KỲ MÔN ĐỘN GIÁP PHÁP CHỌN DỤNG THẦN – DỰ ĐOÁN TRỌNG ĐIỂM LỰA CHỌN CHỈ NAM
Đoán sự thể: Cửu tinh chủ cát hung; Bát môn chủ khuynh hướng tránh né; Cửu cung chủ táng thiên (tạo táng, di dời).
Phàm đoán cát hung, trọng Cửu tinh trước (Cửu tinh là Thiên bàn, cát hung do trời định):
Sao khắc cửa: Cát.
Cửa khắc sao: Hung.
Phàm đoán khuynh hướng tránh né, trọng Bát môn trước (Bát môn là Nhân bàn, họa phúc do người chọn):
Cửa khắc cung: Cát.
Cung khắc cửa: Hung.
Phàm đoán táng thiên (chôn cất, di dời), trọng Cửu cung trước (Cửu cung là Địa bàn, táng thiên do đất khởi):
Cửa và cung tương sinh: Cát; tương khắc: Hung.
Đoán chiến tranh:
Lấy Trực Phù làm ta (chủ), lấy Lục Canh làm địch (khách).
Lấy Cảnh môn, Kinh môn làm chiến trận, động loạn.
Trực Phù cung khắc Lục Canh cung: Chủ ta thắng.
Trực Phù cung thừa vượng tướng: Chủ ta thắng; thừa hưu tù thì bại.
Thiên Canh cung khắc Trực Phù cung: Chủ địch thắng.
Lục Canh cung thừa vượng tướng: Chủ địch thắng; thừa hưu tù thì bại.
Trực Phù cung được Cảnh hoặc Kinh: Chủ địch thắng.
Cảnh hoặc Kinh sinh Canh cung: Chủ địch thắng.
Thiên Canh cung được Cảnh hoặc Kinh: Chủ ta thắng.
Cảnh hoặc Kinh sinh Phù cung: Chủ ta thắng.
Chủ cung và khách cung tương sinh: Chủ giảng hòa.
Bát môn phục ngâm: Chủ đánh không nổi.
Thiên Canh bản thân là Trực Phù (chủ khách đồng cung): Chủ hai bên bất phân thắng bại, tự lui tránh.
Chủ khách đều vượng, đều được hai môn (mỗi bên một môn) không hình khắc lẫn nhau: Chủ lực ngang nhau, hai bên sợ hãi, không đánh mà lui.
Nhật can gia Canh: Chủ ta thắng.
Canh gia Nhật can: Chủ địch thắng.
Nếu đoán nước ngoài chiến tranh với nước ngoài: Lục Canh là kẻ xâm lược, là khách; Trực Phù là bị xâm lược, là chủ. Phương pháp giống trên.
Đoán giữ thành:
Lấy Trực Sử cung (Thời chi) làm ta (chủ), lấy Trực Phù cung (Thời can) làm địch (khách).
Trực Phù cung khắc Trực Sử cung: Chủ thành này khó giữ, nên mau chóng rút lui tránh.
Trực Sử cung khắc Trực Phù cung: Chủ giữ thành vô ngại.
Trực Sử cung thừa Huyền Vũ, Lục Canh: Chủ thành này nên bỏ.
Trực Sử và Trực Phù tương sinh, tỷ hòa: Địch nhiều lần tấn công khó thắng, ta giữ thành vô ngại.
Đoán khấu nhiễu (giặc cướp quấy nhiễu):
Lấy Lục Canh làm tặc khấu.
Canh thừa Cửu Thiên: Chủ tặc khấu dương oai hùng hổ mà đến.
Canh thừa Cửu Địa: Chủ tặc khấu im hơi lặng tiếng mà đến.
Canh rơi nội bàn: Chủ tặc đã vào biên giới, không chịu rời.
Canh rơi ngoại bàn: Chủ tặc sắp rời đi.
Địa chi của địa bàn cung Canh (liên quan năm, tháng, ngày, giờ) là kỳ đến đi.
Canh gia niên can: Thái Bạch nhập Anh (Canh+ Bính), tặc ắt đến. Nhưng nếu ở ngoại bàn thì không đến.
Niên can gia Canh: Anh nhập Thái Bạch (Bính+ Canh), tặc ắt đi. Nhưng nếu ở nội bàn thì không đi.
