KỲ MÔN ĐỘN GIÁP HOÀNG ĐẾ ÂM PHÙ KINH ÁO NGHĨA CHÂN GIẢI
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP HOÀNG ĐẾ ÂM PHÙ KINH ÁO NGHĨA CHÂN GIẢI
(Tác giả: Khôn Ngọc - chú thích: Bài viết này lần đầu tiên thực sự giảng giải bộ kinh điển tuyệt thế "Âm Phù Kinh")
Âm Phù Kinh, còn gọi là Hoàng Đế Âm Phù Kinh, trước thời nhà Đường chưa từng được nghe thấy. Theo lời tựa của Lý Thuyên trong "Hoàng Đế Âm Phù Kinh Sớ", ông đã du ngoạn khắp danh sơn, tìm đạo khắp nơi, và tìm thấy bộ kinh này trong vách đá Hổ Khẩu, núi Thiếu Thất, tại Tung Sơn, Lạc Dương, Hà Nam. Kinh văn được viết trên lụa trắng, trục màu đỏ son, được phong trong hộp đá, trên phong có chữ: "Ngày mùng 7 tháng 7 năm Chân Quân thứ hai, Thượng Thanh đạo sĩ Khấu Khiêm Chi cất giữ trong danh sơn, để truyền cho người đồng đạo". Sau đó mới được sao chép và lưu hành trong thiên hạ, nhưng tác giả cụ thể không rõ. Toàn bộ Âm Phù Kinh tuy chỉ có hơn 400 chữ, nhưng lời ít ý sâu, có thể nói là thấu suốt huyền cơ của trời người, ý chỉ của nó thông suốt với Đạo Đức Kinh, cũng có thể coi là cương lĩnh của Đạo Đức Kinh. Do đó, tác giả chắc chắn là bậc cao nhân trí giả có cảnh giới tương đồng với Lão Tử, hoặc có thể do thần linh trực tiếp khải thị mà viết. Tác giả bài viết này cho rằng khả năng thứ hai lớn hơn. Đời sau có nhiều người chú giải kinh này, nhưng phần lớn coi nó như kinh điển về nội đan, binh pháp hay Kỳ Môn Độn Giáp để giải đọc, thực ra là thiên lệch một phía, làm lầm lạc người học sau. Âm Phù Kinh có nhiều bản, câu chữ không hoàn toàn nhất trí. Tác giả cho rằng nên lấy bản do danh thần thư pháp gia đời đầu Đường là Sở Toại Lương phụng sắc viết làm chuẩn. Nhiều bản truyền chia kinh này thành ba thiên thượng, trung, hạ, lần lượt đặt tên là "Thần Tiên Bảo Nhất Diễn Đạo Chương", "Phú Quốc An Dân Diễn Pháp Chương", "Cường Binh Chiến Thắng Diễn Thuật Chương", tác giả cho rằng hoàn toàn thừa thãi, không đáng tin cậy.
Về tên gọi của kinh này, Lý Thuyên cho rằng: "Âm là tối, Phù là hợp. Cơ trời ngầm hợp với cơ hành sự, cho nên gọi là Âm Phù". Đồng thời, Trương Quả lại cho rằng: "Tâm sâu xa vi diệu mà không gì không thấy, cho nên có thể soi chiếu bản tính tự nhiên. Bản tính chỉ có sâu xa vi diệu mới có thể soi chiếu, đó gọi là 'Âm'. Nắm giữ hạnh tự nhiên, không chấp vào đâu cả, cho nên không nắm bằng tay, mà nắm bằng cơ. Cơ biến thông không bị ràng buộc, cho nên có thể khế hợp với lẽ tự nhiên. Phàm biến thông mà có thể khế hợp, đó gọi là 'Phù'. Soi chiếu bằng tâm, khế hợp bằng cơ, thì nghĩa của 'Âm Phù' đã trọn." Thanh Trương Thanh Dịch cho rằng: "Chữ 'Âm' xưa gọi phân âm, thốn âm, chính là nghĩa của chữ 'thời' (giờ)". Nghĩa là thời cơ khế hợp. Tác giả cho rằng cả ba người đều có lý, không cần chấp nhất.
[Nguyên văn kinh và giải thích]
【Quán thiên chi đạo, chấp thiên chi hành, tận hĩ.】
(Quan sát đạo của trời, nắm giữ sự vận hành của trời, thế là đủ.)
Câu này là cương lĩnh của toàn bộ bài kinh. Người xưa thường không phân biệt trời và đạo. Ba chữ "Thiên chi đạo" ở đây chỉ chung vạn vật trong vũ trụ và các quy luật liên quan. Đạo Đức Kinh nói với chúng ta rằng: Đạo là bản nguyên, Trời là vật được sinh ra, Đạo lớn hơn Trời, tức là Lão Tử đã nói "Người pháp Đất, Đất pháp Trời, Trời pháp Đạo". Đạo là gì? Là Thần, là Thượng Đế, là bản nguyên tuyệt đối của thế giới vũ trụ. Giải thích cụ thể xin xem bài viết khác của tác giả "Lão Tử nói Đạo là gì", ở đây không bàn lại. Vạn vật trong vũ trụ và các quy luật liên quan, đều xuất phát từ sự sáng tạo của Đạo (Thần). Thần mượn các hiện tượng tự nhiên để bày tỏ sự hiện hữu của Ngài, như các hiện tượng tự nhiên: sự vận chuyển của các chòm sao, mặt trời đi mặt trăng đến, mây gió sấm mưa, ngày đêm nóng lạnh, sự biến đổi của 24 tiết khí; các hiện tượng về người: sinh lão bệnh tử, hưng suy thành bại, cát hung họa phúc, v.v., cũng như sự sinh, khắc, chế, hóa giữa âm dương ngũ hành trong vạn vật. Con người muốn tìm kiếm đạo tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, thì hãy quan sát thiên nhiên và các quy luật phản ánh từ các hiện tượng nhân sự, tuân theo các quy luật đó. Đó là cách đơn giản, hoàn thiện và vững chắc nhất, cho nên nói "tận hĩ" (thế là đủ). Trong "Chu Dịch – Hệ Từ – Hạ Truyện" có viết: "Xưa, Bào Hi thị (tức Phục Hy) trị vì thiên hạ, ngước lên xem tượng trên trời, cúi xuống xét phép dưới đất, xem văn của chim muông thú, với sự thích hợp của đất, lấy gần từ thân mình, lấy xa từ vạn vật, bèn bắt đầu làm ra Bát Quái, để thông suốt đức của thần minh, để phân loại tình của vạn vật." Chính là ý này. Đọc Đạo Đức Kinh, Dịch Kinh, Âm Phù Kinh và Thánh Kinh đều có thể giúp chúng ta hiểu được quy luật của Đạo.
【Thiên hữu ngũ tặc, kiến chi giả xương.】
(Trời có năm kẻ cướp, ai thấy được thì hưng thịnh.)
Tự nhiên có năm loại nguyên tố vật chất, gọi chung là Ngũ hành (năm hành), đó là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Ngũ hành là những chất căn bản tạo nên vạn vật. Ngũ hành hóa thành khí hậu trong tự nhiên là: phong (gió), hàn (lạnh), thử (nóng), thấp (ẩm), táo (khô). Ngũ hành hóa thành mùa là: Xuân, Hạ, Thu, Đông, thêm Trường hạ (mùa cuối hè) – tức năm mùa:
Mùa Xuân thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa, nên Hỏa ứng với mùa Hạ.
Hỏa sinh Thổ, Thổ ứng với Trường hạ (cuối hè).
Thổ sinh Kim, Kim ứng với mùa Thu.
Kim sinh Thủy, Thủy ứng với mùa Đông.
Phương vị trong tự nhiên cũng có tính chất Ngũ hành: Đông thuộc Mộc, Tây thuộc Kim, Nam thuộc Hỏa, Bắc thuộc Thủy, Trung tâm thuộc Thổ.
Ngoài ra:
Màu sắc có năm màu: xanh (thanh), đỏ (xích), trắng (bạch), đen (hắc), vàng (hoàng).
Âm thanh có năm âm: cung, thương, giác, chủy, vũ.
Vị có năm vị: chua (toan), mặn (hàm), đắng (khổ), cay (lạt – lạp), ngọt (cam).
Quá trình biến hóa của sự vật là: sinh, trưởng, hóa, thu, tàng.
Ứng vào cơ thể con người: Ngũ tạng: tâm (tim), can (gan), tỳ (lá lách), phổi (phế), thận; Ngũ quan: mắt, tai, miệng, lưỡi, mũi; hình thể: gân, xương, thịt, da, mạch; tình chí: giận (nộ), vui (hỷ), nghĩ (tư), buồn (bi), sợ (khủng).
Trong quy phạm luân lý: Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Trong Ngũ hành có tương sinh:
Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ.
Tương sinh nghĩa là sinh ra, nuôi dưỡng, giúp phát triển.
Trong Ngũ hành có tương khắc:
Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ.
Tương khắc nghĩa là chế ước, khắc chế lẫn nhau.
Trong điều kiện bình thường, quan hệ sinh và khắc của Ngũ hành cùng tồn tại, duy trì một trạng thái cân bằng động, thường diễn ra trong âm thầm, không ai biết, cho nên gọi là "ngũ tặc" (năm kẻ cướp). Nếu năng lượng của một hàng nào đó thay đổi (mạnh lên hoặc yếu đi), thì sự cân bằng này bị phá vỡ. Ví dụ:
Kim có thể khắc Mộc, nhưng nếu năng lượng của Mộc lớn hơn Kim, thì Kim không những không khắc được Mộc mà còn bị Mộc khắc ngược lại, gây tổn thương. Ví dụ: dùng một con dao bình thường chặt cây tần bì cứng, dao sẽ bị mẻ.
