Kỳ Môn Độn Giáp – Lập quẻ chia hai phái: Trí nhuận và Vô nhuận
Kỳ Môn Độn Giáp – Lập quẻ chia hai phái: Trí nhuận và Vô nhuận. So sánh ưu nhược điểm giữa Mao Sơn pháp và Chiết bổ pháp
Việc lập quẻ Kỳ Môn chia làm hai phái lớn: Trí nhuận pháp (có đặt nhuận) và Vô nhuận pháp (không đặt nhuận). Trong đó, Vô nhuận pháp chủ yếu gồm Chiết bổ pháp và Mao Sơn đạo sĩ pháp (gọi tắt là Mao Sơn pháp).
Mao Sơn pháp được cho là do các đạo sĩ Mao Sơn sáng tạo vào thời Nguyên – Minh. Phương pháp này nói gọn là: khi nào giao tiết thì bắt đầu dùng thượng nguyên của tiết đó. Thượng nguyên dùng đủ 60 giờ thì chuyển sang trung nguyên, trung nguyên dùng đủ 60 giờ thì chuyển sang hạ nguyên. Nếu hạ nguyên chưa dùng hết 60 giờ mà đã đến tiết khí tiếp theo thì dừng lại. Nếu hạ nguyên đã dùng hết mà vẫn chưa đến tiết khí tiếp theo thì tiếp tục dùng hạ nguyên thêm.
Phương pháp này giải quyết sự sai lệch giữa tam nguyên Độn Giáp và tiết khí ngay trong nội bộ một tiết khí, do đó không cần phải đặt nhuận. Vì cứ vào tiết nào là dùng thượng nguyên của tiết đó, chỉ có phần hạ nguyên có thể được cắt bớt hoặc kéo dài, về cơ bản không làm xáo trộn thứ tự tam nguyên Độn Giáp, vì vậy về lý thuyết được cho là thuận tiện và trực tiếp hơn so với Chiết bổ pháp.
Phương pháp này từ lâu ít được người dùng, gần đây có một số học giả Kỳ Môn cổ xúy và cho rằng nó chính xác hơn Chiết bổ pháp…
Kỳ Môn Độn Giáp – Lập quẻ chia hai phái Trí nhuận và Vô nhuận. So sánh ưu nhược điểm giữa Mao Sơn pháp và Chiết bổ pháp
Vậy giữa Mao Sơn pháp và Chiết bổ pháp, phương pháp nào ưu việt hơn?
Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý. Ta hãy cùng đối chiếu qua các ví dụ cụ thể.
Ví dụ thứ nhất
Thời gian dương lịch: 17:17, ngày 23 tháng 9 năm 1996
Âm lịch: Ngày mười… tháng tám năm Bính Tý
Tiết khí: 2:17, ngày 23 tháng 9 năm 1996 – Thu phân hạ nguyên
Can chi: Bính Tý, Đinh Dậu, Quý Hợi, Tân Dậu
Tuần không: Thân Dậu (năm), Thìn Tỵ (tháng), Tý Sửu (ngày), Tý Sửu (giờ)
Cục này là Âm độn 4 cục – Trực phù: Thiên Nhậm tinh – Trực sử: Sinh môn
┌──────┬──────┬──────┐ │玄武 │白虎 │六合 │ │ 天英 壬│禽 天芮 庚│ 天柱 丁│ │ 景門 戊│乙 死門 壬│ 驚門 庚│ ├──────┼──────┼──────┤ │九地 │ │太陰 │ │ 天輔 戊│ │ 天心 丙│ │ 杜門 己│ 乙 │ 開門 丁│ ├──────┼──────┼──────┤ │九天 │直符 │騰蛇 │ │ 天衝 己│ 天任 癸│ 天蓬 辛│ │ 傷門 癸│ 生門 辛│ 休門 丙│ └──────┴──────┴──────┘
Đây là ví dụ trong cuốn 「Khai Ngộ Chi Môn」 của Lữ Thường Văn. Lữ biết đồng nghiệp họ Lưu mắc ung thư mũi phải nhập viện, nên xem quẻ hỏi cát hung.