Đoán thi đấu:
Bên ta làm chủ, bên kia làm khách; nước ta làm chủ, nước ngoài làm khách; gần làm chủ, xa làm khách; địa bàn Thời can làm chủ, thiên bàn Thời can làm khách.
Tân là huy chương vàng.
Đại cục phục ngâm: Chủ thắng.
Đại cục phản ngâm: Khách thắng.
Chủ sinh khách: Khách thắng. Ngược lại chủ thắng.
Chủ khắc khách: Chủ thắng. Ngược lại khách thắng.
Huy chương vàng (Tân) sinh ai: người đó thắng.
Huy chương vàng khắc ai: người đó bại.
Huy chương vàng đồng cung tỷ hòa với ai: người đó thắng.
Đoán xây nhà:
Nhật can là người, Thời can là nhà.
Nhật can và Thời can tương sinh: nhà tốt, có thể xây.
Nhật can và Thời can tương khắc: nhà xấu, không nên xây, không nên ở.
Đoán mất đồ:
Nhật can là chủ nhân, Thời can là đồ mất.
Ký hiệu đồ mất:
Khảm: đồ trang sức nhỏ, lợn.
Cấn: đồ ngọc, trâu.
Chấn: đồ gỗ, quần áo xanh, lừa.
Tốn: lụa là, đồ dài.
Ly: tranh chữ, ngựa.
Khôn: đồng sắt, dê.
Đoài: vàng bạc trang sức, gà.
Càn: vòng xuyến khóa, lợn (rừng).
Thời can khắc Nhật can: đồ không tìm lại được.
Nhật can khắc Thời can: đồ tìm lại được.
Đồ mất đồng cung với Nhật can: ắt tìm lại được và nhanh (tính bằng giờ).
Nhật can thừa Đằng Xà: chủ nhân tự quên, không phải mất trộm, ắt tìm lại được.
Nhật can dưới lâm Tân: chủ đồ vật tự mình làm rơi, không bị mất trộm.
Thời can nhập mộ: đồ bị người khác cất giữ, ắt tìm lại được.
Ký hiệu đồ mất nhập mộ, lại gặp cửa lành, sao tốt: chủ đồ bị bỏ quên ở góc nào đó, ắt tìm lại được.
Đoán trộm cắp:
Thiên Bồng là đại đạo (trộm lớn), Huyền Vũ là tiểu đạo (trộm nhỏ), là 'chủ thần' của trộm. Dùng Trực Sử môn để quyết.
Trực Sử môn lâm Huyền Vũ: chủ bị mất trộm.
Trực Sử môn không lâm Huyền Vũ: tự mình làm rơi.
Chủ thần lâm sao dương: đàn ông lấy cắp.
Chủ thần lâm sao âm: đàn bà lấy cắp.
Chủ thần lạc cung vượng tướng: thanh niên tráng niên làm trộm.
Chủ thần lạc cung hưu tù: người già hoặc trẻ em (tàn tật) làm trộm.
Chủ thần lạc nội bàn: trộm là người thân gần.
Chủ thần lạc ngoại bàn: trộm là người ngoài.
Màu sắc Kỳ nghi trên Thiên bàn: màu áo trên của trộm.
Màu sắc Kỳ nghi dưới Địa bàn: màu quần của trộm.
Đoán mất người (trẻ em):
Dùng cung Lục Hợp, niên mệnh, Thời can làm chủ.
Dương độn dùng cung Lục Hợp trên Thiên bàn: cung đó là phương hướng bỏ đi; cung nguyên bản của sao lâm cung Lục Hợp là nơi trú ẩn của người mất.
Âm độn dùng cung Lục Hợp dưới Địa bàn: cung đó là phương hướng bỏ đi; cung nguyên bản của sao lâm cung Lục Hợp là nơi trú ẩn.
Nơi trú ẩn lạc nội bàn: gần; ngoại bàn: xa; Cấn, Khôn: rất xa.
Nơi trú ẩn lạc không vong: dễ tìm, ở cung tương hợp với dụng thần.
Nơi trú ẩn lạc mộ khố của Thời can: chủ xa gần khó tìm.
Cung niên mệnh, Thời can lạc: cách cục của cung đó là cát hung hiện tại của người bỏ đi. Nơi trú ẩn vẫn ở cung nguyên bản của sao trong cung Lục Hợp.
