Kỳ Môn Độn Giáp là gì?
Kỳ Môn Độn Giáp phân biệt là gì?
Kỳ Môn Độn Giáp, “Kỳ” chỉ tam kỳ, “Môn” chỉ bát môn, “Độn” là che giấu, “Giáp” chỉ thiên can Giáp.
Trong các thuật dự đoán và quyết sách quản lý truyền thống của Trung Quốc, tầng lớp cao nhất là Tam thức quân vương, tức Thái Ất, Kỳ Môn và Lục Nhâm. Chúng đều do những người nắm giữ thiên văn, lịch pháp và việc quân quốc đại sự thông thạo. Trong đó, Kỳ Môn chủ yếu dùng để chiếm đoán quân đội, chế thắng địch thủ. Sở dĩ gọi là “thức” vì chúng dùng thức bàn đặc biệt để diễn luyện.
Kỳ Môn Độn Giáp do ai tạo ra?
Về nguồn gốc, trong phần cơ bản của Kỳ Môn có ghi chép, cho rằng vào thời Hoàng Đế đánh Xi Vưu, do Thiên Ma Thần – Cửu Thiên Huyền Nữ truyền dạy cho Hiên Viên Hoàng Đế. Hoàng Đế sai mưu sĩ là Phong Hậu chỉnh lý thành văn tự. Cách nói này cũng giống như một số tác phẩm thời Chiến Quốc – Tần Hán như Hoàng Đế Nội Kinh mang tên Hoàng Đế, khiến người đời sau nửa tin nửa ngờ.
Lại theo sách Độn Giáp Lưu Nguyên của Trình Đạo Sinh đời Minh viết, Kỳ Môn Độn Giáp trải qua ba giai đoạn, bốn thời kỳ:
Hoàng Đế sáng lập 4320 cục, Phong Hậu đơn giản hóa thành 1080 cục.
Khương Thượng (Khương Tử Nha) giản lược thành 72 cục.
Thời Hán, Trương Lương đơn giản hóa thành 18 cục.
Tuy nhiên những điều này vẫn chưa có bằng chứng thực sự, khó khiến người sau tin phục. Có lẽ vì người xưa thích tôn sùng chế độ cổ xưa, khâm phục uy quyền thời cổ, nhiều việc đều gán ghép cho người xưa để tăng thêm uy tín và tính thần bí.
Kỳ Môn?
Kỳ Môn là cách gọi tắt của Kỳ Môn Độn Giáp. Căn cứ vào tài liệu, Kỳ Môn Độn Giáp thời Chu – Tần gọi là “Âm Phù”, thời Hán – Ngụy gọi là “Lục Giáp”, thời Tấn đến Tống gọi là “Độn Giáp”, đến đời Minh mới gọi là “Kỳ Môn Độn Giáp”. Tên gọi này thực ra do hai phần “Kỳ Môn” và “Độn Giáp” hợp thành.
Kỳ Môn thực chỉ điều gì?
“Kỳ Môn” thực chất là cách gọi chung của “Kỳ” và “Môn”.
“Kỳ” chỉ ba thiên can Ất, Bính, Đinh. Người xưa cho rằng mặt trời sinh ở Ất, mặt trăng sáng ở Bính, Đinh là Nam Tế, vì vậy Ất là Nhật kỳ, Bính là Nguyệt kỳ, Đinh là Tinh kỳ. Trong Kỳ Môn Độn Giáp, tam kỳ phân bố trên Thiên bàn và Địa bàn, và vận hành theo sự vận hành của chúng, phàm gặp phương vị có tam kỳ đều là ngày tốt, giờ tốt.
Ngoài tam kỳ, còn có lục nghi, tức 6 thiên can Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Sáu can này cũng phân bố trên Thiên bàn và Địa bàn, giống như tam kỳ, chúng cũng vận hành theo các bàn.
“Môn” chỉ tám cửa được khai mở trên Nhân bàn của Kỳ Môn Độn Giáp: Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai. Tám cửa này xoay chuyển theo thời gian. Tam kỳ và bát môn hợp lại chính là “Kỳ Môn”.
Độn Giáp?
Tên gọi “Độn Giáp” có hai cách giải thích chính:
“Độn” có nghĩa là che giấu, ẩn náu, mang ý nghĩa thần bí. “Giáp” là thiên can đứng đầu, lãnh đạo các can khác, tối cao tối quý, nhưng nó lại sợ gặp Canh, vì Giáp thuộc Mộc, còn Canh thuộc Kim, Kim khắc Mộc, do đó cần phải che giấu Giáp để tránh bị khắc. Trong 60 hoa giáp, có sáu cặp “Giáp” (Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần), được gọi là “Thiên Ất Quý Thần”. Khi Kỳ Môn Độn Giáp diễn cục, “Lục Giáp” này được che giấu trong “lục nghi”: Giáp Tý ẩn trong Mậu, Giáp Tuất ẩn trong Kỷ, Giáp Thân ẩn trong Canh, Giáp Ngọ ẩn trong Tân, Giáp Thìn ẩn trong Nhâm, Giáp Dần ẩn trong Quý. Đây chính là “Độn Giáp”.
“Độn” có nghĩa là đi lại, di chuyển. Trong Kỳ Môn Độn Giáp, khi bố trí lục giáp vào Cửu cung, cung khởi đầu là Giáp Tý, di chuyển (độn) một bước đến Giáp Tuất, tiếp theo là Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn và Giáp Dần. Xét từ góc độ thao tác, đây là trạng thái dần dần đi lại, di chuyển, vì vậy gọi là “Độn Giáp”.