Cây cối cần nước để sinh trưởng bình thường, nhưng lũ lớn có thể nhổ bật cây lên cuốn đi.
Các trường hợp khác cũng suy tương tự.
Dưới đây là Ngũ hành quyết của Từ Đại Thăng để tham khảo:
Tương sinh – sinh quá mức (sinh nhiều hóa hại):
Kim dựa vào Thổ để sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.
Thổ dựa vào Hỏa để sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ bị khô cháy.
Hỏa dựa vào Mộc để sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa cháy quá mạnh.
Mộc dựa vào Thủy để sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc trôi dạt.
Thủy dựa vào Kim để sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy đục.
Sinh – sinh xuôi nhưng khi kẻ được sinh quá mạnh:
Kim sinh Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Kim chìm.
Thủy sinh Mộc, nhưng Mộc nhiều thì Thủy rút cạn.
Mộc sinh Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Mộc bị đốt cháy.
Hỏa sinh Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Hỏa bị che mờ (tối tăm).
Thổ sinh Kim, nhưng Kim nhiều thì Thổ suy yếu.
Khắc – khắc xuôi nhưng khi kẻ bị khắc quá mạnh:
Kim khắc Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị thiếu (dao mẻ).
Mộc khắc Thổ, nhưng Thổ nặng thì Mộc gãy.
Thổ khắc Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ chảy trôi.
Thủy khắc Hỏa, nhưng Hỏa cháy mạnh thì Thủy bị bốc hơi.
Hỏa khắc Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa tắt.
Hành suy gặp hành khắc:
Kim suy gặp Hỏa ắt bị tan chảy.
Hỏa yếu gặp Thủy ắt bị dập tắt.
Thủy yếu gặp Thổ ắt bị vũng bùn, tắc nghẽn.
Thổ suy gặp Mộc ắt bị sụp lở, vùi lấp.
Mộc yếu gặp Kim ắt bị gãy đứt.
Hành cường gặp hành sinh – để tiết bớt cường khí:
Kim mạnh gặp Thủy, mới mài sắc bớt.
Thủy mạnh gặp Mộc, mới làm chậm bớt thế chảy.
Mộc mạnh gặp Hỏa, mới tiết bớt tinh hoa.
Hỏa mạnh gặp Thổ, mới thu liễm ngọn lửa.
Thổ mạnh gặp Kim, mới hóa cái cứng cỏi.
Mọi vật mỗi khác, mọi việc mỗi khác, cho nên hình thức, quy mô của tương sinh, tương khắc cũng không giống nhau. Ai có thể phát hiện ra quy luật sinh khắc của Ngũ hành và hành động theo quy luật đó, thì có thể hưng thịnh, thành công. Cho nên nói: "kiến chi giả xương" (ai thấy được thì hưng thịnh).
Ngũ hành là nền tảng triết lý cơ bản của văn hóa truyền thống Trung Hoa. Bởi giá trị khách quan, thực tế của nó, hàng nghìn năm nay được truyền thừa và ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như Dịch học, thuật số, lịch pháp, y học, binh pháp, võ học, kiến trúc, phong thủy, hóa học, âm luật, v.v. Ví dụ: người giỏi Dịch có thể mượn Ngũ hành để suy diễn sự thành bại, hưng suy của sự vật; y học cổ truyền (Đông y) dùng lý thuyết Ngũ hành để chẩn đoán và chữa bệnh. Nhưng một số tín đồ Cơ Đốc giáo chỉ biết nửa vời, cắt nghĩa xa rời, coi triết lý Âm Dương Ngũ hành truyền thống cùng các môn học liên quan như khí công, Đông y (thuốc thang, châm cứu), Dịch học, phong thủy kiến trúc, nội gia võ học (như Thái cực quyền, Bát quái chưởng…) là phù thủy, xa lánh, thù ghét – thật khiến người ta vừa buồn cười vừa bất lực.
【Ngũ tặc tại tâm, thi hành ư thiên.】
(Năm kẻ cướp ở trong lòng, thi hành ở trên trời.)
Lòng người có thể phát hiện, thể sát được cơ sinh sát của ngũ tặc, cho nên gọi là "ngũ tặc tại tâm". Nhưng cơ sinh sát của ngũ tặc lại bị thượng thiên, tức là Thần (Thượng Đế), khống chế, cho nên gọi là "thi hành ư thiên". Nghĩa là con người có thể phát hiện và lợi dụng quy luật tự nhiên, nhưng không thể sáng tạo ra quy luật tự nhiên. Đấng sáng tạo ra quy luật tự nhiên là Thần.
Ngũ hành thuận (hòa hợp) thì: thân tâm an thái, mưa thuận gió hòa, ngũ cốc phong đăng, trăm nghề thịnh vượng.
Ngũ hành nghịch (trái ngược) thì: bệnh tật phát sinh, bốn mùa trái nghịch, hạn lụt không đều, tai họa nổi lên.
Đối với năm màu, năm âm, năm cốc, năm vị,... người khéo dùng thì lấy số lượng vừa phải, nhạt nhẽo (thanh đạm) là hơn, như vậy thì mắt sáng ruột sạch, tâm tính điều hòa, thân thể khỏe mạnh. Người không khéo dùng thì lấy đậm đặc, lợi lộc làm khoái khẩu, chẳng những vô ích, trái lại còn làm tổn thương dạ dày ruột, mê loạn tánh mạng, bệnh tật phát sinh, già yếu chết sớm. Cho nên Lão Tử nói: "Năm màu làm mắt người ta mù; năm âm làm tai người ta điếc; năm vị làm miệng lưỡi người ta thối; ruổi ngựa săn bắn làm lòng người cuồng; đồ khó kiếm làm hạnh người ta hư."
Quan hệ giữa người với người, quan hệ quốc tế cũng vậy. Ví dụ:
Nếu Ngũ thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) mất cân bằng (nghịch), thì: quan hệ giữa người với người trái ngược, phong tục xã hội không lành, trộm cướp nổi lên bốn phía, quan dân đối địch, thiên hạ không thái bình, các nước xâm lấn lẫn nhau.
Nếu Ngũ thường ở mức thích hợp (thuận), thì: quan hệ giữa người với người hòa thuận, phong tục xã hội thuần phác, quan thanh dân an, các nước hòa mục.
【Vũ trụ tại hồ thủ, vạn hóa sinh hồ thân.】
(Vũ trụ nằm trong tay, muôn biến hóa sinh ra nơi thân.)
Câu này có hai tầng nghĩa:
Tầng nghĩa thứ nhất: Chỉ Thần là Chủ tể của vũ trụ vạn vật. Vũ trụ, vạn vật bao gồm cả loài người đều xuất phát từ sự sáng tạo của Ngài, và sự biến hóa của chúng cũng nằm trong tay Ngài (Thần khống chế).
Tầng nghĩa thứ hai: Chỉ con người là linh vật của vạn vật. Thân người là một tiểu thiên địa (tiểu vũ trụ), có thể mượn tay và thân thể để cảm ứng ra sự biến hóa của tự nhiên vạn vật. Đây chính là toàn ảnh vũ trụ (vũ trụ toàn tượng). Ví dụ: chẩn đoán và chữa bệnh qua tay, qua tai trong Đông y; người luyện khí công có thành tựu có thể dùng cảm giác tay để chẩn bệnh, dùng tâm linh viễn cảm để dự đoán các sự vật, đều là biểu hiện của toàn ảnh vũ trụ. Lão Tử nói: "Không ra khỏi cửa, biết cả thiên hạ; không nhòm qua cửa sổ, thấy được đạo trời."
【Thiên tính, nhân dã; nhân tâm, cơ dã.】
(Tính trời là người; lòng người là cơ (khu then chốt).)
Kinh Thánh, Sáng Thế Ký viết: "Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một sinh linh sống, tên là A-đam." Sinh khí này chính là linh hồn của con người. Có linh hồn, con người mới là người sống, mới khác biệt với các loài động vật khác. Linh hồn này từ Thần mà đến, là tính trời ban, cho nên nhân tính (bản tính con người) cũng mang thần tính.
Loài người, bất kể phương Tây hay phương Đông, đều có những nhận thức chung về các quan niệm đạo đức như: thiện lương (tốt lành), tà ác, công bằng, hẹp hòi, giả dối, thành thật, dũng cảm, nhút nhát, khoan dung, ích kỷ… Điều đó chứng tỏ loài người có một luật đạo đức chung. Luật đạo đức này đến từ Thần. "Ta (Thần) sẽ đặt luật pháp của Ta trong lòng chúng, viết vào tâm trí chúng." (Hê-bơ-rơ 8:10).
Cơ (機) là then chốt, là trung tâm, là bộ phận cốt lõi. Lòng người (tâm) chính là linh hồn, là then chốt của con người, cho nên cũng gọi là "cơ". Cơ này đến từ Thần.
【Lập thiên chi đạo, dĩ định nhân dã.】
(Lập nên đạo của trời, để định yên cho người.)
