cửa âm là thai nữ. Cũng có thể lấy Nhật can làm mẹ, Thời can làm con, dựa vào âm dương của Thời can cùng sao, cửa, cung lâm để phán đoán nam nữ. Ngoài ra còn có cách lấy Trực Phù (值符) làm bà đẻ, lấy Lục hợp hoặc Trực Sử (值使) làm thai nhi để lấy dụng thần.
Phán đoán tình trạng ngôi thai và việc sinh nở có thuận lợi hay không: Lấy cung Khôn làm phòng đẻ, Thiên Nhuế làm bà mẹ, sao trên Thiên bàn lâm cung Khôn làm thai nhi. Thiên Nhuế khắc sao trên Thiên bàn: chủ sinh nhanh. Sao trên Thiên bàn sinh sao dưới Địa bàn (Thiên Nhuế): con luyến bụng mẹ, sinh chậm. Sao trên Thiên bàn khắc sao dưới Địa bàn (Thiên Nhuế): là con khắc mẹ, chủ mẹ gặp hung. Sao dưới Địa bàn (Thiên Nhuế) khắc sao trên Thiên bàn: mẹ khắc con, chủ con chết. Nhưng nếu được khí vượng tướng, cùng cát môn cát cách trong Kỳ Môn thì không ngại. Nếu Thời can lâm sao trên Thiên bàn rơi vào mộ của Địa bàn, chủ con chết trong bụng mẹ. Nếu cả hai bàn Thiên - Địa thừa hung môn hung cách thì cả mẹ lẫn con đều hung.
Lại lấy cửa lâm cung Khôn làm thai nhi. Phòng đẻ khắc cửa: thai không yên. Cửa khắc cung Khôn: bà bầu thường xuyên bệnh. Nếu phục ngâm: con luyến bụng mẹ, thai ổn định nhưng sinh chậm. Trên thừa Bạch Hổ (白虎): chủ sinh nhanh, vì Bạch Hổ là thần huyết quang. Cửa đến cung Khôn nếu hưu tù nhập mộ, có thể là thai chết. Nếu lâm tam kỳ thì là cát lợi.
Phán đoán ngày sinh: Thường lấy can trên Thiên bàn của cung đối xung với cung Khôn làm ứng kỳ. Cũng có thể dùng các phương pháp khác như: ngày âm xem can trên Canh, ngày dương xem can dưới Canh, v.v.
DỰ ĐOÁN CÔNG VIỆC
Dự đoán công việc, việc làm, bao gồm phân phối tốt nghiệp, tìm việc, cạnh tranh thăng tiến, thăng chức tư tưởng, lên xuống chức vụ, điều chuyển công tác, v.v.
Thường lấy Khai Môn (開門) đại diện cho công việc văn phòng và đơn vị; lấy Đỗ Môn (杜門) đại diện cho công việc võ nghiệp và đơn vị. Lấy Niên can đại diện cho cấp lãnh đạo cấp trên; lấy Trực Phù đại diện cho sếp trực tiếp; lấy Nguyệt can đại diện cho đồng nghiệp; lấy Nhật can đại diện cho người cầu đoán; lấy Thời can đại diện cho cấp dưới hoặc công nhân viên trong đơn vị.
Nhật can hoặc niên mệnh lạc cung vượng tướng, lại được cát môn, cát cách, cát thần: biểu thị bản thân có điều kiện tốt, được thiên thời địa lợi; lại được Khai Môn hoặc Đỗ Môn tương sinh, thì việc xin việc, đắc quan sẽ thuận lợi. Nếu Nhật can hoặc niên mệnh khắc Khai Môn hoặc Đỗ Môn, sau khi cố gắng cũng có thể có được công việc hoặc chức vụ. Nếu bản thân không được thiên thời địa lợi, lại bị Khai Môn hoặc Đỗ Môn xung khắc, thì chắc chắn không đạt được chức vụ hoặc công việc.