Phân tích của Lữ:
Thiên Nhuế rơi cung Ly, ứng bệnh ở phần đầu. Tử môn + Canh + Bạch Hổ chủ ung thư. Tâm tinh và Ất kỳ đều không khắc được Nhuế tinh, nên bệnh không chữa được. Quý (bệnh nhân) rơi cung Khảm, tuy lâm Sinh môn, Thiên Nhậm nhưng Trực Phù không vong, khó giữ được mạng. Lại Quý + Tân là “Võng cái thiên lao”, đoán bệnh ắt tử… Thực tế bệnh nhân qua đời vào ngày Đinh Mùi tháng Mậu Tuất năm Bính Tý.
Nếu theo Mao Sơn pháp lập quẻ thì cục này là Âm độn 7 cục, quẻ như sau:
Cục: Âm độn 7 – Trực phù: Thiên Nhuế tinh – Trực sử: Tử môn
┌──────┬──────┬──────┐ │直符 │九天 │九地 │ │禽 天芮 癸│ 天柱 戊│ 天心 己│ │庚 死門 辛│ 驚門 丙│ 開門 癸│ ├──────┼──────┼──────┤ │騰蛇 │ │玄武 │ │ 天英 丙│ │ 天蓬 丁│ │ 景門 壬│ 庚 │ 休門 戊│ ├──────┼──────┼──────┤ │太陰 │六合 │白虎 │ │ 天輔 辛│ 天衝 壬│ 天任 乙│ │ 杜門 乙│ 傷門 丁│ 生門 己│ └──────┴──────┴──────┘
Ở cục này, nếu đoán bệnh vị theo Thiên Nhuế thì nhìn vào cung Tốn. Thiên Nhuế lâm Quý, đây cũng là cung hung nhất cục. Tuy quẻ Tốn có liên quan đến khí huyết, hô hấp, nhưng để từ đó đoán bệnh nhân mắc bệnh đường hô hấp, thậm chí là ung thư mũi thì khá gượng ép. Rõ ràng cục theo Chiết bổ pháp phù hợp và chính xác hơn.
Ví dụ thứ hai
Thời gian dương lịch: 19:17, ngày 23 tháng 5 năm 1996
Âm lịch: Ngày mồng 7 tháng 4 năm Bính Tý
Tiết khí: 2:23, ngày 21 tháng 5 năm 1996 – Tiểu mãn hạ nguyên
Can chi: Bính Tý, Quý Tỵ, Canh Thân, Bính Tuất
Tuần không: Thân Dậu (năm), Ngọ Mùi (tháng), Tý Sửu (ngày), Ngọ Mùi (giờ)
Cục này là Dương độn 8 cục – Trực phù: Thiên Bồng tinh – Trực sử: Hưu môn
┌──────┬──────┬──────┐ │白虎 │玄武 │九地 │ │ 天英 己│禽 天芮 辛│ 天柱 乙│ │ 生門 癸│丁 傷門 己│ 杜門 辛│ ├──────┼──────┼──────┤ │六合 │ │九天 │ │ 天輔 癸│ │ 天心 丙│ │ 休門 壬│ 丁 │ 景門 乙│ ├──────┼──────┼──────┤ │太陰 │騰蛇 │直符 │ │ 天衝 壬│ 天任 戊│ 天蓬 庚│ │ 開門 戊│ 驚門 庚│ 死門 丙│ └──────┴──────┴──────┘
Đây là ví dụ trong cuốn 「Thần Kỳ Chi Môn」 của Vương Kiến Quốc. Dì của một người bị xuất huyết não phải nhập viện, người đó xem quẻ hỏi tình hình bệnh và tiên lượng.
Phân tích của Vương:
Thiên Nhuế rơi cung Ly, Tân can kích hình. Đinh, Huyền Vũ chủ huyết dịch. Thương môn sinh cung là vượng, đoán là xuất huyết não. (Cung Ly cũng là cung hung nhất trong cục, phán đoán này dù là suy luận sau cũng khá sát với vị trí bệnh). Tâm tinh và Ất kỳ đều không khắc được Nhuế, Nhuế lại khắc Tâm – Ất, nên bệnh nặng không cứu được. (Tuy nhiên, có trường hợp Tâm – Ất khắc Nhuế nhưng bệnh vẫn nặng, có trường hợp không khắc mà bệnh vẫn khỏi, nên việc Tâm – Ất khắc Nhuế không nên coi là tiêu chuẩn quyết định bệnh có chữa được hay không…)
Nếu theo Mao Sơn pháp lập quẻ thì cục này là Dương độn 5 cục, quẻ như sau:
Cục: Dương độn 5 – Trực phù: Thiên Trụ tinh – Trực sử: Kinh môn
┌──────┬──────┬──────┐ │騰蛇 │太陰 │六合 │ │ 天心 己│ 天蓬 癸│ 天任 辛│ │ 死門 乙│ 驚門 壬│ 開門 丁│ ├──────┼──────┼──────┤ │直符 │ │白虎 │ │ 天柱 庚│ │ 天衝 丙│ │ 景門 丙│ 戊 │ 休門 庚│ ├──────┼──────┼──────┤ │九天 │九地 │玄武 │ │禽 天芮 丁│ 天英 壬│ 天輔 乙│ │戊 杜門 辛│ 傷門 癸│ 生門 己│ └──────┴──────┴──────┘
Ở cục này, Thiên Nhuế rơi cung Cấn. Cung Cấn không phải là cung hung nhất trong cục. So sánh hai cục, ưu thế thuộc về Chiết bổ pháp là rõ ràng.