Câu này có hai tầng nghĩa:
Thứ nhất: Ban đầu Thần sáng tạo vũ trụ tự nhiên, mục đích là để con người được hưởng một môi trường sinh tồn an định, tốt đẹp. Bởi vì Thần vào ngày cuối cùng mới tạo nên loài người theo hình ảnh của chính Ngài, và ban cho con người những đặc quyền mà các loài thọ tạo khác không có: "Đức Chúa Trời ban phước cho họ và phán: Hãy sinh sôi nảy nở, làm đầy dẫy đất, và quản trị đất; hãy làm chủ cá ngoài biển, chim trời và mọi sinh vật di động trên mặt đất." (Sáng Thế Ký). Có thể thấy Thần đặt con người vào vị trí cao nhất trong các loài thọ tạo. Lão Tử nói: "Đạo lớn, Trời lớn, Đất lớn, Người cũng lớn. Trong bốn thứ lớn ấy, con người là một."
Thứ hai: Thần sáng tạo vũ trụ tự nhiên đồng thời cũng sáng tạo ra quy luật vận hành của nó, tức là thiên đạo (đạo trời). Con người tuân theo thiên đạo thì được an định, bằng không sẽ xảy ra bạo loạn, tai họa. Ví dụ: quỹ đạo vận hành của mặt trời, mặt trăng, các vì sao; lực hấp dẫn của các vật thể trên trái đất; sự biến đổi của 24 tiết khí; sự lưu thông của khí trong kinh lạc cơ thể con người (tử ngọ lưu chú); cũng như sinh, lão, bệnh, tử; thủy triều lên xuống… đều là những quy luật tự nhiên do Thần định ra.
Ngoài ra, Thần còn đặt ra cho con người một số điều răn đặc biệt, đó cũng là một phần của thiên đạo. Ví dụ: Thần phán với A-đam: "Các loại cây trong vườn (vườn Ê-đen), ngươi được tự do ăn; nhưng cây biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ăn thì chắc chắn sẽ chết." Đáng tiếc, vợ của A-đam là Ê-va bị Sa-tăng cám dỗ, đã ăn trái cây biết điều thiện điều ác, vi phạm điều răn của Thần mà phạm tội. Vì vậy Thần đuổi họ ra khỏi vườn Ê-đen, và kế hoạch cứu rỗi của Thần cũng bắt đầu được triển khai. Lại ví dụ: Thần trên núi Si-nai ban mười điều răn cho Môi-se, để ràng buộc và dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên sống thánh khiết. Bước sang Tân Ước, điều răn của Thần là: ai tin Chúa Giê-xu Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá làm của lễ chuộc tội cho nhân loại, thì người đó sẽ được cứu. Điều răn này sẽ kéo dài cho đến ngày tận thế – ngày Chúa Giê-xu tái lâm.
【Thiên phát sát cơ, di tinh dịch tú.】
(Trời phát cơ sát, dời sao đổi chòm.)
Khi thượng thiên phát động cơ sát (máy móc giết chóc) thì các vì sao dời chỗ, sao băng rơi xuống. Nghĩa là trước khi trời giáng đại họa (bao gồm thiên tai lớn, sự kiện quốc gia, sự kiện nhân sự) xuống thế gian, ắt có hiện tượng thiên văn dị thường xuất hiện.
Kinh Dịch nói: "Xem xét văn trên trời (thiên văn), để xét sự biến đổi của thời; xem xét văn của người (nhân văn), để cảm hóa trong thiên hạ." Thiên văn chỉ hiện tượng bầu trời, bao gồm sự thay đổi hình dạng của các vì sao cố định (hằng tinh), sao hành tinh, sao biến quang cũng như mây khí v.v. Người xưa rất coi trọng quan sát thiên văn, mục đích là để biết được sự cát hung của quốc gia và của con người, và đã truyền lại môn thuật chiêm tinh chuyên biệt. Đối với các bậc đế vương thời xưa, đó là để biết được sự thay đổi về chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội mà thiên tượng báo hiệu. Nếu thiên tượng có dị, ắt là điềm cảnh báo của thượng thiên, hoặc sắp có đại họa xảy ra. Vì vậy các đế vương xưa thường đặt chức quan chuyên xem thiên văn, để quan sát thiên tượng, tra xét tai dị, thậm chí xây đài quan sát tinh tú để dễ bề nghiên cứu.
Ví dụ: Cuối năm 2008, các nhà khảo cổ học phát hiện ở phía bắc Thiểm Tây di chỉ đài thiên văn toàn sao thời Tần, diện tích 28.000 km vuông, do tướng quân nhà Tần là Mông Điềm chủ trì xây dựng, kéo dài 6 năm mới hoàn thành. Nó bao gồm 1.424 nền đất hình tròn hoặc elip, lần lượt tương ứng với 332 vì sao hoặc sao quản trên trời, lại còn tương ứng với lãnh thổ, núi sông, các quận huyện, thành quách, cung đình vườn tược, quan văn võ, quân đội, nhà tù, trăm nghề xã hội, đời sống thường nhật… của đế quốc Tần – thực sự khiến người đời nay phải thán phục.
Tuy nhiên, bên cạnh việc kính sợ thượng thiên, Tần Thủy Hoàng vẫn không từ bỏ chính sách hà khắc và bạo ngược của mình, khiến dân chúng oán thán. Một năm trước khi Tần Thủy Hoàng qua đời (tức năm 211 trước Công nguyên), ở quận Đông thuộc nước Tần có một khối thiên thạch rơi từ trời xuống, trên đá lại khắc sáu chữ lớn: "Thủy Hoàng chết, đất phân chia." Trước đó, một tấm bia đá cũng khắc một lời sấm: "Kẻ làm mất Tần là Hồ." Hai lời tiên tri báo trước cái chết của Tần Thủy Hoàng và sự phân chia vương triều sau khi ông chết, điều này khiến Tần Thủy Hoàng ăn không ngon ngủ không yên. Theo sự hiểu của riêng ông, kẻ diệt Tần là người Hồ ở phía bắc, vì vậy đã nhiều lần phát động chiến tranh chống lại người Hồ. Nhưng trên thực tế, người làm cho nhà Tần diệt vong lại chính là con trai ông – Hồ Hợi.
Nhật thực (nguyệt thực) đối với người xưa là một điềm lạ quan trọng. Khổng Dĩnh Đạt đời Đường viết trong "Xuân Thu Tả Truyện Chính Nghĩa": "Nhật thực, âm xâm phạm dương, bề tôi xâm phạm vua – là tượng cứu nhật thực để giúp vua, kìm bề tôi." Nghĩa là xảy ra nhật thực chính là tượng quyền thần, kẻ gian lấn át vua. Thời Xuân Thu, người Tấn là Bá Hà còn cho rằng nhật thực là "việc không có chính trị tốt. Nước không chính trị, không dùng người tốt, thì tự lấy tai họa từ nhật nguyệt." Tức là nhật thực tượng trưng cho việc hoàng đế đi ngược ý trời, không chăm lo triều chính, cho nên trời hiện điềm lạ để cảnh báo, quở trách.
Trong thời gian có nhật thực, các hoàng đế thường mặc thường phục, ăn chay, giảm thức ăn, bỏ nhạc, lui về chính điện; có hoàng đế còn xuống chiếu chỉ về hiện tượng thiên văn dị thường, ngoài tự trách, còn làm lễ đại xá, cầu lời nói thẳng, tuyển chọn nhân tài… Các triều thần cũng thường nhân hiện tượng thiên văn dị thường, thiên tai để dâng tấu, phê bình quốc sự, thậm chí phê bình chính hoàng đế.
Năm 178 trước Công nguyên, sau khi xảy ra nhật thực, Hán Văn Đế xuống chiếu: "Trẫm được giữ tông miếu, lấy thân nhỏ bé mà ở trên dân sĩ, vạn dân và các vương hầu. Việc trị loạn trong thiên hạ, là do một mình trẫm. Chỉ có vài vị trọng thần cầm quyền như cánh tay, đùi của trẫm. Trẫm ở dưới không thể nuôi dạy đám đông sinh linh, ở trên làm lụi ba ánh sáng, thật là không có đức lớn." Hán Văn Đế tự quy lỗi cho mình về nguyên nhân nhật thực, và rộng rãi tìm kiếm người can gián – điều này trở thành tiền lệ cho các hoàng đế đời sau xuống chiếu tự trách khi gặp tai dị lớn.
Trong sách Khải Huyền của Kinh Thánh mô tả rất rõ những điềm lạ tận thế được Thần khải thị. Ví dụ:
"Khi mở ấn thứ tư, một con ngựa ô xuất hiện; người cưỡi ngựa có tên là Sự Chết, Âm phủ theo sau nó; được ban cho quyền cầm gươm, đói kém, dịch lệ, và thú dữ để giết chết một phần tư loài người."
"Khi mở ấn thứ sáu, đất động đất dữ dội, mặt trời trở nên đen như vải bố, mặt trăng đỏ như máu, các ngôi sao từ trời sa xuống đất, như cây sung bị gió mạnh rung rụng quả xanh. Trời bị cuốn lại như cuốn sách, núi và đảo đều bị xê dịch khỏi chỗ."
"Vị thiên sứ thứ tư thổi loa, một phần ba mặt trời, một phần ba mặt trăng, một phần ba các ngôi sao bị đánh, tối tăm một phần ba ban ngày."
【Địa phát sát cơ, long xà khởi lục.】
(Đất phát cơ sát, rồng rắn nổi lên trên cạn.)
Câu này, một số bản chú giải cho rằng khi đất phát cơ sát (máy móc giết chóc của đất) thì có động đất, lũ lụt, hạn hán mất mùa, châu chấu và chuột hoành hành, dịch bệnh lan tràn. Rồng và rắn vốn là những vật thuộc âm tính, trước trận động đất lớn đã bỏ hang mà lên đất liền.