Nếu trẻ em tự ý ra ngoài chơi: phương pháp trên cho nơi trú ẩn. Cung niên mệnh, Thời can chủ có nguy hiểm hay không.
Nếu trẻ em cố tình trốn tránh: cung Đỗ môn là nơi trú ẩn. Cung niên mệnh, Thời can chủ nguy hiểm hay không.
Nếu trẻ em bị người lừa bắt: cung Mã tinh là nơi trú ẩn (cung Lục Hợp Thiên bàn gặp không vong, Tử môn). Cát hung như trên.
Đoán người lớn mất tích: Dùng can của niên mệnh người bỏ đi và dụng thần tương ứng.
Niên mệnh lạc nội bàn: gần; ngoại bàn: xa. Xem tổng hợp: Tứ chính cung (Tý Ngọ Mão Dậu) không quá xa, Tứ duy cung (Thìn Tuất Sửu Mùi?) rất xa, lạc Khôn Cấn cực xa.
Niên mệnh rơi hưu tù, lại được cửa xấu, cách xấu: người ở ngoài ắt gặp khốn cùng hoặc ốm đau.
Niên mệnh rơi mộ, tuyệt, không vong, lại được cửa xấu, cách xấu: người ở ngoài ắt chết.
Niên mệnh rơi sinh vượng, lại được cửa lành, cách tốt: người ở ngoài ắt phát tài.
Một pháp khác: Dụng thần rơi không vong, thì lấy Mã tinh làm phương hướng người mất tích; Đỗ môn làm phương hướng người mất tích trốn. Nếu Đỗ môn không vong, thì ở chỗ tương hợp với dụng thần; nếu phản ngâm, thì ở phương hướng ngược lại.
Đoán kỳ vọng về:
Dùng 'niên mệnh' của người đi đường và 'Canh cách' để quyết.
Ngày dương lấy can dưới 'Canh' làm chủ; ngày âm lấy can trên 'Canh' định.
Gặp cách năm (Canh lâm niên can): trong năm về; cách tháng (Canh lâm nguyệt can): trong tháng về; cách ngày (Canh lâm nhật can): trong ngày về; cách giờ (Canh lâm thời can): trong hai giờ về.
Không gặp cách thì không về. (Không cách: Ất và Canh hợp, Canh nhập mộ, Canh lâm không vong).
Đoán xuất hành:
Nhật can chủ người, Thời can chủ sự thể, cung phương đi chủ cát hung.
Thương môn chủ xe, Cảnh môn chủ đường, Khai môn chủ máy bay, Cửu Thiên chủ đường bay.
Thời can cung sinh Nhật can: chủ xuất hành đại lợi.
Thời can cung khắc Nhật can: chủ xuất hành không thuận.
Cung phương đi sinh Nhật can: chủ xuất hành đại lợi.
Cung phương đi khắc Nhật can: chủ mất mạng.
Khai môn cung sinh Nhật can: chủ có thể xuất hành (đi máy bay).
Thương môn cung sinh Nhật can: chủ có thể xuất hành (đi xe).
Lục nghi trên Thiên bàn của cung phương đi tỷ hòa với Nhật can: cũng có thể xuất hành.
Cung phương đi có cách xấu, sao xấu khắc Nhật can: quyết không thể đi.
Cục phục ngâm: kỵ xuất hành (trừ Thiên hiển thời cách).
Cục phản ngâm: kỵ xuất hành (nửa đường quay về).
Cung Thời can có cách xấu, sao xấu: chủ có việc không thuận.
Cung Nhật can có môn bách (cửa khắc cung): chủ có việc không thuận.
Cung Thương môn có cách tốt: chủ ngồi xe an toàn.
Cung Cửu Thiên có cách tốt: chủ đường bay an toàn.
Cảnh môn sinh, tỷ với dụng thần: chủ giữa đường an toàn.
Cảnh môn khắc dụng thần: chủ giữa đường bị tai nạn xe.
Trong cung Nhật can có kỳ: chủ người đi an toàn.
Cửa và cung trong cung Nhật can tương sinh, tỷ hòa: chủ người đi an toàn.
Cung phương đi có cách tốt: chủ người đi an toàn.
Trong cung niên mệnh có tam cát môn: chủ người đi an toàn.