Khả năng thăng chức, thăng tư tưởng cũng như vậy: Một xem thiên thời, hai xem địa lợi, ba xem nhân hòa, bốn xem điều kiện bản thân và vận khí. Bản thân điều kiện tốt, lại được Niên can, Trực Phù, Khai Môn tương sinh, thì chắc chắn có thể thăng chức. Ngược lại thì không.
Khai Môn khắc dụng thần: quan văn bị giáng chuyển. Đỗ Môn khắc dụng thần: quan võ bị giáng chức. Phản ngâm chủ điều chuyển; không vong ắt bị cách chức; nhập mộ không chỉ bị giáng phạt mà còn có thể gặp tội lỗi. Thái tuế đến khắc: cấp trên không ưa; Trực Phù đến khắc: sếp trực tiếp không thích; Nguyệt can đến khắc: đồng nghiệp tham tấu; Thời can đến khắc: cấp dưới, quần chúng kiện cáo.
Lại lấy Khai Môn làm quan tinh, dựa vào Cửu tinh lâm trên đó để biết nhân phẩm. Khai Môn thừa cát tinh là người tốt, hung tinh là kẻ ác. Lâm Thiên Phụ (天輔): văn nhã; Thiên Nhậm (天任): từ tường; Thiên Tâm (天心): chính trực; Thiên Cầm (天禽): trung hậu; Thiên Xung (天衝): phong lệ; Thiên Anh (天英): hôn liệt; Thiên Nhuế (天芮): tham độc; Thiên Trụ (天柱): gian trá; Thiên Bồng (天蓬): đại ác.
Đối với cán bộ quân đội và binh sĩ chuyển ngành hoặc xuất ngũ, có thể lấy Đỗ Môn làm cấp trên, lấy Nhật can làm người xuất ngũ. Nếu Đỗ Môn sinh Nhật can: chủ công việc cần, lãnh đạo muốn giữ bạn, không cho chuyển ngành hoặc xuất ngũ. Nếu Đỗ Môn khắc Nhật can: thì cho xuất ngũ. Tỷ hòa cũng cho xuất ngũ. Nếu Nhật can thừa Thanh Long đào tẩu (青龍逃走) hoặc Doanh nhập Bạch (熒入白), ắt phải xuất ngũ; nếu thừa Bạch nhập Doanh (白入熒), Hổ cuồng (虎猖狂), thì không thể xuất ngũ. Nếu Nhật can lâm Xà yêu kiểu (蛇夭矯), thì có thể bị kiện tụng quấn thân, muốn xuất ngũ cũng không được. Nếu thấy cách Đại cách (大格) hoặc Tước đầu giang (雀投江) hung cách, thì có thể bị sa thải.
DỰ ĐOÁN KINH DOANH CẦU TÀI
Dự đoán kinh doanh cầu tài, thường lấy Nhật can làm người cầu đoán, lấy Thời can làm tiền tài hoặc hàng hóa; lấy Giáp Tý Mậu (甲子戊) trên Thiên bàn làm vốn, lấy Sinh Môn (生門) làm lợi tức; lấy Trực Phù làm chủ hàng, Trực Sử làm người mua hàng; lấy Lục hợp làm người môi giới, Nguyệt can làm đối thủ cạnh tranh; lấy sao lâm Sinh Môn làm tài tinh; lấy Trực Phù và Cảnh Môn làm thị trường; lấy cung lạc của Thời can và Trực Sử làm hạng mục kinh doanh; lấy cung lạc của Khai, Hưu, Sinh làm hướng đắc tài; lấy cung lạc của Sinh Môn làm số lượng đắc tài; lấy Khai Môn làm cửa hàng, mặt tiền; lấy Sinh Môn làm nhà cửa; lấy Tử Môn làm đất đai; lấy Trực Phù làm chủ tài sản hoặc ngân hàng, lấy Trực Sử làm người vay mượn; Trực Phù là ngân hàng cho vay, lấy Thiên Ất (sao dưới Địa bàn của Trực Phù) làm người vay hoặc người đi vay; lấy Trực Phù làm chủ nợ, lấy Thiên Ất làm con nợ, lấy Thương Môn làm người đòi nợ, v.v.