Tác giả bài viết cho rằng hàm ý thực sự của câu này là sự mô tả trong sách Khải Huyền của Kinh Thánh: "Trên trời xảy ra chiến tranh: Mi-ca-ên và các thiên sứ của mình giao chiến với con rồng. Con rồng cùng các thiên sứ của nó cũng giao chiến lại, nhưng không thắng, và trên trời không còn chỗ cho chúng nữa. Con rồng lớn đó là con rắn xưa, gọi là ma quỷ, Sa-tan, kẻ đã lừa dối cả thế gian; nó bị quăng xuống đất, các thiên sứ của nó cũng bị quăng xuống đất với nó." (Khải Huyền 12:7-9). Lại có câu: "Tôi thấy một vị thiên sứ từ trời xuống, tay cầm chìa khóa của vực thẳm và một dây xích lớn. Vị ấy bắt con rồng, tức là con rắn xưa, cũng là ma quỷ và Sa-tan, xiềng nó lại một ngàn năm; quăng nó xuống vực thẳm, khóa lại và đóng ấn trên, để nó không còn lừa dối các dân tộc được nữa." (Khải Huyền 20:1-3).
Cuộc chiến này là cuộc chiến ngày tận thế. Mi-ca-ên là thiên sứ trưởng, có nhiệm vụ bảo vệ các tín đồ của Chúa. Rồng là ma quỷ Sa-tan, chính là kẻ đã cám dỗ Ê-va trong vườn Ê-đen, là thiên sứ sa ngã. Trước khi tận thế đến, nó tạm thời cai trị thế gian. Khi tận thế đến, nó cùng các sứ giả dưới quyền sẽ giãy chết, giao chiến lần cuối với các sứ giả của Chúa, và tàn sát loài người. Nhưng cuối cùng chúng thất bại, bị xiềng lại và ném xuống vực thẳm.
【Nhân phát sát cơ, thiên địa phản phục.】
(Người phát cơ sát, trời đất đảo lộn.)
Câu này chỉ cảnh tượng khi tận thế đến: dân chúng nổi loạn, các nước xâm lấn nhau, nạn đói lan khắp, động đất liên miên, cái ác hoành hành, thiên hạ đại loạn.
"Dân sẽ nổi lên chống dân, nước chống nước; nhiều nơi sẽ có nạn đói và động đất. Nhưng tất cả chỉ là bước đầu của cơn đau đớn." (Ma-thi-ơ 24:7-8). "Vì lúc ấy sẽ có đại nạn, đến nỗi từ khi khởi đầu thế gian cho đến bây giờ, chưa từng có như vậy, và sau cũng sẽ không bao giờ có nữa." (Ma-thi-ơ 24:21).
【Thiên nhân hợp phát, vạn hóa định cơ.】
(Trời người cùng phát, muôn biến định nền.)
Khi cơ sát của trời, đất, người cùng phát hợp lại, thiên tai và nhân họa đồng thời nổi lên, muôn vàn biến hóa đã đến cực điểm. Đây là tượng "vật cực tất phản, loạn cực tất trị, bĩ cực thái lai" (vật cực thì phản, loạn cực thì trị, bĩ cùng thì thái đến). Sau cuộc phán xét ngày tận thế, Chúa sẽ sáng tạo một trời mới, đất mới vĩnh hằng, đặt tất cả dân con của Ngài vào đó.
"Tôi thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, từ nơi Đức Chúa Trời giáng xuống, đã sửa soạn sẵn như một cô dâu trang sức cho chồng mình." (Khải Huyền 21:2). "Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng và làm Đức Chúa Trời của chúng. Ngài sẽ lau sạch nước mắt khỏi mắt chúng; sẽ không có sự chết, than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa, vì những điều xưa đã qua rồi." (Khải Huyền 21:3-4).
【Tính hữu xảo chuyết, khả dĩ phục tàng.】
(Tính có khéo, dở, có thể ẩn giấu.)
Tính tình con người có kẻ khéo léo, có kẻ vụng về. Người tính khéo thường nhiều mưu kế, người tính vụng thường nhiều tham si. Nhưng đó đều không phải là bản tính thiên phú (tức linh tính từ Thần mà đến). Người ta cần tu dưỡng bản thân, cho dù thông minh, khéo léo đến đâu cũng nên ẩn giấu không dùng, để cho bản tính trời phú được bộc lộ. Lão Tử nói: "Trí lớn như ngu, khéo lớn như vụng" (Đại trí nhược ngu, đại xảo nhược chuyết), "sáng suốt mà chẳng chói lòa" (quang nhi bất diệu), "hòa hợp ánh sáng, cùng lẫn với bụi trần" (hòa quang đồng trần) – ý cũng tương tự.
【Cửu khiếu chi tà, hồi tam yếu, khả dĩ động tĩnh.】
(Cái tà của chín khiếu, cốt ở ba chỗ quan trọng, có thể động có thể tĩnh.)
Cơ thể con người có chín lỗ (hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng, hai lỗ thoát). Nhưng quan trọng nhất là mắt, tai, miệng. Bởi vì mắt có thể thấy, tai có thể nghe, miệng có thể nói. Tư tưởng, tình chí, hành vi của con người chủ yếu phát sinh từ ba khiếu này. Mắt nhìn thì thần bị dao động, tai nghe thì tinh bị tán loạn, miệng mở thì khí bị hao tổn.
Nếu ba khiếu động mà dùng bậy, thì nhẹ thì tâm thần xao động bất an, tổn thương tinh, hao tốn khí; nặng hơn thì do điều thấy, điều nghe, điều nói mà gây ra tai họa.
Nếu ba khiếu tĩnh mà dùng khéo, thì có thể bảo toàn tinh, dưỡng khí, an thần, mang lại cát tường.
Cho nên Lão Tử nói: "Lấp kín cái đối (miệng), khép kín các cửa (mắt, tai), suốt đời chẳng phải lao nhọc. Mở cái đối, làm những việc, suốt đời chẳng cứu nổi."
【Hỏa sinh ư mộc, họa phát tất khắc; gian sinh ư quốc, thời động tất hủy. Tri chi tu chi, vị chi thánh nhân.】
(Lửa sinh ra từ gỗ, họa phát ra ắt khắc (đốt) gỗ; kẻ gian sinh ra trong nước, thời cơ đến ắt làm nước vỡ tan. Biết điều đó mà tu sửa, gọi là bậc thánh nhân.)
Gỗ vốn sinh ra lửa, nhưng khi lửa phát ra thì tai họa ập đến gỗ, gỗ bị đốt cháy.
Trong nước có kẻ gian, thời cơ đến thì kẻ gian sẽ hành động, khiến nước diệt vong.
Bậc thánh nhân biết rằng bất kỳ tai họa nào cũng phát sinh từ trạng thái vi nhỏ, phát triển đến khi rõ rệt, cuối cùng mới bộc phát. Cho nên họ biết tự phản tỉnh, tu dưỡng, ngăn chặn từ lúc còn mầm non, phòng vi mỗ đỗ. Đối với bản thân thì thân tâm an thái; đối với bên ngoài thì dập tắt điều gian ác, tai họa ngay từ khi chưa phát sinh.
Câu "Tri chi tu chi" (biết điều đó mà tu sửa), có bản chép là "tri chi tu luyện" (biết điều đó mà tu luyện), cho nên nhiều người xem đó là ý chỉ tu luyện nội đan – thực ra là sai lầm.
【Thiên sinh thiên sát, đạo chi lý dã.】
(Trời sinh, trời giết, là lẽ đạo vậy.)
Sinh và sát là âm dương. Đạo sinh ra vạn vật, cũng có thể giết vạn vật.
Mùa xuân sinh, mùa hạ lớn là sinh; mùa thu liễm, mùa đông tàng là sát.
Sơ sinh, lớn mạnh là sinh; già yếu, bệnh chết là sát.
Thành công, phát đạt là sinh; thất bại, tiêu điều là sát, v.v.
Có sinh ắt có sát, có âm ắt có dương – đó là lẽ không đổi, là quy tắc do Thần định ra.
【Thiên địa, vạn vật chi đạo; vạn vật, nhân chi đạo; nhân, vạn vật chi đạo. Tam đạo ký nghi, tam tài ký an.】
(Trời đất là kẻ cướp của vạn vật; vạn vật là kẻ cướp của người; người là kẻ cướp của vạn vật. Ba sự cướp ấy hài hòa, ba tài mới yên ổn.)
Trời đất sinh thành vạn vật: ví như cây non sinh ra từ đất, lại được nước mưa tưới mát, ánh nắng ấm áp mới có thể lớn thành cây to. Vạn vật ở trong trời đất, không biết không hay mà từ nhỏ đến lớn, từ lớn đến suy – đó là trời đất cướp vạn vật.
Con người vì tham ăn ngon, ham thanh sắc, thích của cải lợi lộc, ham quyền lực danh vọng mà tự tổn thương thân mình, đến nỗi suy yếu, bệnh tật, chết sớm – đó là vạn vật cướp người.
Con người sinh ra trong khoảng giữa trời đất, nhờ ngũ cốc, ngũ vị để nuôi thân, nhờ của cải để làm giàu cho nhà, nhờ năm màu, năm âm để làm vui tai mắt – đó là người cướp vạn vật.