Đoán thai nghén:
Bồng, Nhậm, Xung, Phụ là sao dương; Anh, Nhuế, Trụ, Tâm là sao âm.
Khai, Hưu, Sinh, Thương là cửa dương; Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh là cửa âm.
Lấy cửa hoặc sao ở cung Khôn làm thai nhi: dương là trai, âm là gái.
Thiên Cầm tinh lâm cung Khôn: sinh đôi; can dương là trai, can âm là gái.
Đoán thai sản (sinh nở):
Cung Khôn là phòng sinh (sản thất), địa bàn Thiên Nhuế là sản phụ, sao trên Thiên bàn là em bé.
Thiên Nhuế khắc sao Thiên bàn: chủ sinh nhanh.
Địa bàn sao khắc Thiên bàn sao: chủ con chết; nếu vượng và có cát thì không sao.
Thiên bàn sao sinh Thiên Nhuế: con luyến mẹ, chủ sinh chậm.
Thiên bàn sao khắc Thiên Nhuế: chủ mẹ nguy, khó sinh.
Thiên bàn sao rơi vào địa bàn khố: chủ con chết trong bụng mẹ.
Cả hai bàn (Thiên và Địa) đều thừa cửa xấu, cách xấu: chủ mẹ con đều nguy.
Đoán mệnh trẻ sơ sinh:
Lấy Thời can trên Thiên bàn lúc sinh làm em bé.
Thiên Bồng là Thiên tặc, Huyền Vũ là Thâu sinh (trộm sinh).
Thời can Thiên bàn được Bồng, Huyền cả hai, lại thêm hưu tù vô khí: chủ em bé chết yểu, khó nuôi.
Thời can Thiên bàn không có Bồng, Huyền, lại được kỳ môn vượng tướng: chủ em bé trường thọ, phú quý.
Đoán thọ mệnh:
Dùng bát tự ngày sinh của người cầu đoán, lập cục theo tiết khí. Lấy khoảng cách từ Thiên Xung tinh đến Tử môn để quyết. (Pháp này chỉ tham khảo).
Số thọ của người bằng tổng số cung từ cung Xung tinh đến cung Tử môn; mỗi cung mười năm.
Tổng số cung là 5: thọ 50. Tổng số cung là 8: thọ 80.
Dương độn đếm xuôi: từ nhỏ đến lớn 1,2,3,4...
Âm độn đếm ngược: từ lớn đến nhỏ 4,3,2,1...
Thiên Xung tinh trường sinh, vượng tướng: cả đời vô hại.
Thiên Xung tinh hưu tù, mộ, tuyệt: thường gặp trắc trở.
Đoán bệnh tật:
Thiên Nhuế (bệnh tinh) gặp Sinh môn: chủ sống.
Thiên Nhuế gặp Tử môn: chủ chết.
Niên mệnh, Nhật can gặp Sinh môn: chủ sống.
Niên mệnh, Nhật can gặp Tử môn: bệnh khó lành.
Ngày Nhuế tinh phế tuyệt (suy): ngày khỏi bệnh.
Ngày can của cung Nhuế tinh bị khắc: ngày khỏi bệnh.
Niên mệnh hưu tù, mộ, tuyệt lại gặp sao xấu, cách xấu: ắt chết.
Ất kỳ, Thiên Tâm không khắc được Thiên Nhuế: bệnh là bệnh ngoại (ngoại khoa?).
Đoán hôn nhân:
Đã kết hôn: Canh là chồng, Ất là vợ, Bính là người thứ ba của vợ, Đinh là người thứ ba của chồng.
Chưa kết hôn: Nhật can hoặc niên mệnh làm dụng thần, can hợp với nhau (ngũ hợp thiên can) là người thứ ba.
Ất và Canh hai cung tương sinh, tỷ hòa: chủ quan hệ vợ chồng hòa thuận; lại chủ dù xấu cũng khó ly hôn. Chưa kết hôn: việc thành.
Ất và Canh hai cung tương khắc: chủ quan hệ vợ chồng xấu; lại chủ ắt ly tán. Chưa kết hôn: việc không thành, hoặc thành cũng khó lâu.
Ất khắc Canh: chủ vợ cãi đòi ly hôn; nếu cung Ất có cửa lành, sao tốt, chủ vợ ngoài miệng nói một đằng nhưng lòng nghĩ một nẻo.