Sinh Môn lạc cung vượng, lại được kỳ, được cát cách: thì lợi nhuận lớn; tướng thì hòa; hưu tù thì lợi nhỏ; nếu hưu tù lại gặp hung cách: không lợi, lỗ vốn. Giáp Tý Mậu trên Thiên bàn và Sinh Môn lạc không vong, phản ngâm, mộ tuyệt, lại có hung cách hung thần: không những không được tài, trái lại còn gây thị phi. Giáp Tý Mậu và Sinh Môn trên thừa cát tinh thì việc càng tốt, thừa hung tinh thì có phần hung. Cũng có thể dựa vào can trên thừa của Giáp Tý Mậu dưới Địa bàn để phán đoán số lượng đắc tài.
Thời gian đắc tài: Giáp Tý Mậu và Sinh Môn cùng lạc nội bàn: khoảng cách gần, tốc độ nhanh; một trong một ngoài: chậm; cả ở ngoại bàn: càng chậm, càng xa. Nếu Giáp Tý Mậu cùng cung với Khai Môn: đắc tài nhanh chóng. Lại lấy địa chi của cung Thời can dưới Địa bàn để định ứng kỳ, làm năm, tháng, ngày, giờ đắc tài. Phục ngâm: lấy địa chi của cung đối xung với Sinh Môn làm ứng kỳ.
DỰ ĐOÁN XUẤT HÀNH DU HỌC (ĐI NƯỚC NGOÀI)
Xuất hành đi nước ngoài, thường lấy cung lạc của Nhật can làm người đi. Xem hướng nào, nếu hướng đó có cát cách cát môn đến sinh cung Nhật can thì thuận lợi; nếu không có cát môn cát cách nhưng cung Địa bàn hướng đó tỷ hòa với cung Nhật can cũng thuận lợi. Nếu cung Nhật can được cát môn cát cách, khắc cung hướng định đi, thì cũng có thể đi. Nếu hướng đi có cát môn cát cách nhưng khắc cung Nhật can, tuy có thể cố gắng đi nhưng ắt không thuận. Nếu hướng định đến gặp hung môn hung cách, lại đến xung khắc cung Nhật can, thì đại hung. Nếu hướng định đến là nơi Thời can không vong hoặc là mộ địa của Nhật can, thì bất lợi. Nếu Nhật can hoặc niên mệnh hình, mộ, không vong ở cung hướng xuất hành, cũng bất lợi. Đồng thời, cũng có thể xem thêm quan hệ giữa Nhật can và Thời can để hỗ trợ phán đoán lợi hại cát hung của việc xuất hành.
Xuất hành bằng xe: Lấy cung lạc của Cảnh Môn làm đường đi, lấy Thương Môn làm xe. Gặp cách hung "Bạch nhập Doanh" (白入熒) dễ bị trộm cướp; gặp "Doanh nhập Bạch" (熒入白) có thể gặp hỏa hoạn; lâm Thiên Bồng, Huyền Vũ có thể bị mất trộm tiền đồ.
Xuất hành bằng thuyền: Lấy cung lạc của Hưu Môn làm đường thủy, lấy Thương Môn làm thuyền. Nếu gặp hung cách "Thanh Long đào tẩu" (青龍逃走) hoặc "Bạch Hổ cuồng" (白虎猖狂), có thể gặp bão tố; nếu gặp "Tước đầu giang" (雀投江), "Xà yêu kiểu" (蛇夭矯), có thể gặp nguy cơ chìm thuyền.
Nếu đi máy bay: Lấy cung lạc của Cửu Thiên (九天) làm đường bay, lấy Khai Môn làm máy bay, xem trạng thái lâm quan và cách cục của nó để định lợi hại cát hung.
