Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh - Quyển 2
Quyển 2
CỬU CUNG TRỰC PHÙ TRỰC SỨ
Có cư dân mạng đặt câu hỏi trực tuyến liên quan đến vấn đề của Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh. Dưới đây, chuyên gia của Diễn đàn Dịch Học sẽ giải đáp thắc mắc liên quan đến vấn đề này, hy vọng sẽ hữu ích cho bạn.
Quyển 2
BÁT MÔN TRỰC SỰ (Tám cửa và công việc chiếu mệnh)
Cung Khảm: Là nơi khí nhất khai sinh, cung Huyền Đô, vượng Nhâm Quý. Thủy vượng thành mùa Đông, Mộc nhờ đó mà sinh, Hỏa gặp thì diệt, Thổ gặp thì nhuận, Kim dùng thì lạnh. Là phương chính Bắc, số một bạch, có cửa Hưu chủ quản. Dương khí thăng bố, vạn vật tư sinh. Tu tạo tốt, cai quản binh lính, hành quân, mưu cầu, viễn hành, yết kiến quý nhân đều là đường hanh thông.
Xuất hành giờ Dương qua cửa này gặp được Dương quý, giờ Âm qua cửa này gặp được Âm quý, y phục màu tím, màu biếc. Vượng thì thấy người phú quý, hưu tù thì thấy người nghèo hèn, chẳng thì thấy sự tranh cãi. Nếu đến cung Ly (cửa Hưu đến Ly), là trên khắc dưới, gọi là Đại hung bách (bị cửa khắc cung - hung).
Cung Khôn: Tiếp thụ khí Lục Âm, phối đức hậu tái. Lập Thu dần mát, vạn vật sắp rụng. Kim gặp thì sinh, Thủy gặp thì trong, Mộc gặp thì tàng, Hỏa gặp thì vô quang. Địa khí hạ hàng. Là Tây Nam, số hai hắc, có cửa Tử chủ quản.
Âm khí quá thịnh, chỉ thích hợp hình lục, táng tế. Viễn hành chủ bệnh, gặp thêm hung tinh ắt gặp người hoạn nạn hoặc tiếng khóc. Hành đến cung Khảm (cửa Tử đến Khảm), vì tiền của mà tranh đấu, trên khắc dưới là Cung bách (cửa khắc cung), đại hung. Ví dụ: Ngày 29 tháng 4 nhuận, giờ Bính Thìn (trong tiết Mang Chủng hạ nguyên), Giáp Dần làm phù đầu, Thiên Cầm làm Trực Phù, Tử môn làm Trực Sứ, đều đến cung 7 (Đoài), chính thần Khôn ở Tây. Ta từ phía Nam thành phố đi về phía Tây nửa đường, quả nhiên thấy đám tang, đó là ứng nghiệm. Phàm gặp kiện tụng, đại kỵ ra cửa này.
Cung Chấn: Ở cung Lan Đài, nơi sấm sét phát tiết. Xuân hòa lớn khắp, dương khí chính thông. Chính vị Giáp Ất, um tùm tốt tươi. Kim gặp thì tổn thương, Thủy gặp thì nhuận, Hỏa gặp thì thiêu, Thổ gặp thì bồi đắp. Là phương Đông, số ba bích, có cửa Thương chủ quản.
Thích hợp xuất quân bắt bớ, báo thù, phạt bạn nghịch, câu cá săn bắn. Ra cửa này thấy lửa hoặc người đốn củi thì hung, gặp trộm cướp. Đến Khôn là cung bách (cửa khắc cung), đến Cấn cũng hung. Ví dụ: Ngày 18 tháng 4 năm Tân Tỵ (Sùng Trinh), giặc lớn vài vạn cướp phá, đóng trại ở Thổ Tử Khẩu, châu Lai Vu. Các hương thân cử nghĩa binh chống cự, chưa thắng. Đêm sai người hỏi ta kế xuất binh. Lúc đó giờ Hợi ngày Quý Hợi, ở tiết Lập Hạ hạ nguyên, Dương cục 7, phù đầu Giáp Dần, đến giờ Hợi được sao Xung, cửa Thương, thích hợp ra hướng Đông. Quả nhiên như lời, đêm đánh tan giặc, dư đảng đều bình. Cần biết cửu tinh mỗi sao đều có chỗ thích hợp, không câu nệ phục ngâm.