Trời đất, con người và vạn vật ba bên cướp lẫn nhau lại cũng lợi dụng lẫn nhau. Nếu sự cướp dùng này được điều hòa, cân bằng thì ba bên mới có thể lâu dài an thái. Ba sự cướp này chủ yếu chỉ sự cướp giữa con người và vạn vật. Trong xã hội hiện đại, dục vọng vật chất của con người bành trướng chưa từng có, điên cuồng khai thác tài nguyên thiên nhiên, đã gây ra những vấn đề sinh thái nghiêm trọng: như suy giảm cây xanh, sa mạc hóa đất đai, bão cát, sụt lún đất, lũ bùn đá, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, hiệu ứng nhà kính, v.v. Môi trường sinh tồn của loài người đang đối mặt với cuộc khủng hoảng chưa từng có. Đó chính là sự cướp giữa người và vạn vật không còn tương nghi, cuối cùng sẽ tự nếm quả đắng.
【Cố viết: Thực kỳ thời, bách hài lý; động kỳ cơ, vạn hóa an.】
(Cho nên nói: Ăn đúng lúc, trăm xương được điều hòa; động đúng cơ, muôn biến được an ổn.)
Con người không ăn uống thì không thể sống. Nhưng cần năm vị điều hòa, đủ chất, đúng giờ, đúng lượng, như vậy có thể điều lý bách hài, an hòa ngũ tạng, kéo dài tuổi thọ. Cho nên Nội Kinh có lời: "Ăn uống có tiết độ, ở có thường, chẳng làm càn quấy, đó gọi là biết đạo. Cho nên quân tử uống khí hòa của trời để nuôi thần, lấy đức để nuôi hình."
Ngoài ra, mọi việc làm, cử động, dừng nghỉ đều phải hợp với thiên đạo, nắm bắt thời cơ. Ví dụ: mùa xuân hạ là lúc vạn vật sinh trưởng, nhà nông phải động việc cày cấy; nếu lỡ cơ, ắt lỡ mùa vụ. Quan hệ luân lý cũng vậy: nam nữ phát dục thành thục thì phải cưới gả lập gia đình; quá sớm thì tinh huyết không đủ, thân thể bị tổn hại; quá muộn thì âm dương quá thịnh, hai bên khó giữ gìn. Sinh hoạt hằng ngày cũng vậy: ban ngày thuộc dương, nên sáng sớm phải dậy sớm lao động; ban đêm thuộc âm, lúc mặt trời lặn phải nghỉ ngơi đi ngủ – như vậy mới giữ được chức năng thân thể bình thường. Nếu ban ngày ngủ, ban đêm làm việc, ắt sẽ ủ rũ, già yếu sớm. Các việc khác như sự nghiệp cá nhân, buôn bán kinh doanh, quản lý đất nước, chiến tranh tấn công hay phòng thủ... đều phải thấy cơ mà hành động, như vậy mới có thể hướng tới lợi tránh hại, đạt được thành công, lâu dài ổn định.
【Nhân tri kỳ thần chi thần, bất tri kỳ bất thần, sở dĩ thần dã.】
(Người ta biết cái thần của cái thần, mà không biết cái chẳng thần, đó mới là cái thần vậy.)
Người ta thường lấy làm lạ những sự vật thần kỳ linh diệu, hoặc cho rằng những vị thần linh, pho tượng được thờ trên bàn thờ mới là thần chân thật. Nhưng lại không biết rằng những cái vô cùng quen thuộc, thấy hoài mà chẳng chú ý như trời đất vạn vật, cũng như Đấng đã sáng tạo ra trời đất vạn vật và chính loài người – mà nhiều người không hiểu, không thờ phượng – đó là Thượng Đế, Giê-hô-va – mới là cái thần kỳ đích thực. Điều này cho thấy sự vĩ đại và kỳ diệu của Chúa. "Vì từ khi tạo dựng thế gian, những thuộc tính vô hình của Ngài, quyền năng và thần tính vĩnh cửu của Ngài, đã được nhìn thấy rõ ràng qua những gì Ngài tạo thành, đến nỗi chúng chẳng có lý do gì để bào chữa cả." (Rô-ma 1:20)
【Nhật nguyệt hữu số, đại tiểu hữu định, thánh công sinh yên, thần minh xuất yên.】
(Mặt trời mặt trăng có số, lớn nhỏ có định, thánh công sinh ra ở đó, thần minh xuất hiện ở đó.)
Mặt trời, mặt trăng vận hành, ngày đêm qua lại, tiết khí biến đổi, bốn mùa thay phiên – bất kể lớn nhỏ, nhiều ít, đều có định số, thần diệu khó tả. Đây đều là công của Chúa, Chúa mượn những điều đó để bày tỏ sự hiện hữu của Ngài. Cho nên gọi là thánh công, thần minh.
【Kỳ đạo cơ dã, thiên hạ mạc năng kiến, mạc năng tri. Quân tử đắc chi cố cung, tiểu nhân đắc chi khinh mệnh.】
(Cái cơ của sự cướp đó, thiên hạ chẳng ai thấy được, chẳng ai biết được. Quân tử có được nó thì giữ mình vững chắc, kẻ tiểu nhân có được nó thì coi thường mạng sống.)
Câu này, nhiều người theo bản dịch của Lý Thuyên đời Đường giải thích như sau: "Sự tiêu trưởng của âm dương, vật cực tất phản, là quy luật tự nhiên của đạo vận hóa. Người thường chỉ biết cái hiện tượng sự vật đã hình thành, mà không biết cái cơ hình thành sự vật đã sớm ẩn chứa trong mặt đối lập của sự vật, và đang ở chỗ tối âm thầm chuyển hóa về phía đối lập. Bởi nó vi diệu khó hiểu, cho nên gọi là 'đạo cơ'. Bậc quân tử nhân đức sáng tỏ cơ này, có thể nhìn thấu chỗ u vi, biết trước kết quả phát triển của sự vật, từ đó mà mưu tính từ xa, ngầm sắp đặt cơ mưu, có thể xử sự, tề gia, hưng bang, trị quốc, lại có thể giữ gìn thân mệnh. Kẻ tiểu nhân sáng tỏ cơ này, để cầu lấy sự sống dày dặn, càng tham lam mùi vị thế gian, buông thả tình dục, lạm dụng quyền mưu, làm càn bậy bạ, thậm chí coi thường mạng sống, chơi với lửa."
Đoạn giải thích này tuy có lý, nhưng không phù hợp với ý của kinh văn. Bởi chữ "đạo" (cướp) đã xuất hiện ở những câu trước, liên hệ ngữ cảnh thì ý nó rất rõ – đó là cơ (khu then chốt) và nguồn gốc của sự cướp – mà thôi. Đạo chuyển hóa âm dương tuy u vi cao siêu, nhưng còn chưa đến nỗi không ai có thể biết, không ai có thể thấy. Hơn nữa, quân tử minh bạch âm dương chi đạo thì có thể "đắc chi cố cung" (có được nó thì giữ mình vững chắc); nhưng nếu kẻ tiểu nhân thực sự minh bạch âm dương chi đạo thì há có thể "đắc chi khinh mệnh" (có được nó thì coi thường mạng sống)? Kẻ "đắc chi khinh mệnh" há có thể thực sự minh bạch âm dương chi đạo? Cho nên, nếu lấy âm dương chi đạo để giải thích "đạo cơ" thì hiển nhiên là sai lầm.
Nghĩa thực sự của câu này là: Cái nguồn gốc và khu then chốt của sự cướp này chính là Chúa (Thần) đã sáng tạo ra trời đất vạn vật – tức là Đạo – nhưng trên đời không ai có thể thấy, có thể biết được. Bậc quân tử nhân đức nếu nghe nói về Đạo này thì sẽ siêng năng cần mẫn, cố gắng hành đạo, mong muốn hợp với Đạo, gần với Đạo; do đó mà thân yên việc thành, cùng tồn tại với Đạo. Kẻ tiểu nhân nếu nghe nói về Đạo này thì sẽ cho là hoang đường, trái lẽ, mà thờ ơ, coi thường sự tồn tại của nó; từ đó mà xa rời Đạo, thậm chí vứt bỏ Đạo, rồi sẽ diệt vong vĩnh viễn. Lão Tử nói: "Kẻ sĩ thượng đẳng nghe đạo, cần mẫn hành đạo; kẻ sĩ trung đẳng nghe đạo, nửa tin nửa ngờ; kẻ sĩ hạ đẳng nghe đạo, cười lớn. Không cười thì chẳng đủ làm đạo."
【Cổ giả thiện thính, lung giả thiện thị. Tuyệt lợi nhất nguyên, dụng sư thập bội. Tam phản trú dạ, dụng sư vạn bội.】
(Người mù thì giỏi nghe, người điếc thì giỏi nhìn. Dứt hẳn một nguồn lợi, dùng sư mười lần. Ba lần ngược lại ngày đêm, dùng sư vạn lần.)
Người bị mù (mất sáng), mắt không dùng vào việc bên ngoài, tâm chuyên chú về nghe, cho nên thính giác nhạy bén.
Người bị điếc (mất nghe), tai không dùng vào việc bên ngoài, tâm chuyên chú về nhìn, cho nên thị giác nhạy bén.
Người ta nếu có thể dứt bỏ những thứ làm vui tai, đẹp mắt, những thanh sắc danh lợi dẫn dắt thân tâm, khiến cho tâm tư tinh khiết, chuyên chú vào kỹ năng và học thuật đang theo đuổi, thì sẽ hơn gấp mười lần công hiệu của thầy dạy. Nếu lại có thể thu tầm nhìn lại, quay thính giác về, ít nói, ngày đêm không ngừng tinh chuyên dụng tâm, thì tinh túy nhập vào thần, cảm mà thông suốt, hơn gấp vạn lần công hiệu của thầy dạy.