Ất và Canh đồng bàn: chủ quan hệ vợ chồng hòa thuận; Ất, Canh đồng bàn lâm Nhâm: chủ ly tán, đã ly hôn.
Phản ngâm, phục ngâm, kích hình, tự hình: đều chủ hôn tan.
Cung Ất mang kích hình: chủ vợ dữ (mẹ hổ).
Dụng thần lâm Mã tinh: chủ đã ly hôn.
Dụng thần dưới lâm Tân: chủ đã ly hôn.
Niên mệnh thừa Huyền Vũ: chủ người này đã kết hôn hoặc đã ly hôn.
Ất gia Nhâm: chủ vợ bỏ đi.
Canh sinh Đinh: chủ chồng có người thứ ba.
Ất sinh Bính: chủ vợ có người thứ ba.
Canh gia Đinh: chủ hai người chung sống.
Ất gia Bính: chủ hai người chung sống.
Canh gia Đinh lâm Mã: chủ hai người có ý định bỏ trốn.
Canh tỷ Đinh: chủ hai người cùng cơ quan, Đinh là người thứ ba.
Đoán kiện tụng:
Kinh môn, Cảnh môn là kiện tụng.
Một trong hai cửa Kinh, Cảnh thừa vượng tướng khí: kiện tụng tạm thời khó lắng.
Một trong hai cửa Kinh, Cảnh nhập mộ hoặc không vong: báo hiệu kiện không đánh được.
Đoán phá án:
Thương môn, Trực Sử môn là người bắt bớ; Bạch Hổ, Đỗ môn là quân cảnh, cũng là người bắt bớ.
Canh cách là dấu hiệu bắt được, tốc độ.
Lục Hợp là kẻ trốn (tội phạm hình sự); Thiên Bồng là đại tặc (tội phạm giết người); Huyền Vũ là tiểu đạo (trộm cắp); gọi tắt là Lục, Bồng, Huyền.
Địa bàn Kỳ nghi sinh Thiên bàn Kỳ nghi (ngũ hành tương sinh: Mậu thổ sinh Canh kim, Tân kim sinh Quý thủy...): chủ có thể phá án.
Thiên bàn Kỳ nghi khắc Địa bàn Kỳ nghi (ngũ hành tương khắc: Thiên Mậu khắc Địa Nhâm, Thiên Nhâm khắc Địa Đinh...): chủ có thể phá án.
Người bắt bớ khắc Lục/Bồng/Huyền: chủ bắt ắt được.
Lục/Bồng/Huyền khắc người bắt bớ: chủ khó phá án.
Người bắt bớ tỷ với Lục/Bồng/Huyền: chủ người bắt thông đồng với cướp.
Lục/Bồng/Huyền sinh người bắt bớ: chủ có thể phá án.
Người bắt bớ và Lục/Bồng/Huyền đồng cung: chủ người bắt là kẻ trộm hoặc Lục/Bồng/Huyền từng làm cảnh sát hình sự.
Đỗ môn gặp Canh, Tân, Nhâm, Quý: chủ có thể phá án.
Tổng pháp dùng Canh cách làm chủ: cách năm phá trong năm, cách tháng trong tháng, cách ngày trong ngày, cách giờ trong giờ; không cách thì không phá.
Đoán bắt trộm (tặc):
Thiên Bồng chuyên là đại tặc (cướp giết); Đỗ môn là phương hướng trốn.
Thiên Bồng mang Tân, Nhâm, Quý: tặc ắt có tiền án.
Thiên Bồng gặp Thiên Đinh: Đinh là ngọc nữ, tặc có tiền sử giết phụ nữ.
Thiên Bồng rơi ngoại bàn: tặc ở xa.
Thiên Bồng rơi nội bàn, phục ngâm: tặc ở gần. Nếu không vong thì đã trốn.
Cục phục ngâm: chủ người quen làm tội. Khó phá án.
Cục phản ngâm: chủ tặc thân không ở yên một chỗ, chạy khắp nơi. Có thể phá án.
Cung Đỗ môn: chủ phương tặc trốn. Gặp không vong thì ở phương ngược lại.
Đoán kết án (phán hình):
Canh là tòa án, Tân là người có tội, Nhâm là thiên lao, Quý là địa võng.