Cung Tốn: Là gió huân, thời gian giao tiếp xuân hạ. Lục dương số tuyệt, âm khí sắp tiết. Kim gặp thì phạt, Thủy gặp thì mộ, Hỏa gặp thì nóng, Thổ gặp thì khố, Mộc gặp thì rừng. Vạn vật cổ vũ. Là Đông Nam, số bốn bích, có cửa Đỗ chủ quản.
Đỗ là đóng kín, không thích hợp làm việc giết chóc, trốn chạy khó đuổi, đường gặp người dữ. Nếu ẩn náu, có thần trợ giúp, ra cửa này ắt gặp nam nữ cùng đường, hoặc người bệnh tay chân. Nếu đến Khôn, Cấn, trăm sự không thành.
Trung cung: Gọi là Hoàng Đình, là vị trí Mậu Kỷ, ngũ tinh cùng sáng, chống đỡ tám phương, kế thừa khí bất chính của bốn mùa. Cũng do cửa Tử (mượn từ Khôn) chủ quản.
Cung Càn: Thể tượng đức trời, âm khí chịu hết, trăm linh thành tựu, lúc bế tắc. Mộc gặp thì cạn, Thủy gặp thì trong, Hỏa gặp thì tắc, Kim gặp thì cứng, Thổ gặp thì nhuận. Là Tây Bắc, số sáu bạch, có cửa Khai chủ quản.
Thích hợp viễn hành, chinh phạt, giao tiếp, rượu thịt. Ra cửa này đường gặp trà rượu, hoặc thấy quý nhân. Đến Chấn, Tốn chủ khẩu thiệt.
Cung Đoài: Là Khoảnh Lương (cầu vai), là thể của Canh. Kim nghiêm một lớp, vạn mộc khô vàng. Kim gặp thì sáng, Mộc gặp thì chết, Thủy gặp thì cạn, Hỏa gặp thì mất, Thổ gặp thì bồi. Là chính Tây, số bảy xích, có cửa Kinh chủ quản.
Thích hợp mở cửa đóng cửa (khởi sự), đánh địch, địch bại ta thắng. Việc lành thì nguy, việc dữ thì tốt, cưỡng hành thì bị bắt. Ra cửa này gặp người bệnh chân, người chột mắt, hoặc nghe tin kinh hãi tranh cãi. Nếu đến Chấn, Tốn, tai họa lập tức đến, trời hành sát khí, rất hung.
Cung Cấn: Là núi Thổ, âm dương hồi vận, công thành sinh thành, thiên đạo thông suốt. Kim gặp thì sáng, Mộc gặp thì nảy mầm, Thủy gặp thì chính, Hỏa gặp thì ấm, Thổ gặp thì tinh. Là Đông Bắc, số tám bạch, có cửa Sinh chủ quản.
Phàm mưu cầu được thành, yết kiến quý nhân được thân cận. Không thích hợp xâm phạt, chủ chịu hình phạt trời. Dưới cửa này lấy nước tưới vào cây, cây chết sẽ sống lại. Nếu ra cửa này, gặp người khéo léo hoặc áo đen, xe ngựa một mình, người áo vàng tía. Nếu đến Khảm là bị hại (cửa khắc cung), có việc văn thư quan hình.
Cung Ly: Ở Bính Hỏa, tinh của Bính Đinh, thuần âm giao kết, lửa nóng khí lên. Kim gặp thì tan chảy, Mộc gặp thì hóa, Hỏa gặp thì hưng, Thổ gặp thì khô, Thủy gặp thì chết. Là chính Nam, số chín tử, có cửa Cảnh chủ quản.
Thích hợp tuyển quân hiến kế, đột trận phá vây, viễn hành chủ chết giữa đường. Ra cửa này ắt gặp người râu đỏ, chim kêu, đuổi gọi, hoặc gặp rượu thịt. Nếu đến Càn, Đoài, chủ có việc quái lạ.