Câu này ý nói: nếu con người có thể chuyên tâm chí chí vào một môn kỹ nghệ nào đó, thì có thể phá vỡ giới hạn của sự truyền thừa từ thầy, làm được cái vô sư tự thông. Nếu đem một vấn đề tập trung suy nghĩ trong ba ngày ba đêm, ắt sẽ đạt được kết quả đáng mừng. Người xưa nói: "Suy nghĩ, suy nghĩ mãi, thì quỷ thần cũng thông."
Có người giải "dụng sư" (dùng thầy, dùng quân) là việc dùng binh – thật là sai lầm.
【Tâm sinh ư vật, tử ư vật, cơ tại mục.】
(Lòng sinh ra từ vật, chết ở vật, cơ ở con mắt.)
Những tâm tư đủ loại của con người phát sinh là do tham luyến các cảnh vật. Và không biết không hay lại bị chính cảnh vật cướp lấy mà đi vào chỗ chết. Cái then chốt – cơ – để sinh ra tâm tư ấy nằm ở đôi mắt. Mắt mở thì tâm động, tâm động thì thần bay, chạy theo cảnh vật, mê đắm việc đời, quấy nhiễu gốc linh, không thể thanh tĩnh. Cho nên Lão Tử nói: "Chớ thấy cái gì có thể gây ham muốn, khiến lòng chẳng loạn" – chính là ý này.
【Thiên chi vô ân nhi đại ân sinh, tấn lôi liệt phong, mạc bất xuẩn nhiên.】
(Trời không ơn mà ơn lớn sinh ra, sấm sét gió dữ, không gì chẳng mờ mịt mà sinh sôi.)
Trời (ý bên trong chỉ Đạo – Thần) bề ngoài trống rỗng, không biết, không hiểu, không thân, không tình. Nhưng trời che chẳng riêng, đất chở chẳng riêng, mặt trời mặt trăng soi sáng, mưa móc tưới nhuần, vạn vật đều nhận ơn trời mà sinh trưởng, cho nên nói "đại ân sinh" (ơn lớn sinh ra). Sấm sét, gió dữ phát ra vào mùa xuân hạ, tất cả các loài bay, lặn, động, thực đều nhờ đó mà mờ mịt sinh sôi, cho nên nói "tấn lôi liệt phong, mạc bất xuẩn nhiên". Lại nói: Đạo lớn nắm cơ sinh sát, thi triển sấm sét gió dữ khiến người đời sinh lòng kính sợ đối với thượng thiên.
【Chí lạc tính ngu, chí tĩnh tính liêm.】
(Vui cực độ thì tính ngu muội, tĩnh cực độ thì tính liêm khiết.)
Chữ "ngu" (愚) nhiều bản viết là "dư" (餘), thực ra là sai. Người thường cho rằng ăn ngon, mặc đẹp, ngắm sắc đẹp, nghe âm hay, chạy theo hưởng thụ giác quan, giàu sang an nhàn – đó là chí lạc (vui cực độ). Nhưng những điều ấy khiến con người rơi vào ngu muội, xa rời chân đạo. Trái lại, thanh tâm quả dục (lòng thanh, ít ham muốn) khiến con người liêm khiết, sáng suốt, dễ nhận biết chân đạo. Cho nên Lão Tử nói: "Đạt đến hư cực, giữ vững tĩnh"; "Thanh tĩnh là chuẩn mực của thiên hạ".
【Thiên chi chí tư, dụng chi chí công.】
(Trời hết sức riêng tư, nhưng dùng thì hết sức công bằng.)
Chữ "thiên" (trời) ở câu này chỉ Đạo. "Tư" là riêng tư. Đạo sinh thành vạn vật, lớn như mặt trời, mặt trăng, sông ngân, nhỏ như côn trùng, kiến, trứng, ấu trùng – không gì không thuộc về Đạo, cho nên có thể gọi là "chí tư" (rất riêng tư). Trời che, đất chở, mặt trời mặt trăng vận hành, mưa gió sấm chớp, ngày đêm qua lại – tác dụng của chúng phổ cập vạn vật, hoặc sinh hoặc sát, chẳng hề thiên vị, cho nên có thể gọi là "chí công" (rất công bằng). Lại nói: Đạo (Chúa) yêu thương nhân loại, sai Con Ngài là Giê-xu giáng thế, bị đóng đinh trên thập tự giá, vì nhân loại mà bỏ mạng làm của lễ chuộc tội – đó cũng có thể gọi là "chí công".
【Cầm chi chế tại khí.】
(Cái chế ngự của chim ở ở khí.)
Chim muông có thể bay trên không trung là bởi vì trong khoảng giữa trời đất có sự tồn tại của khí (năng lượng, hơi thở). Sự sinh sát của vạn vật đều liên quan đến khí. Một luồng khí đi lên, vạn vật đều theo đó mà sinh trưởng; một luồng khí đi xuống, vạn vật đều theo đó mà thu liễm. Cho nên: được khí thì sinh vượng, mất khí thì suy chết. Khí là một khái niệm quan trọng trong văn hóa truyền thống Trung Hoa.
Mạnh Tử nói: "Ta khéo nuôi dưỡng hào khí của ta."
Lão Tử nói: "Dồn khí làm cho nhu, có thể như trẻ thơ chăng?"
Trong Đông y nói: Tông khí, nguyên khí, trung khí, ngũ tạng chi khí; được vị khí thì sống, mất vị khí thì chết; tinh thần nội thủ, chân khí theo đó, bệnh từ đâu mà đến?
Phong thủy học chú trọng tàng phong tụ khí (ẩn gió tụ khí): nơi nào giữ được sinh vượng chi khí thì phong thủy tốt, lợi cho người ở.
Làm ăn buôn bán chú trọng tụ nhân khí (tụ khí người), đến nơi đông người để mở cửa hàng.
Khí công tu luyện chú trọng hấp thụ thiên địa chi khí, để trừ bệnh khỏe thân, khai phát tiềm năng.
Võ học nội gia chú trọng dưỡng khí, để tích trữ nội kình, chế thắng địch thủ. Có cao thủ khinh công thậm chí có thể đi trên mặt nước, bay trong không trung.
Khí tuy vô hình, nhưng đích thực là tồn tại khách quan. Bậc trí giả có thể qua phân biệt trạng thái của khí để hướng đến lợi tránh hại, nắm bắt tiến thoái. Nhiều bản giải chữ "cầm" (禽 – chim) là "cầm" (擒 – bắt giữ, nắm giữ) – thực ra là sai lầm.
【Sinh giả tử chi căn, tử giả sinh chi căn.】
(Sống là gốc của chết, chết là gốc của sống.)
Vạn vật có sinh ắt có tử, thì sinh là cội nguồn của tử.
Sau khi con người chết, linh hồn bất diệt, lại bước vào một trạng thái sống khác (sự sống vĩnh hằng), cho nên tử lại là cội nguồn của sinh (một trạng thái sống khác).
Sau khi chết, linh hồn có hai nơi đến: một là Thiên Đường, một là Địa Ngục. Sau Tân Ước, vào Thiên Đường hay xuống Địa Ngục phụ thuộc vào việc có tin Chúa Giê-xu Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá là của lễ chuộc tội cho nhân loại hay không. "Hay chẳng biết rằng tất cả chúng ta đều đã chịu phép báp-têm trong Chúa Giê-xu Christ, ấy là chịu phép báp-têm trong sự chết của Ngài sao? Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-têm trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ đã được từ kẻ chết sống lại nhờ vinh hiển của Cha, thể nào thì chúng ta cũng bước trong sự sống mới như vậy." (Rô-ma 6:3-4).
Nhiều bản giải thích câu này từ góc độ dưỡng sinh, cho rằng: tham sống sợ chết, nuôi dưỡng thân thể quá mức, lấy vạn vật làm tư lợi riêng dẫn đến tai họa thì khó trường thọ; còn coi nhẹ sống chết, giữ bổn phận, lấy đạo đức tu thân thì có thể trường sinh. Nhưng điều đó không chính xác.
【Ân sinh ư hại, hại sinh ư ân.】
(Ơn sinh ra từ hại, hại sinh ra từ ơn.)
Câu này nhiều người giải thích như sau: Trong đời, ơn và hại sinh ra lẫn nhau, họa và phúc nhân quả với nhau. Quân tử gặp hoạn nạn được giúp đỡ, nhớ ơn làm lành để báo đáp – đó là ơn sinh ra từ hại. Kẻ tiểu nhân nhờ ơn của quân tử, nhất thời đắc chí mà quên ơn làm càn, rốt cuộc sa vào lưới – đó là hại sinh ra từ ơn.
Thực ra câu này có ý rất sâu xa: Chúa thấy người đời phạm tội không thể tự thoát ra, bèn ban Con của Ngài cho nhân loại, chịu đóng đinh trên thập tự giá để chuộc tội – đó là ơn sinh ra từ hại (tội lỗi, sự hại của con người). Nhân loại nhận ơn lớn đó mà chẳng tin, vẫn làm càn bậy bạ, đắm mình trong tội lỗi, sau này bị ném vào địa ngục, cùng với ma quỷ chịu lửa hình vĩnh cửu – đó là hại sinh ra từ ơn.
【Ngu nhân dĩ thiên địa văn lý thánh, ngã dĩ thời vật văn lý triết.】
(Người ngu cho những văn lý của trời đất là thánh, ta thì lấy những văn lý của thời vật làm triết.)
Mặt trời, mặt trăng, các vì sao, mây gió sấm sét – đó là thiên văn.
Sông biển, núi non, vàng đá, cây cỏ – đó là địa lý.