DỰ ĐOÁN NGƯỜI ĐI MẤT TÍCH
Dự đoán người đi mất tích: Nếu lập quẻ theo thời điểm mất tích, thường lấy Nhật can làm dụng thần. Nếu lập quẻ theo thời điểm hỏi, thường lấy quan hệ lục thân để lấy dụng thần: cha mẹ hỏi con cái mất tích lấy Thời can; hỏi người cùng thế hệ lấy Nguyệt can; hỏi người cao tuổi lấy Niên can. Đồng thời, cũng có thể lấy niên mệnh của người đi làm dụng thần.
Phương hướng người đi mất tích: Sách cổ thường lấy cung Lục hợp làm phương hướng bắt đầu mất tích. Kinh nghiệm cho thấy, thông thường, cung Lục hợp là hướng người đi bắt đầu mất tích; cung Trực Phù, cung Trực Sử ở giữa có thể là điểm dừng chân; còn hướng cuối cùng tìm thấy hoặc chết thường là hướng của cung dụng thần (bao gồm niên mệnh). Nếu người mất tích cố ý trốn, cung Đỗ Môn có thể là hướng trốn. Nếu Cửu tinh hoặc Bát môn phản ngâm, hoặc cung dụng thần gặp không vong, thì cung đối xung với cung dụng thần có thể là hướng mất tích. Lại dùng nội bàn ngoại bàn để phân xa gần: Dương độn, dụng thần lạc cung 1,8,3,4 là nội (gần); cung 9,2,7,6 là ngoại (xa). Âm độn thì ngược lại.
Sự an nguy cát hung của người đi ở bên ngoài: Chủ yếu dựa vào cách cục cung dụng thần để phán đoán. Nếu dụng thần vượng tướng, lại lâm tam kỳ, cát môn, cát cách, cát thần, cát tinh thì bình an vô sự. Nếu cung dụng thần được Thái tuế, Nguyệt can, Nhật can hoặc Thời can tương sinh thì có người giúp đỡ. Nếu dụng thần hưu tù vô lực, lại gặp hung tinh, hung thần, hung môn, hung cách, hoặc nhập mộ, không vong, lục nghi kích hình, thì không tốt hoặc đại hung.
(Trùng lặp với mục 3, có thể lược bỏ hoặc giữ nguyên để sát bản gốc)
Người đi mất tích, có thể tìm thấy hoặc tự về không? Thường nếu Nhật can và Thời can cùng cung, hoặc Thời can sinh Nhật can, thì dễ tìm thấy hoặc tự về. Nhật can sinh Thời can, Nhật can khắc Thời can, hoặc Thời can khắc Nhật can, thì khó về. Dụng thần vượng tướng, lại lâm bốn cửa Khai, Hưu, Sinh, Đỗ thì khó tìm; dụng thần hưu tù, lại lâm bốn cửa Thương, Cảnh, Tử, Kinh thì có tin tức, có thể tìm thấy hoặc tự về. Dụng thần thừa Cửu Địa, Thái Âm: có thể có người giấu; thừa Cửu Thiên: đi xa; thừa Huyền Vũ: bị lừa; thừa Đằng Xà: có người tra hỏi, giam giữ; thừa Bạch Hổ: đề phòng hình thương; thừa Trực Phù, Lục hợp: an toàn vô sự. Ngoài ra, phục ngâm thì khó về, phản ngâm thì ắt về.
Ngày trở về: Một là dùng dụng thần và Trực Phù để định ứng kỳ: tuần không thì lấy thời điểm lấp đầy hoặc xung đầy; gặp xung thì lấy hợp; gặp hợp thì lấy xung. Hai là dùng cách Canh (庚 cách) để định ứng kỳ: gặp cách năm thì về trong năm, cách tháng thì về trong tháng, cách ngày thì về trong ngày, cách giờ thì về trong giờ; ngày âm xem can trên Canh, ngày dương xem can dưới Canh làm ứng kỳ; hoặc xem Thời can: Thời can lâm âm tinh thì lấy can trên Canh, lâm dương tinh thì lấy can dưới Canh. Ba là xem Mã tinh: lúc Mã tinh động hoặc bị xung động là ứng kỳ.