<Kỳ Môn Độn Giáp Nguyên Linh Kinh> Quyển 2: Cửu Cung Trực Phù Trực Sứ
CỬU CUNG TRỰC PHÙ TRỰC SỨ
Cung Khảm: Cửa Hưu làm Trực Sứ, Thiên Bồng làm Trực Phù (tên Tử Cầm), chủ Thủy, chủ trộm cướp. Chiếm về giặc nên dùng. Lợi cho an cư, đắp thành, đóng trại, xây đồn, an táng, cất mộ. Xuân Hạ tốt, Thu Đông hung. Ngày giờ này ắt có mây đen đến trước quân để trợ uy binh. Mây đỏ chủ thắng, mây xanh, trắng, vàng đều không thắng. Được Nhật Kỳ tốt, Nguyệt Kỳ bình thường, Tinh Kỳ đại cát. Nếu khởi tạo, dời nhà, hôn nhân thì tổn thương; nếu buôn bán xa xôi ắt gặp hại.
Cung Khôn: Cửa Tử làm Trực Sứ, Thiên Nhuế làm Trực Phù (tên Tử Thành), chủ Hỏa Thổ. Nên kết giao thụ đạo, làm việc chiến phạt. Ngày giờ này mây đen tốt, mây trắng xanh không lợi, mây đỏ có giặc. Nguyệt Kỳ cưỡi lên (được Nguyệt Kỳ) có thể thoát nạn, Tinh Kỳ có thể giải khỏi thương vong.
Cung Chấn: Cửa Thương làm Trực Sứ, Thiên Xung làm Trực Phù (tên Tử Kiều, lại là Lôi Tổ). Có thể xuất quân rửa thù, phá vây đánh địch, uy chấn tám phương. Nếu cưới gả không tốt, chủ tổn tài. Lên quan lợi cho võ chức. Xuân Thu không tốt, sửa bếp không lợi. Ngày giờ này có gió mạnh sấm sét, binh có thể thắng. Nhật Kỳ, Tinh Kỳ tốt, Nguyệt Kỳ việc võ hanh thông.
Cung Tốn: Cửa Đỗ làm Trực Sứ, Thiên Phụ làm Trực Phù (tên Tử Khanh). Nên giữ đạo an thân, tu lễ thiết giáo, dương binh hưng sư. Xuân Hạ hôn nhân, dời nhà tốt, Thu Đông không lợi. Ngày giờ này có mây xanh tốt, mây đen trắng không tốt. Gặp Tam Kỳ, mọi mưu cầu đều lợi.
Trung cung (5): Âm (Dương) độn mượn cửa Tử (Sinh) làm Trực Sứ, Thiên Nhâm (Thiên Nhuế) làm Trực Phù. Bản cung là Thiên Cầm (tên Tử Công). Nên viết bùa, làm pháp, tế tự, chiến chinh, dời nhà, buôn bán, an táng. Văn quan lên nhậm đại cát. Thu Đông tốt, Xuân Hè hung. Trời quang dùng binh tốt. Tam Kỳ đắc sứ, trăm mưu cầu càng tốt.
Cung Càn: Cửa Khai làm Trực Sứ, Thiên Tâm làm Trực Phù (tên Tử Nang). Nên viết bùa, pha chế thuốc. Thu Đông tốt, Xuân Hè hung. Được kỳ đại cát.
Cung Đoài: Cửa Kinh làm Trực Sứ, Thiên Trụ làm Trực Phù (tên Tử Vi). Nên cố thủ, còn lại không lợi. Nếu có mây xanh ra, quân tự loạn; mây đỏ, mây đen ngại do thám; mây vàng có kinh sợ. Nhật Kỳ ẩn náu không dấu vết, Tinh Kỳ, Nguyệt Kỳ hung.
Cung Cấn: Cửa Sinh làm Trực Sứ, Thiên Nhâm làm Trực Phù (tên Tử Thân). Nên hành quân, cưới gả, lên quan, yết kiến quý nhân đều tốt, tu tạo không lợi. Xuân Hè tốt, nếu có mây nhẹ, tám phương đều tốt, được kỳ tốt.