Sao vận hành có trật tự, sông núi yên tĩnh, mưa thuận gió hòa, ngũ cốc phong đăng – đó là thiên địa văn lý thuận (văn lý trời đất thuận). Mặt trời mặt trăng mất sắc, các sao dời chỗ, sấm chớp giận dữ, nóng lạnh thất thường, sông biển chẳng yên, núi lở đất nứt, hạn lụt đói kém – đó là thiên địa văn lý nghịch (văn lý trời đất nghịch).
Kẻ ngu cho rằng sự thuận nghịch của văn lý trời đất là do trời đất tạo ra, vốn dĩ như thế, không thể thay đổi, chỉ có thể sinh lòng sợ hãi, bất lực.
Các hiện tượng nhân sự trong đời, như chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, phong tục... – đó là thời vật văn lý. Vua thể hiện đạo, bề tôi trung thành vì dân, phong tục thuần phác, chính trị thông suốt, người hòa thuận – đó là thời vật văn lý thuận. Vua tôi phóng dật, trụy lạc, tham quyền mưu lợi, áp bức dân chúng, phong tục gian trá, phù phiếm, dâm loạn, trộm cướp hoành hành – đó là thời vật văn lý nghịch.
Sự thuận nghịch của thời vật văn lý quyết định sự thuận nghịch của thiên địa văn lý. Nếu thời vật văn lý thuận thì thiên tượng thanh minh, mưa thuận gió hòa, ngũ cốc phong đăng. Nếu thời vật văn lý nghịch thì trời hiện điềm lạ, địa lý cũng vậy. Trong lịch sử, Trâu Diễn bị tù oan, tháng sáu có tuyết; người đàn bà nước Tề oan ức, ba năm chẳng mưa; Kinh Kha ám sát Tần Thủy Hoàng, cầu vồng trắng xuyên qua mặt trời... – chính là hình ảnh của cảm ứng trời – người.
Tại sao ở đây dùng chữ "ngã" (ta)? Tác giả cho rằng, đó là Thần tự xưng. Thần căn cứ vào sự thuận nghịch của thời vật văn lý mà giáng phúc hay giáng họa!
【Nhân dĩ ngu ngu thánh, ngã dĩ bất ngu ngu thánh; nhân dĩ kỳ kỳ thánh, ngã dĩ bất kỳ kỳ thánh.】
(Người ta lấy sự ngu muội, lừa dối làm thánh; ta lấy sự chẳng ngu muội, chẳng lừa dối làm thánh. Người ta lấy sự kỳ lạ làm thánh; ta lấy sự chẳng kỳ lạ làm thánh.)
"Ngu" là ngu muội, "ngu" (虞) là lừa dối.
Một số bản viết chữ "kỳ" (其) thành "kỳ" (期) – là sai. "Kỳ" ở đây là trợ từ.
Người đời cho những kẻ khéo làm điều ngu muội, lừa dối, bày mưu tính kế tiểu xảo là sáng suốt; còn ta thì coi những kẻ chẳng làm điều ngu muội, lừa dối, mà thành thật, vững tin, kính thờ Chúa chân thật là sáng suốt (người đời phần nhiều coi những kẻ tin kính Chúa chân thật, thành thật làm lành là không sáng suốt, thậm chí là ngu muội). Người đời lấy những việc kỳ lạ, kinh thiên động địa làm thần thánh; còn ta lấy những sự vật bình thường, quen thuộc hằng ngày làm thần thánh. Ý câu sau gần giống với câu "Nhân tri kỳ thần chi thần, bất tri kỳ bất thần, sở dĩ thần dã" (Người ta biết cái thần của cái thần, mà không biết cái chẳng thần, đó mới là cái thần vậy).
【Trầm thủy nhập hỏa, tự thủ diệt vong.】
(Chìm nước vào lửa, tự lấy diệt vong.)
Hai chữ "thủy" (nước) và "hỏa" (lửa) trong câu này, có người giải là "kham, ly" trong nội đan, có người giải là rượu, sắc, tiền, khí – đều sai. "Trầm thủy nhập hỏa" thực ra ám chỉ hai sự kiện Chúa giáng tai xuống nhân loại.
Sự kiện thứ nhất: Chúa phát trận đại hồng thủy hủy diệt cả trái đất, chỉ cứu gia đình Nô-ê. "Kỳ cùng tận của mọi loài xác thịt đã đến trước mặt Ta, vì đất đầy dẫy sự hung bạo bởi chúng nó; nầy, Ta sẽ hủy diệt chúng nó luôn với đất." (Sáng Thế Ký 6:13). "Nước dâng lên quá lớn trên mặt đất, và các núi cao khắp dưới trời đều bị ngập. Nước dâng cao hơn các núi mười lăm thước, và các núi đều bị ngập. Các loài xác thịt hay di động trên đất, nào chim, nào súc vật, nào thú rừng, nào côn trùng bò trên đất, và mọi người đều chết." (Sáng Thế Ký 7:19-21).
Sự kiện thứ hai: Chúa giáng lửa từ trời hủy diệt hai thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, chỉ cứu gia đình cháu của Áp-ra-ham là Lót, bởi vì người hai thành này không thờ Chúa chân thật, trái lại thờ các loại thần tượng và dâm loạn tràn lan. "Đức Giê-hô-va phán rằng: Tiếng kêu của Sô-đôm và Gô-mô-rơ lớn quá, tội lỗi của chúng nó thật là trọng lắm." (Sáng Thế Ký 18:20). "Áp-ra-ham vẫn đứng trước mặt Đức Giê-hô-va. Áp-ra-ham đến gần và thưa rằng: Chúa há sẽ hủy diệt người công bình với kẻ gian ác sao? Trong thành ấy nếu có năm chục người công bình, Chúa há sẽ hủy diệt họ, chẳng tha thứ cho cả thành vì năm chục người công bình đó sao? Đối với Chúa, không có việc mà Chúa nhân một người công bình đãi kẻ gian ác như vậy. Lẽ nào Chúa không xét đoán cả thế gian cách công bình sao? Đức Giê-hô-va phán rằng: Nếu Ta tìm trong Sô-đôm được năm chục người công bình, thì Ta sẽ vì cớ họ mà tha thứ cho cả thành." (Sáng Thế Ký 18:23-26). "Lót vào thành Xoa, mặt trời đã mọc lên trên mặt đất. Đức Giê-hô-va bèn khiến cho diêm sinh và lửa từ trời, từ nơi Đức Giê-hô-va sa xuống hai thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Ngài hủy diệt các thành ấy, cả đồng bằng, và hết thảy dân cư cùng cây cỏ mọc trên đất. Vợ của Lót ở phía sau nhìn lại, hóa thành một tượng muối. Áp-ra-ham dậy sớm, đi đến nơi người đã đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, hướng về Sô-đôm, Gô-mô-rơ và khắp miền đồng bằng, nhìn xem, thấy khói địa phương bay lên như khói lò lửa lớn." (Sáng Thế Ký 19:23-28).
Dù chìm trong nước hay vào trong lửa, đều là kết quả của việc người đời trái nghịch điều răn của Chúa, làm càn bậy bạ. Cho nên nói: tự lấy diệt vong.
【Tự nhiên chi đạo tĩnh, cố thiên địa vạn vật sinh; thiên địa chi đạo tẩm, cố âm dương thắng; âm dương suy nhi biến hóa thuận hĩ.】
(Đạo tự nhiên là tĩnh, cho nên trời đất vạn vật sinh ra; đạo trời đất thấm nhuần, cho nên âm dương thắng; âm dương đẩy đi mà biến hóa thuận vậy.)
Tẩm (浸) là thấm nhuần, thấm đẫm, đầy dẫy.
Thắng (勝) là chủ tể, thống ngự.
Suy (推) là vận hành, chuyển hóa.
Bản chất của Đạo là tĩnh (lặng), cho nên từ chỗ cực tĩnh sinh ra động, từ không sinh ra có, sinh ra trời đất vạn vật. Lão Tử nói: "Thanh tĩnh là chuẩn mực của thiên hạ". Đạo thấm nhuần, đầy dẫy trong trời đất; âm dương chủ tể trong vạn vật và chuyển hóa lẫn nhau. Âm cực sinh dương, dương cực sinh âm. Sự sinh trưởng biến hóa của vạn vật đều vận hành theo một quy luật có trật tự.
【Thánh nhân tri tự nhiên chi đạo bất khả vi, nhân nhi chế chi chí tĩnh chi đạo, luật lịch sở bất năng khế.】
(Thánh nhân biết đạo tự nhiên không thể trái, bèn theo đó mà chế ra cái đạo chí tĩnh, luật và lịch chẳng thể khế hợp.)
Thánh nhân hiểu rằng Đạo lớn không thể tùy tiện trái nghịch, cho nên sáng lập ra chí tĩnh chi đạo (đạo cực kỳ tĩnh lặng), dùng để tu dưỡng bản thân, thể nghiệm Đạo lớn, từ đó mà nhập đạo, được Đạo. Khế (契) là khế hợp, phù hợp. Bởi vì Đạo lớn vô hình, những luật và lịch thế gian dù có tỉ mỉ, hữu hạn đến đâu cũng không thể đo lường và khế hợp với Đạo. Chỉ có chí tĩnh chi đạo mới có thể thể sát.