Ví dụ thứ ba
Thời gian dương lịch: 12:17, ngày 2 tháng 12 năm 2002
Âm lịch: Ngày 28 tháng 10 năm Nhâm Ngọ
Tiết khí: 19:42, ngày 22 tháng 11 năm 2002 – Tiểu tuyết hạ nguyên
Can chi: Nhâm Ngọ, Tân Hợi, Giáp Thìn, Canh Ngọ
Tuần không: Thân Dậu (năm), Dần Mão (tháng), Dần Mão (ngày), Tuất Hợi (giờ)
Cục này là Âm độn 2 cục – Trực phù: Thiên Nhuế tinh – Trực sử: Tử môn
┌──────┬──────┬──────┐ │騰蛇 │直符 │九天 │ │ 天英 庚│禽 天芮 戊│ 天柱 壬│ │ 杜門 丙│丁 景門 庚│ 死門 戊│ ├──────┼──────┼──────┤ │太陰 │ │九地 │ │ 天輔 丙│ │ 天心 癸│ │ 傷門 乙│ 丁 │ 驚門 壬│ ├──────┼──────┼──────┤ │六合 │白虎 │玄武 │ │ 天衝 乙│ 天任 辛│ 天蓬 己│ │ 生門 辛│ 休門 己│ 開門 癸│ └──────┴──────┴──────┘
Đây là ví dụ của Đỗ Tân Hội. Con gái của luật sư Vương (Bắc Kinh) khi khám sức khỏe phát hiện hạch bạch huyết dưới mang tai sưng viêm, bác sĩ đề nghị chọc hút làm xét nghiệm, người nhà xem quẻ hỏi có phải ung thư không.
Phân tích của Đỗ:
Thiên Nhuế rơi cung Ly, thừa Trực Phù, chính ứng bệnh ở phần đầu. Lâm Đinh kỳ, Cảnh môn không phải hung môn, tuy gặp địa bàn Canh, nhưng chỉ là u lành tính. Trực Phù, Đinh kỳ lâm cung thì không phải ung thư. Thời can Canh là con gái, ở trường sinh, sẽ không quá nguy hiểm…
Nếu theo Mao Sơn pháp lập quẻ thì cục này là Âm độn 8 cục, quẻ như sau:
Cục: Âm độn 8 – Trực phù: Thiên Nhậm tinh – Trực sử: Sinh môn
┌──────┬──────┬──────┐ │白虎 │六合 │太陰 │ │禽 天芮 丁│ 天柱 己│ 天心 庚│ │辛 開門 壬│ 休門 乙│ 生門 丁│ ├──────┼──────┼──────┤ │玄武 │ │騰蛇 │ │ 天英 乙│ │ 天蓬 丙│ │ 驚門 癸│ 辛 │ 傷門 己│ ├──────┼──────┼──────┤ │九地 │九天 │直符 │ │ 天輔 壬│ 天衝 癸│ 天任 戊│ │ 死門 戊│ 景門 丙│ 杜門 庚│ └──────┴──────┴──────┘
So sánh hai cục, ưu thế của Chiết bổ pháp là rõ ràng. Xét tượng của nhật can và thời can ở hai cục, cục Chiết bổ pháp thể hiện rõ nét thân phận luật sư của người xem quẻ hơn, trong khi cục Mao Sơn pháp lại không được như vậy.
Nhận xét chung: Qua ba ví dụ đối chiếu, có thể thấy trong thực tế dự đoán, Chiết bổ pháp cho thấy sự chính xác và phù hợp cao hơn so với Mao Sơn pháp.