Cung Ly: Cửa Cảnh làm Trực Sứ, Thiên Anh làm Trực Phù (tên Tử Uy). Nên viễn hành, dâng sách, còn lại không lợi. Ngày giờ này nếu có mây đỏ thì không dùng. Được Nhật Kỳ, tiếng sấm ứng hợp; Nguyệt, Tinh nhị kỳ không tốt. Nếu hưu tù phế một, ra cửa nên gọi tên thần sao để hộ thân thì tốt (ví dụ ra Thiên Bồng thì gọi Tử Cầm). Nếu muốn viễn hành ra cửa, đều từ cửa tốt hướng tốt, gọi tên sao và cửa đó, rồi đi 60 bước, rẽ trái về Thái Âm là đại cát.
THẬP CAN CÁT HUNG NGHỊ KỴ (Mười can - điều nên kiêng)
Giáp: Là Thanh Long, là Thiên Phúc Thần (Vương Văn Khanh). Âm Dương nhị độn, phàm việc gặp đều là thượng cát. Bổ di: Viễn hành, yết kiến quý nhân, cầu quan, buôn bán tốt, chiến lợi khách (bên chủ động). Không nên cưới gả, dời nhà. Dương tinh tốt, Âm tinh không lợi. Phục ngâm không kỵ, nghe tin không thực.
Ất: Là Nhật Kỳ, Thiên Đức Thần (Long Văn Khanh). Nên dời nhà, lên quan, giao dịch, không nên thi hành uy quyền. Lúc này nghe tin không thực.
Bính: Là Nguyệt Kỳ, Thiên Uy Thần (Đỗ Trọng Khanh). Sao tốt lâm đến, không có khố mộ, không bị chế thì dùng được. Lúc này nghe tin mừng là thực, tin lo là hư.
Đinh: Là Tinh Kỳ, là Ngọc Nữ (Thiên Nữ Thần Ký Du Khanh), linh nhất trong Tam Kỳ. Nên vào chợ, trốn chạy, ẩn náu, không nên dùng binh. Lúc này nghe tin lo là hư, tin mừng là thực.
Mậu: Là Thiên Môn, Thiên Vũ Thần (Tư Mã Dương). Lợi viễn hành, dùng binh, không nên lên quan, buôn bán. Lúc này nghe tin lành thực, dữ hư.
Kỷ: Là Địa Hộ, Minh Đường Thần (Kỷ Du Khanh). Nên lên quan, thăng chuyển, lợi việc âm tư, mưu đồ kín. Lúc này nghe tin lành hư, dữ thực.
Canh: Là Bạch Hổ, Thiên Ngục Thần (Quách Dương Chi). Các việc đều không nên, binh chỉ nên cố thủ.
Tân: Là Thiên Đình, lại là Thiên Bào Thần (Cao Tử Cường). Hành quân chủ thắng, lên quan trước tốt sau hung, các việc không nên, nghe tin mừng lo đều bình thường.
Nhâm: Là Thiên Lao Thần (Vương Lộc Khanh). Các việc không nên, nghe tin mừng lo đều hư.
Quý: Là Thiên Tàng (Nguyện Tử Cường), lại là Thiên Võng. Các việc không nên, chỉ nên ẩn tích mai danh, cầu tiên. Ba can Đinh, Kỷ, Quý lâm lục hợp cung, nên trốn chạy; lâm Thái Âm cung, nên phục tàng; lâm Cửu Địa, nên đồn thủ. Đó là khéo dùng Quý, khắc được tội Thiên Võng. Lúc này nghe tin đều hư.
CỬU ĐỘN CÁT HUNG NGHỊ KỴ (Chín cách độn, tốt xấu nên kiêng)
Thiên Độn: Cửa Sinh, Bính gia Đinh; hoặc cửa Sinh, Lục Đinh lâm Cửu Địa; hoặc cửa Hưu, Tam Kỳ lâm Thái Âm, cũng gọi là Thiên Độn. Phương này nếu được Nhật Lộc, hợp thành Quý Thần, Thiên Không, Thiên Ân, Thiên Xá, trăm việc đều tốt. Nếu gặp Nhật Phá, các việc không lợi. Gặp Nhật Quỷ, vạn sự quấn quýt. Nếu gặp Thiên Cương, Hà Khôi, kỵ đi thuyền, qua nước. Được độn này có thể sai Lục Đinh hô phong gọi mưa.