Chí tĩnh chi đạo là một quan niệm quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Hoa. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử nhiều lần nhắc đến chữ "tĩnh" (lặng): "Đạt đến hư cực, giữ vững tĩnh đốc. Muôn vật cùng sinh trưởng, ta để xem sự trở lại. Vật chất um tùm, mỗi vật đều trở về cội nguồn của nó. Trở về cội nguồn gọi là lặng tĩnh, lặng tĩnh gọi là trở về mệnh." "Nặng là gốc của nhẹ, tĩnh là chúa của động. Cho nên quân tử suốt ngày đi không rời xe tư trang, dù có cảnh vinh hoa vẫn vượt lên mà an nhiên. Sao mà bậc vạn thừa lại coi mình nhẹ hơn thiên hạ? Nhẹ thì mất gốc, động thì mất chủ." "Tĩnh thắng động, lạnh thắng nóng. Thanh tĩnh là chuẩn mực của thiên hạ."
Trong Kinh Thánh cũng nhiều lần nhắc đến sự tĩnh lặng: "Các người được cứu là nhờ sự trở về và yên nghỉ; sức các người là nhờ sự yên lặng và tin cậy" (Ê-sai 30:15). "Mọi loài xác thịt hãy nín lặng trước mặt Đức Giê-hô-va" (Ê-sai 2:13). "Đức Giê-hô-va sẽ chiến đấu cho các ngươi, còn các ngươi hãy làm thinh" (Xuất Ê-díp-tô Ký 14:14). "Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời" (Thi Thiên 46:10). "Hãy tin cậy Chúa, an nghỉ trong hoàn cảnh Ngài sắp đặt" (Sách Truyền Đạo).
Thực ra, tĩnh chẳng những có ích lớn cho thân tâm con người, mà còn là phương thức quan trọng để tín đồ Cơ Đốc lớn lên trong đời sống thuộc linh. Bà Guyon trong cuốn sách nổi tiếng "Trải Nghiệm Chúa Giê-xu Christ Sâu Hơn" đã giới thiệu một cách sâu sắc và chi tiết phương pháp tĩnh lặng tu linh. Bà nói: "Người không thể dựa vào nỗ lực hoạt động của mình để đạt đến sự hiệp nhất với Chúa, bởi vì chỉ có Chúa mới chủ động kết giao với con người, và Ngài (Chúa) kết giao với con người tùy theo mức độ tĩnh lặng hay bị động của người đó. Cho nên con người càng tĩnh lặng, càng bị động trước mặt Chúa, thì càng dễ dàng hiệp nhất và thông công với Chúa một cách sâu sắc. Con người chỉ có thể hiệp nhất và thông công với Chúa trong sự đơn sơ và tĩnh lặng. Dùng sự tĩnh lặng để đến gần Đấng Christ, con đường này là tốt nhất, không có chút nguy hiểm nào."
Chí tĩnh chi đạo thực ra tương đương với phương pháp tu luyện tĩnh công (công phu tĩnh lặng) của khí công truyền thống Trung Hoa, cũng là pháp môn cốt lõi của khí công truyền thống. Mỗi khi nhắc đến khí công, nhiều tín đồ Cơ Đốc phản đối, cho là pháp giao tiếp với quỷ, là phù thủy, cho rằng luyện tập sẽ giao tiếp với ma quỷ, lạc lối. Tác giả cho rằng những tín đồ Cơ Đốc có quan điểm như vậy không hiểu rõ khí công truyền thống chân chính, và đời sống thuộc linh của họ còn rất non nớt. Cốt lõi của khí công tu luyện chính là tĩnh. Không cần phải bày tư thế gì đặc biệt, không giới hạn thời gian, địa điểm... Khí công truyền thống từ lâu đã có câu: "Đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng lìa cái này; suốt ngày, suốt đêm, đều có thể vào đạo." "Cái này" chính là tĩnh. Trong đời sống hằng ngày, bất cứ lúc nào, bất cứ đâu, hễ có chút rảnh rỗi là có thể thư giãn thân tâm, đi vào trạng thái tĩnh lặng (an nghỉ). Hễ có thể tĩnh lặng tức là luyện công, là thân tâm được ích lợi.
Những tín đồ Cơ Đốc phản đối khí công, há chẳng lẽ trong cuộc sống các bạn một chút thời gian cũng không thể tĩnh lặng được sao? Nếu vậy, có thể khẳng định các bạn chưa thực sự hiệp nhất và thông công với Chúa. Còn lập luận "giao quỷ" lại càng hoang đường hơn. Bởi vì chỉ cần là tín đồ Cơ Đốc chân chính, ắt có Thánh Linh ngự trong lòng. Thánh Linh là Đấng Bảo Hộ mà Chúa ban xuống, ở trong thân thể tín đồ để bảo vệ và dẫn dắt tín đồ. Như vậy thì còn sợ gì nữa? Nếu tĩnh lặng mà là giao quỷ hay dị giáo, thì bà Guyon đã chẳng nói: "Dùng sự tĩnh lặng để đến gần Đấng Christ, con đường này là tốt nhất, không có chút nguy hiểm nào"! Lão Tử nói: "Lấy đạo mà trị thiên hạ, thì ma quỷ chẳng còn thiêng nữa" – thật là lời chí lý!
【Viên hữu kỳ khí, thị sinh vĩnh tượng, bát quái giáp tý, thần cơ quỷ tàng, âm dương tương thắng chi thuật, chiêu chiêu hồ tận hồ tượng hĩ.】
(Vì thế có cái khí lạ, đó sinh ra vạn tượng; bát quái, giáp tý, cơ thần, tàng quỷ; thuật âm dương tương thắng, rõ ràng thay đã hết thảy trong tượng vậy.)
Viên (爰) là "vì thế", "bèn".
Kỳ khí (奇器): có người giải là âm dương, có người giải là đan điền, có người giải là Kỳ Môn Độn Giáp – đều không đúng.
Vĩnh tượng (永象): nhiều bản viết là "vạn vật" (萬物) hoặc "vạn tượng" (萬象) – không chính xác. Nên theo bản của Sở Toại Lương.
Tận (盡): nhiều bản viết là "tiến" (進) – cũng không chính xác.
Kinh Dịch nói: "Hình nhi thượng giả vị chi đạo, hình nhi hạ giả vị chi khí" (Cái ở trên hình gọi là Đạo, cái ở dưới hình gọi là khí). Khí (器) là vật có hình chất. Bởi vì thánh nhân mượn chí tĩnh chi đạo tu dưỡng, lâu ngày tự nhiên có thể nhập đạo, được Đạo. Đạo này nhập vào thân người, người đó trở thành cái khí chứa Đạo. Cái khí này chẳng phải khí thường, cho nên gọi là kỳ khí (khí lạ). Đối với tín đồ Cơ Đốc, đó chính là Thánh Linh ngự trong lòng.
Bát quái, Giáp Tý – chỉ các môn dịch học, thuật số.
Thần cơ, quỷ tàng – chỉ những sự vật linh giới ẩn hiện khó lường, biến hóa khôn lường.
Âm dương tương thắng chi thuật – tức là đạo âm dương. Mọi sự vật trong thế gian, hữu hình hay vô hình, đều có thể dùng lý âm dương để mô phỏng, phân tích, phán đoán.
Thuật âm dương tương thắng hàng nghìn năm nay được vận dụng rộng rãi trong các lĩnh vực Dịch học, thuật số, lịch pháp, y học, binh pháp, võ học, kiến trúc, phong thủy, hóa học, âm luật. Ngay cả hệ thống máy tính phức tạp hiện đại cũng chỉ dùng quy tắc nhị phân 0 và 1 để phân tích xử lý các loại thông tin dữ liệu phức tạp – quy tắc nhị phân đó chính là ứng dụng của thuật âm dương.
Bởi vì Thánh Linh đến từ sự ban cho của Chúa, mang thần tính. Trong đó, muôn vàn vạn tượng, hữu hình vô hình, không gì chẳng hiện ra (tức là vũ trụ toàn ảnh). Ngay cả cái học bát quái giáp tý, cơ vận của quỷ thần, thuật âm dương tương thắng cũng có thể cùng tận không sót, hiển lộ rõ ràng trong đó. Cho nên nói: "chiêu chiêu hồ tận hồ tượng hĩ" (rõ ràng thay, đã hết thảy trong tượng vậy). Tất nhiên, điều này cần có tầng tu linh sâu sắc mới làm được, và cũng tùy thuộc vào sự lựa chọn, ân tứ của Chúa.
Một câu hỏi có thể đặt ra: Kẻ được gọi là "đắc đạo giả" (người đắc đạo) có phải là những người từ xưa nay luyện khí công đạt đến tầng cao và có những chức năng siêu thường hay không?
Đáp: Không phải vậy. Trong thời Cựu Ước, "đắc đạo giả" là những người tin cậy một Đức Chúa Trời chân thật duy nhất (tức Thượng Đế, Giê-hô-va) và tuân theo luật pháp của Chúa. Bước vào thời Tân Ước, chỉ có tin cậy Chúa Giê-xu Christ (Chúa Giê-xu chịu đóng đinh trên thập tự giá làm của lễ chuộc tội cho nhân loại) mới thực sự là đắc đạo, mới có Thánh Linh ngự vào, mới được sự sống vĩnh hằng. Bất kỳ ai thông qua luyện khí công có được những chức năng siêu thường (kể cả những người tu hành Phật giáo, Đạo giáo), nếu không tin cậy Chúa Giê-xu Christ, thì quyết không thể gọi là đắc đạo.
Chúa Giê-xu nói: "Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống; chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha." "Đến cùng Cha" ở đây chính là vào nước của Chúa (Đạo) để hiệp nhất với Chúa – tức là đắc đạo.
HẾT BÀI CHÚ GIẢI KINH ÂM PHÙ