Canh khắc Tân, Tân trên có Nhâm, Tân trên có Quý: ắt bị kết án.
Đoán thả (ra tù):
Khai môn là tòa án, Tân là người có tội.
Địa Tân khắc Khai môn: chủ được thả.
Thiên Tân dưới lâm Đinh (ngục thần đắc kỳ): chủ được thả.
Thiên Tân rơi không vong: chủ được thả.
Địa Tân thừa Thái tuế: chủ được thả.
Dụng thần rơi trường sinh (vượng tướng không bị kết án): chủ được thả.
Thiên Tân rơi cung Khảm: chủ được thả.
Địa Tân trên thừa Mậu: chủ được thả (Tý xung Ngọ).
Tân trên thừa Nhâm rơi cung 6 (Tuất xung Thìn): chủ được thả.
Thiên Tân dưới lâm Quý: đợi lúc xung thì ra.
Đại cục phục ngâm: cung Tân gặp xung là thời gian ra.
Đoán tránh nạn (tị nạn):
Cung Đỗ môn là phương hướng nên tránh nạn.
Canh là Thiên hình, Tân là Thiên ngục, Nhâm là Địa lao, Quý là Thiên võng.
Đỗ môn thấy Mậu: quý nhân tránh nạn, gặp tam kỳ, tránh nạn đại cát.
Đỗ môn thấy Canh: kẻ trốn phải ôm gỗ chạy mới thoát nạn.
Đỗ môn thấy Tân thấy Nhâm: kẻ trốn ắt không thể thoát.
Đỗ môn và địa bàn Quý cùng rơi cung 1,2: có thể dùng gỗ bốn thước đè lên mà trốn.
Rơi cung 3,4: Thiên võng bốn chương, hung hiểm khó thoát.
Rơi cung 6,7: dưới lưới có khoảng trống, bò mà trốn.
Rơi cung 8,9: lưới cao vô hiểm, thẳng người mà trốn.
Đỗ môn và thiên bàn Quý cùng rơi cung 3,4: Thiên võng đầy cửa, không thể thoát.
Đỗ môn không có Canh, Tân, Nhâm, Quý rơi cung 6,7: Mộc bị Kim khắc, trốn rồi bị bắt.
Đỗ môn đồng cung với Nhật can, lại thừa kỳ được cát: kẻ trốn may mắn, có hy vọng được cứu.
Đoán mời khách:
Trực Phù là khách, Thiên Ất (sao địa bàn dưới Trực Phù) là chủ.
Thiên Ất sinh Trực Phù: khách ắt ứng lời mời đến.
Thời can sinh Nhật can: khách cũng sẽ đến.
Thiên bàn sao sinh địa bàn sao: khách cũng đến. Ngược lại không đến.
Đoán yết kiến quý nhân:
Lấy cung Khai môn trên Thiên bàn chủ quan đương nhiệm; lấy cung Mậu trên Thiên bàn chủ quan đã nghỉ hưu; lấy Nhật can là người cầu yết kiến.
Nếu Khai môn hoặc Thiên Mậu thừa vượng được cát sinh Nhật can: quý nhân ắt tiếp, có cầu ắt ứng.
Nếu Khai môn hoặc Thiên Mậu tỷ hòa với Nhật can: quý nhân tuy tiếp nhưng có chút do dự.
Nếu Khai môn hoặc Thiên Mậu đồng cung với Nhật can: chỗ quý nhân có khách, người cầu kiến nên đợi một lát.
Nếu Khai môn hoặc Thiên Mậu nhập mộ: chủ quý nhân lúc này không hứng thú, không nên yết kiến.
Nếu Khai môn hoặc Thiên Mậu bị chế: chủ quý nhân có việc buồn phiền, không tiếp khách, gặp cũng vô ích.
Nếu Khai môn hoặc Thiên Mậu xung khắc Nhật can: chủ quý nhân không vui, gặp chỉ chuốc thêm nhục.
Nếu gặp cục phản ngâm: chủ quý nhân đi vắng, không cần yết kiến.
Đoán thi cử lên lớp (升學):
Niên can (Thái tuế) là trường đại học hoặc trường học.
Thời can, Nhật can, niên mệnh, Thiên Nhuế tinh là thí sinh.
Thiên Phụ là giáo viên.