Địa Độn: Cửa Khai, Ất gia Kỷ; hoặc Lục Đinh, Hưu gia Cửu Địa; hoặc Tam Kỳ, Khai môn gia Thái Âm, cũng gọi là Địa Độn. Có Chu Tước thì thấy văn thư; Nguyệt Phá, Đăng Minh, Thần Hậu thì xuất quân không lợi; Thái Ất, Thắng Quang thì trốn chạy bị bắt; Bạch Hổ có tai họa sốt rét; Thiên Hậu, Thái Âm thì ra cửa nhặt được của cải vàng bạc; Nhật Quỷ lâm thì có người tìm đến; Thần Hậu, Khôi Cương thì nữ phạm; Thanh Long, Phong Bá chủ có mưa gió; Thái Thường, Đại Cát chủ trong núi xuất rồng; Câu Trần chủ binh khởi. Lục Đinh có thể ẩn hình, tu tạo, các việc hanh thông.
Nhân Độn: Thái Âm hợp Hưu, Đinh; hoặc Tam Kỳ, Sinh môn gia Thái Âm; hoặc Lục Ất, Sinh môn gia Cửu Địa, cũng gọi là Nhân Độn. Thấy Bạch Hổ thì qua sông chìm thuyền; Câu Trần, Chu Tước thì quỷ thần làm hại; Đại Cát, Tiểu Cát có mưa gió; Nhật Lộc ra cửa gặp quý nhân; Nhật Hợp trăm việc tốt; Phong Bá, Vũ Sư sấm sét lớn; Khôi Cương đồng vị thì tai họa xâm lấn.
Phong Độn: Lục Đinh, Hưu gia Quý đến Tốn; Ất Kỳ, Tam Cát môn gia Tân đến Tốn; Tân gia Tam Cát môn đến Cấn; Quý gia Hưu đến Tốn. Thấy Chu Tước chủ kiện tụng; Thiên Hậu, Lục Hợp, Công Tào có hỷ sự hôn nhân; Bạch Hổ, Khôi Cương chủ yếu ớt; Thiên Không, Đăng Minh phàm việc chính trung; Thanh Long chủ gãy đổ; Đằng Xà chủ chìm nước; Nguyệt Yếm chủ hỏa hoạn; Thiên Hậu chủ dâm phụ; Khôi Cương gia lên hình phạt bất lợi. Độn này có thể gọi gió trợ hỏa công. Lại nói: Long Độn cũng mượn Đinh và Cảnh, một bước lên mây vỗ cánh bay.
Long Độn: Ất, Nhâm, Sinh môn đồng lâm Khảm; hoặc Sinh môn hạ lâm Lục Hợp, trên được Thiên Tâm; Ất Kỳ, Hưu môn gia Khôn phương; hoặc Khai môn gia Cửu Địa cung; Đinh, Hưu môn gia Khảm phương, đều gọi là Long Độn. Có Huyền Vũ, Thiên Hậu thì việc trộm cắp, gian dâm; Phong Bá, Vũ Sư chủ mưa dầm; Nhật Phá có nước lớn; Nhật Quỷ trong nhà có ma quỷ làm hại; Nhật Lộc, Nhật Hợp các việc đều thành; Nhật hình xung thì không gì thành được; Đằng Xà, Chu Tước, Câu Trần phàm việc hư quấn; Thanh Long, Thần Hậu thì nước tụ sông; Đăng Minh, Hà Khôi thì mây mưa chẳng sâu; Thiên Cương gia Mạnh thì mưa dầm dề. Lợi thủy chiến.
Hổ Độn: Ất, Sinh gia Cấn, Tân; hoặc Canh môn lâm Đoài, Tân; hoặc Tam Cát môn gia Cửu Địa, Cấn phương, đều là Hổ Độn. Gặp Thanh Long thì đại bất lợi, có hung; Hà Khôi, Thiên Không thì chẳng thấy; Bạch Hổ có gió lớn; Thần Hậu, Huyền Vũ xuất binh đại cát; thấy Nguyệt Yếm thì không thể động trước; Nhật Lộc, Nhật Mã chủ được tài; Quý Nhân, Tam Sát đại chiến đại công. Lại nói: Hổ cuồng vị gặp Đinh, Cảnh chế, quát tháo sinh phong trên đàn tướng.