DỰ ĐOÁN MẤT TIỀN ĐỒ
Mất tiền đồ, thường lấy cung Nhật can làm chủ nhân mất đồ, lấy cung Thời can làm tiền đồ bị mất. Nếu Nhật, Thời cùng cung: là không mất, có thể tìm thấy. Nếu cung Thời can thừa khí vượng tướng đến sinh cung Nhật can: cũng có thể tìm lại. Phản ngâm cũng chủ tìm lại được. Ngược lại, khó tìm. Thời can lạc không vong, mộ, tuyệt cũng chủ khó tìm.
Nhật can và Thời can cùng ở nội bàn: đồ mất ở trong nhà hoặc nơi gần. Cùng ở ngoại bàn: đồ mất ở bên ngoài hoặc xa. Nhật can ở nội, Thời can ở ngoại: mất ở bên ngoài. Nhật can ở ngoại, Thời can ở nội: mất ở trong nhà.
Nếu Thời can lâm Huyền Vũ: có thể bị người lấy trộm hoặc tự mình quên. Nếu cung Thời can bị cung Huyền Vũ hoặc Thiên Bồng khắc: có thể bị kẻ trộm lấy. Huyền Vũ thừa dương tinh là đàn ông, thừa âm tinh là đàn bà; vượng tướng hữu khí là thanh niên, hưu tù vô khí là người già.
Thời gian tìm thấy tiền đồ mất: Thường lấy ngày giờ Thời can sinh Nhật can làm ứng kỳ; hoặc theo cách Canh mà đoán: âm can tìm trên Canh, dương can tìm dưới Canh; nhập kho thì lấy ngày giờ xung ra làm ứng kỳ; tuần không thì lấy ngày giờ lấp đầy làm ứng kỳ, v.v.
DỰ ĐOÁN HỌC HÀNH THI CỬ
Học hành thi cử: Nếu bản thân thí sinh tự đoán, lấy Nhật can làm thí sinh. Nếu cha mẹ hỏi con cái thi cử, lấy Thời can làm thí sinh. Đồng thời, cũng có thể xem niên mệnh thí sinh (can năm sinh) làm dụng thần.
Thường lấy sao Thiên Phụ (天輔) làm hội đồng coi thi, lấy Trực Phù làm giám khảo chính, lấy Trực Sử làm phó giám khảo, lấy Đinh Kỳ (丁奇) làm bài văn, lấy Cảnh Môn làm bài thi; lấy Niên can làm trường tuyển sinh.
Thí sinh lạc cung vượng tướng, được tam kỳ, cát môn cát cách, lại được Thiên Phụ, Trực Phù, Niên can tương sinh: có thể thi đỗ vào trường mong muốn. Thí sinh lạc cung vượng tướng, được tam kỳ, cát môn cát cách, khắc được Thiên Phụ, Trực Phù, Niên can: cũng có thể đỗ vào trường khá. Thí sinh lạc cung hưu tù vô lực, không được kỳ môn cát cách, nhưng được Thiên Phụ, Trực Phù, Niên can tương sinh: tuy kết quả thi không tốt, nhưng vẫn có thể đỗ. Nếu thí sinh lạc cung tử tuyệt nhập mộ hoặc không vong, lại gặp hung môn hung cách, lại bị Thiên Phụ, Trực Phù, Niên can khắc: chắc chắn trượt.
Đinh Kỳ là bài văn của thí sinh, Cảnh Môn là bài thi, xem trạng thái cung lạc của chúng và quan hệ sinh khắc với Thiên Phụ, Trực Phù, Niên can, từ đó phán đoán chất lượng làm bài và điểm số.
DỰ ĐOÁN ÁN HÌNH SỰ
Tội phạm hình sự bao gồm trộm cắp, cướp, lưu manh, giết người, cũng như tham nhũng hối lộ, v.v.