Trực Phù là giám khảo.
Cảnh môn là bài văn.
Đinh kỳ chủ văn khoa (ban văn), điểm văn khoa.
Cảnh môn chủ lý khoa (ban tự nhiên), điểm lý khoa.
Trường sinh thí sinh: ắt đỗ.
Thái tuế sinh Cảnh môn: ắt đỗ.
Giáo viên sinh thí sinh: ắt đỗ.
Giám khảo sinh thí sinh: ắt đỗ.
Trường và thí sinh đồng cung, tỷ hòa: ắt đỗ.
Thí sinh lâm trường sinh, đế vượng: ắt đỗ.
Khoa nào rơi không vong: chủ khoa đó kém.
Đinh và Cảnh môn lạc cung: chủ điểm số môn đó.
Đoán công việc:
Nhật can là người, Khai môn là đơn vị công tác, Niên can là lãnh đạo đơn vị.
Khai môn sinh Nhật can: chủ đơn vị hài lòng với người này.
Nhật can sinh Khai môn: chủ người này hài lòng với công việc.
Khai môn khắc Nhật can: chủ đơn vị không muốn dùng người này.
Nhật can khắc Khai môn: chủ người này chán công việc.
Niên can sinh Nhật can: chủ lãnh đạo quan hệ tốt với người này.
Niên can khắc Nhật can: chủ lãnh đạo không hài lòng với người này.
Cách cục Khai môn xấu: chủ đơn vị làm ăn kém.
Cách cục Nhật can xấu: chủ người này làm ăn kém.
Đoán điều động (thuyên chuyển):
Nhật can là người, Khai môn là công việc.
Cung Nhật can lợi cho khách (Thiên bàn khắc Địa bàn, Địa bàn sinh Thiên bàn): chủ điều động có lợi, có thể điều.
Cung Nhật can lợi cho chủ (Địa bàn khắc Thiên bàn, Thiên bàn sinh Địa bàn): chủ không động có lợi, không nên điều.
Cục phục ngâm: chủ không động; không nên động.
Cục phản ngâm: chủ biến động; nên chủ động.
Khai môn khắc Nhật can: chủ người này sắp được điều động.
Cung Khai môn bị Mã tinh xung: chủ công việc sắp bị điều động.
Khai môn sinh Nhật can: chủ đơn vị không cho điều.
Khai môn khắc Nhật can mà không vong: đợi tháng lấp đầy thực thì điều.
Đoán cho vay:
Trực Phù là người cho vay, Thiên Ất là người vay.
Thiên Ất sinh Trực Phù: nợ ắt trả.
Thiên Ất khắc Trực Phù: nợ không trả.
Thiên Ất rơi không vong: người vay đã chết không thể trả.
Thiên Ất rơi mộ tuyệt: người vay chây ì không trả.
Đoán đòi nợ:
Trực Phù là người cho vay, Thiên Ất là người mắc nợ, Thương môn là người đòi nợ.
Thiên Ất sinh Trực Phù: trả hết.
Thiên Ất khắc Trực Phù: không trả.
Thiên Ất tỷ Trực Phù: trả một phần.
Phục ngâm cục, Thương môn rơi cung thổ, Thời can gia sao dương: đều lợi cho khách, tức là lợi cho việc đòi nợ.
Nhật can, Thời can đều rơi ngoại bàn: chủ trả nợ chậm.
Phục ngâm cục: chủ trả nợ chậm, lại chủ chỉ được năn nỉ, không được cãi cọ, nếu không sẽ không đòi được nợ.
Đoán cầu tài:
Thiên bàn Mậu là thần tài; Sinh môn là chủ tài (chủ về lợi nhuận).
Mậu và Sinh môn rơi nội bàn: chủ phát tài ở gần, và nhanh.
Mậu và Sinh môn rơi ngoại bàn: chủ phát tài ở xa ngàn dặm.
Mậu và Sinh môn một trong một ngoài: chủ phát tài ắt chậm.
Mậu và Sinh môn được kỳ môn cách tốt: chủ phát tài lớn.
Mậu hoặc Sinh môn 'được cửa không được kỳ' hoặc 'được kỳ không được cửa': phát tài trung bình.
Mậu và Sinh môn đều 'không được cửa kỳ' và 'không rơi không, mộ, tuyệt', không bị cung khắc: phát tài nhỏ.