Quỷ Độn: Khai, Hưu, Đinh gia Ất; Hưu môn, Lục Tân được Thiên Phụ; Đinh, Sinh môn gia Thái Âm; Đinh, Sinh môn gia Cửu Địa đến Càn; Đinh, Hưu môn gia Cấn, đều là Quỷ Độn. Gặp Chu Tước, Thái Xung thì thích hợp viết bùa trấn yểm; Hà Khôi, Đằng Xà, Thiên Cương, Tòng Quỳ, Câu Trần chủ quỷ thần yêu tà làm hại; Lục Hợp chủ kinh sợ quái dị; gặp Nhật Mã thì nên cầu thần trả nguyện; Nhật Hợp làm việc có thành; Nhật Phá, Nhật Đạo mất của cải; thấy Bạch Hổ chủ việc trộm cướp; Đăng Minh chủ tranh chấp sản nghiệp khẩu thiệt; Thái Ất, Thái Âm thì nên sửa sang mộ phần; Nhật Phá phàm việc không tốt; Thiên Quỷ tác Bạch Hổ có bệnh dịch hại người, trong nhà có tiếng ma quỷ kinh người.
Thần Độn: Cửu Thiên, Bính Hỏa, Sinh môn, Lục Kỷ; Khai môn thượng hợp Thiên Tâm; Bính Kỳ, Sinh môn gia Cửu Thiên; Ất Kỳ, Khai môn được Thiên Tâm, đều là Thần Độn. Có Đại Cát, Tiểu Cát có thể sai thần khiến tướng; Bạch Hổ, Huyền Vũ có gió lớn; Nhật Lộc ở Bính thì nên tế phúc; Thần Hậu, Thiên Hậu, Đăng Minh nên cầu đảo thần minh; Thái Ất, Thái Xung, Thái Âm không thể lễ thần, trái lại có hung tai; Tòng Quỳ, Hà Khôi, Lục Hợp, Câu Trần có thể đặt đàn mời thần, ắt giáng lâm; Truyền Tống, Chu Tước nên tế tự; Kiếp Sát, Bạch Hổ có sét đánh người; Thiên Không, Thái Thường, Thái Âm, Lục Hợp, Quý Nhân, Công Tào có thể cầu quý cầu danh, thêm có Nhật Hợp thì việc rất lợi.
Tổng luận: Phàm làm việc, Cửu Độn là thượng cát, Trá Giả (Tam Trá) là thứ cát. Tam Trá Ngũ Giả mỗi loại đều có công dụng riêng, tùy việc mà lấy, đều tốt.
Tam Kỳ gia Cửu Địa là Trọng Trá, lợi lấy tài.
Tam Kỳ gia Thái Âm là Trực Trá, thích hợp hành công tu đạo.
Tam Kỳ, Cát môn gia Lục Hợp là Hưu Trá, thích hợp pha chế thuốc.
Cảnh môn hợp Ất, Bính, Tam Kỳ gia Cửu Địa (một thuyết là Cửu Thiên) là Thiên Trá, thích hợp tiến yết cán quý.
Đỗ môn hợp Đinh, Kỷ, Quý lâm Cửu Địa hoặc Thái Âm, Lục Hợp là Địa Giả, lợi cho phục tàng, trốn chạy.
Lục Nhâm hợp Kinh môn lâm Khôn, hoặc Kinh môn, Lục Hợp hạ lâm Cửu Thiên là Nhân Giả, thích hợp yểm bắt (một thuyết: Đinh, Kỷ nhị tinh hợp Thương môn gia Lục Hợp gọi là Vật Giả).
Đinh Kỳ, Thái Âm hợp Đỗ môn hạ lâm Lục Kỷ, hoặc Ất Kỳ, Thương môn gia Lục Hợp là Vật Giả, thích hợp việc âm mưu, mật sự.
Tử môn, Chu Tước, Lục Kỷ đến Cấn phương, hoặc Đỗ môn, Đinh, Kỷ, Quý gia Thái Âm là Quỷ Giả, thích hợp an táng (một thuyết: Kỷ, Quý nhị tinh hợp Tử môn gia Cửu Địa gọi là Thần Giả).
Lục Canh, Thương môn đến Tốn cung là Thần Giả, lợi cho việc tư hành, dùng kế gián điệp.