Trong dự đoán Kỳ Môn: Đối với trộm cắp tài sản thông thường, cưỡng hiếp lưu manh, phạm tội kinh tế nhẹ, thường lấy Huyền Vũ (玄武) làm dụng thần. Đối với cướp giết người, giết người do tình, tham nhũng hối lộ nghiêm trọng, thường lấy sao Thiên Bồng (天蓬) làm dụng thần. Đồng thời, Giáp Ngọ Tân (甲午辛) là kẻ có tội, phàm người phạm sai lầm hoặc phạm tội đều có thể lấy Tân trong lục nghi làm dụng thần để hỗ trợ phán đoán.
DỰ ĐOÁN KIỆN TỤNG
Dự đoán kiện tụng: Thường lấy Trực Phù làm nguyên đơn, lấy Thiên Ất (sao dưới Địa bàn cung Trực Phù) làm bị đơn (sách cổ và sách nay có lấy Ất Kỳ làm bị đơn, nhưng về mặt dịch lý không thông, thực tế kiểm nghiệm cũng không chính xác). Lấy Khai Môn làm thẩm phán, lấy Lục hợp làm nhân chứng, chứng cứ; lấy Cảnh Môn làm đơn kiện; lấy Đinh Kỳ làm trát tòa; lấy Kinh Môn làm luật sư.
Trực Phù lạc cung vượng tướng hữu khí, lại thừa cát môn, cát tinh, cát cách đến khắc cung Thiên Ất: nguyên đơn thắng. Nếu Thiên Ất lạc cung vượng tướng hữu khí, lại thừa cát môn, cát tinh, cát cách đến khắc cung Trực Phù: bị đơn thắng. Nếu hai cung tỷ hòa, thì có thể hòa giải. Nếu cung Trực Phù sinh cung Thiên Ất: nguyên đơn chủ động hòa giải. Nếu cung Thiên Ất sinh cung Trực Phù: bị đơn chủ động hòa giải.
Khai Môn lạc cung vừa khắc Trực Phù vừa khắc Thiên Ất: thẩm phán liêm minh, xét xử công bằng. Khai Môn sinh Trực Phù: thẩm phán nghiêng về nguyên đơn. Khai Môn sinh Thiên Ất: thẩm phán nghiêng về bị đơn. Nếu Khai Môn nhập mộ: thẩm phán hồ đồ, xét xử không sáng suốt. Khai Môn lạc không vong: không xét xử. Phản ngâm: cần thay quan tòa khác xét xử.
Đơn kiện có được thụ lý hay không: Lấy Cảnh Môn làm dụng thần, đại diện cho đơn kiện. Nếu Cảnh Môn lạc cung vượng tướng, lại được tam kỳ cát tướng, lời lẽ chân thành, không bị Khai Môn xung khắc, thì ắt được thụ lý. Nếu bị Khai Môn xung khắc, thì không thụ lý. Nếu Cảnh Môn lạc cung không vong, lại thừa Huyền Vũ hoặc Đằng Xà: chủ sự việc thưa kiện không đúng sự thật. Nếu cung Lục hợp gặp không vong thì chứng cứ không đầy đủ.
Dự đoán có bị kết án hay không: Lấy Giáp Ngọ Tân làm kẻ có tội; lấy Nhâm làm Thiên lao; lấy Quý làm Địa võng. Giáp Ngọ Tân lâm Nhâm, Quý: ắt có tù ngục; lâm tam kỳ, đặc biệt là Đinh Kỳ, thì có thể được tha bổng. Kết hợp với quan hệ sinh khắc với cung Khai Môn để tổng hợp phán đoán.
Nếu bản thân tội phạm hoặc người thân tự đoán, cũng có thể lấy Nhật can hoặc quan hệ lục thân để lấy dụng thần; lấy Tân làm Thiên ngục, Nhâm làm Địa lao, Quý làm Địa võng. Nếu cung dụng thần, dưới lâm Tân: chủ bị giam cầm; lâm Nhâm, Quý: bị rơi vào Thiên lao Địa võng, chờ ngày xung phá sẽ ra. Nếu Nhâm, Quý trên Thiên bàn lâm dưới Địa bàn Tân: là võng lao trùm đầu, chủ bị giam cầm lâu dài. Nếu dụng thần lạc cung không vong, thì sẽ không bị tù.