Mậu hoặc Sinh môn rơi không, mộ, tuyệt, phản ngâm, gặp thần xấu, cách xấu: ắt không được tài, trái lại rước thị phi.
Đoán mở xưởng:
Khai môn là nhà máy, cửa hàng, công ty. Sinh môn là lợi nhuận. Mậu là vốn.
Khai môn gặp sinh vượng: ắt hưng long.
Khai môn sinh Sinh môn: ắt phát đạt.
Khai môn nhập mộ, không vong: ắt phá bại.
Tử môn là Trực Sử: ắt phá bại.
Khai môn khắc Sinh môn, Sinh môn khắc Mậu: đều lỗ vốn.
Sinh môn khắc Nhật can, phản ngâm, phục ngâm: đều cầu tài bất lợi.
Đoán buôn bán (sinh ý):
Nhật can là người, Thời can là hàng hóa.
Thời can khắc Nhật can: hàng bán rất nhanh.
Nhật can khắc Thời can: hàng bán chậm.
Thời can sinh Nhật can: chủ hàng luyến người, không bán được.
Nhật can sinh Thời can: chủ người luyến hàng, không muốn bán.
Thời can được vượng, được cách tốt: hàng tốt, hàng cao cấp.
Thời can hưu tù, được cách xấu: hàng xấu, hàng thấp cấp.
Thời can sinh Mậu hoặc Sinh môn: có lợi nhuận. Ngược lại thì không.
Thời can thừa xung khắc Nhật can: hao tổn vốn.
Đoán đầu tư chứng khoán (抄股 – có thể hiểu là đầu tư cổ phiếu):
Mậu là vốn, Sinh môn là lợi nhuận.
Sinh môn sinh Mậu: ắt được lãi gấp bội.
Sinh môn tỷ Mậu: ắt được lãi nhỏ.
Sinh môn khắc Mậu: ắt lỗ vốn.
Sinh môn rơi mộ tuyệt: ắt hao hết vốn.
Đoán mua hàng:
Nhật can là người mua, Thời can là hàng hóa.
Thời can thừa vượng, được cách tốt: hàng mới tốt.
Thời can hưu tù, được cách xấu: hàng cũ hỏng.
Thời can sinh Nhật can: hàng dù tốt hay xấu đều có thể mua, có lợi.
Thời can khắc Nhật can, hoặc Thời can rơi mộ tuyệt, không vong: không có lợi, không nên mua.
Đoán hợp tác (làm ăn chung):
Nhật can là tôi, Thời can là bạn.
Thời can sinh Nhật can: hợp tác làm ăn, có lợi cho tôi.
Nhật can sinh Thời can: hợp tác làm ăn, có lợi cho anh ấy.
Nhật can tỷ Thời can: hợp tác công bằng, không nghi kỵ.
Thời can khắc Nhật can: bất lợi cho tôi, cần xem Sinh môn có sinh tôi không? Chiêm bốc kỹ càng, trăm không một sai.
Đoán thời tiết:
Thiên Trụ tinh là Vũ sư (thần mưa); Thiên Bồng, Nhâm, Quý là Thủy thần; Thiên Phụ tinh là Phong bá (thần gió).
Thiên Trụ hoặc Thiên Bồng chỉ mang Nhâm hoặc Quý du lịch ở cung 1,3,7: chủ có mưa; Nhâm: mưa lớn, Quý: mưa nhỏ; không Nhâm Quý thì không mưa.
Thiên Trụ hoặc Thiên Bồng cùng mang cả Nhâm và Quý du lịch ở các cung khác: cũng chủ có mưa; không mang Nhâm Quý thì không mưa.
Sao Trụ hoặc sao Bồng ở đất vượng: mưa lớn; hưu tù: mưa nhỏ.
Cung Thiên Phụ khắc Nhật can: chủ có gió.
Cung Thiên Phụ gặp Khai môn: chủ có gió.
Thiên Phụ gặp Bạch Hổ cuồng cương (Tân+ Ất): chủ có gió.
Thiên Phụ gặp Thanh Long phản thủ (Mậu+ Bính): chủ không có gió.
Thiên Phụ thừa suy được cát: chủ gió nhẹ.
Thiên Phụ thừa vượng được hung: chủ gió lớn.