THIÊN BÀN GIA ĐỊA BÀN CÁT HUNG (Cát hung khi Thiên bàn gia lên Địa bàn)
Thiên bàn Giáp gia Địa bàn Giáp: Tuy gọi là Phục Ngâm, nhưng có tượng Thanh Long xuất thổ, cát hung không nhất định, chỉ xem cửa thế nào. Cửa cát thì cát, cửa hung thì hung, đại để không lợi cầu tài.
Giáp gia Ất: Tức là cách "Thanh Long nhập vân", lại được Tam Kỳ, Cát môn, cưới gả ắt sinh quý tử. Tinh, Can bất lợi thì chỉ hư danh.
Giáp gia Bính: Cách "Thanh Long phản thủ", động tác đại lợi, nếu môn nghi không hợp thì chưa làm nên cát.
Giáp gia Đinh: Cách "Thanh Long diệu minh", lại được cát môn, nên yết quý cầu quan, ắt có vinh quang, nếu phù sứ hung thì ắt gặp kiện tụng.
Giáp gia Kỷ: Cách "Thanh Long hợp linh", được tinh cát có tài, việc cát ắt thành. Tinh môn bất hợp thì việc nhiều hư hao.
Giáp gia Canh: Tai họa sinh bất trắc, tinh cát cũng nên giữ thủ chờ đợi.
Giáp gia Tân: Cách "Thanh Long thất kinh", được môn cát, tinh cát, làm việc như ý; môn tinh hung thì chủ mất tài.
Giáp gia Nhâm: Cách "Thanh Long nhập võng", người Âm (nữ) được thì chủ có tai, người Dương (nam) được thì chủ bất hòa.
Giáp gia Quý: Cách "Thanh Long Hoa Cái", môn hợp tinh cát thì cát, nếu cửa Thương, Tử thì không đẹp.
Thiên bàn Ất gia Giáp: Âm trung phản Dương, được hung tinh thì hại người phá của, lợi Âm không lợi Dương.
Ất gia Ất: Cách "Nhật Kỳ phục hình", không lợi cầu danh, môn hợp hơi tốt, môn nghịch chủ hung.
Ất gia Bính: Cách "Kỳ Nghi đắc thuận", gặp cát tinh là điềm thăng quan, chồng hỏi vợ chủ lo xa.
Ất gia Đinh: Cách "Chu Tước nhập giang", bị mộ chủ thư từ trì trệ, được cát tinh miễn tai.
Ất gia Kỷ: Cách "Nhật Kỳ nhập vụ", Thổ Mộc tương khắc, cầu việc không tốt, môn hung càng xấu.
Ất gia Canh: Cách "Nhật Kỳ thụ hình", chủ tranh tài thành kiện.
Ất gia Tân: Cách "Thanh Long đào tẩu", chủ tài của mất trốn, cưỡng làm thì rất hung.
Ất gia Nhâm: Vạn sự đều đốn, nam mất của, nữ có bệnh.
Ất gia Quý: Cách "Nhật nhập thiên võng", quan sự phá tài, vạn sự phá thương.
Thiên bàn Bính gia Giáp: Cách "Thanh Long đắc quang", tinh phủ tương hợp, hỷ khách phi thường; "Phi điểu điệt huyệt" cách, trăm việc cát.
Bính gia Ất: Là Nhân Độn, thăng quan thụ lộc.
Bính gia Bính: Kỳ trung hữu kỳ, người thường có việc ly kỳ, quý nhân được quan lộc.
Bính gia Đinh: Cách "Kỳ nhật Thái Âm", văn thư toại nguyện, trăm việc như lòng.
Bính gia Kỷ: Cách "Hỏa nhập Câu Trần", hình danh bất lợi.
Bính gia Canh: Cách "Chức nữ tầm ngưu lang", việc tư tình oan ức, kiện tụng.
Bính gia Tân: Cách "Chu Tước nhập ngục", quan nhân mất chức, thường nhân chịu hình.
Bính gia Nhâm: Đinh Nhâm hóa Mộc, điềm tiến lộc, chủ sự hòa mỹ.
Bính gia Quý: Cách "Chu Tước trầm ngâm", công tư bất hợp, hai việc đều tổn thương.