DỰ ĐOÁN THI ĐẤU THỂ THAO
Kỳ Môn dự đoán cùng một sự vật có nhiều dụng thần, phân tích tổng hợp sẽ cho độ chính xác cao hơn.
Khi nhiều đội thi đấu cùng lúc: đội thứ nhất tương ứng với giờ Tý (số 1); đội thứ hai tương ứng với giờ Sửu (số 2); các đội khác suy ra tương tự.
DỰ ĐOÁN ĐỊA LÝ MÔI TRƯỜNG (PHONG THỦY)
Dự đoán địa lý môi trường: Thường lấy Nhật can làm người, lấy Thời can làm nhà ở. Thời can lâm tam kỳ cát môn cát tinh cát thần cát cách, thừa vượng tướng đến sinh Nhật can: thì là nhà tốt nhất, môi trường sống có lợi nhất cho con người. Nếu Thời can không lâm tam kỳ cát môn, nhưng lâm cát tinh cát thần cát cách thừa vượng tướng đến sinh cung Nhật can: cũng là nhà khá tốt. Nếu Thời can lâm có cát có hung: là nhà trung bình. Nếu Thời can lâm hung môn, hung tinh, hung thần, hung cách, lại đến khắc cung Nhật can: đương nhiên là nhà đại hung. Cụ thể cát hung, lại căn cứ vào quan hệ sinh khắc của sao, môn, cung để phân tích cụ thể.
Đoán nhà dương trạch: Thường lấy Sinh Môn làm nhà cửa, lấy Tử Môn làm đất nền (nền nhà), rồi dựa vào trạng thái vượng tướng, hưu tù và quan hệ sinh khắc với Nhật can để phán đoán tốt xấu. Lại lấy Trực Phù làm nhà mới, Trực Sử làm nhà cũ.
Đoán âm trạch (mộ phần): Thường lấy Tử Môn làm dụng thần. Địa bàn cung Tử Môn là người chết, Thiên bàn là người sống. Cát thần cát tinh lại được tam kỳ, trên dưới tương sinh: cát; hung thần hung tinh không được kỳ và trên dưới tương khắc: hung. Thiên bàn khắc Địa bàn: bất lợi cho người chết; Địa bàn khắc Thiên bàn: bất lợi cho người sống. Ngoài ra, Tử Môn lạc các cung 2, 5, 8, 9 là cát; lạc cung 6, 7 là thứ cát; lạc cung 1, 3, 4 là không cát.
DỰ ĐOÁN NHÂN SINH CUỘC ĐỜI (VẬN MỆNH)
Dự đoán tố chất tiên thiên và cơ hội lớn hậu thiên của một người, có thể thông qua cách cục Kỳ Môn theo thời gian sinh để phân tích. Thường lấy cung lạc của Nhật can làm bản thân. Trong gia đình: lấy Niên can làm cha mẹ, Nguyệt can làm anh chị em, Thời can làm con cái. Trong xã hội: lấy Niên can làm cấp lãnh đạo, Nguyệt can làm đồng nghiệp bạn bè, Thời can làm cấp dưới quần chúng. Lấy Cửu tinh làm thiên thời, Bát môn làm nhân sự, Cửu cung làm địa lý, Bát thần làm lực lượng tự nhiên. Kết hợp với thời lệnh và cung lạc để phân tích vượng tướng, hưu tù; kết hợp cách cục để phân tích cơ hội tốt xấu; thông qua ngũ hành sinh khắc chế hóa để phân tích cát hung họa phúc.
Dự đoán cơ hội gần đây và vận trình của một người, có thể thông qua cách cục Kỳ Môn theo thời điểm hỏi để phân tích. Thường lấy Nhật can làm bản thân, kết hợp với cung lạc của niên mệnh để tổng hợp phán đoán. Cũng có thể kết hợp phương vị cung lạc của người đến để hỗ trợ phán đoán.
