Kỳ Môn Độn Giáp – Phương pháp dự đoán bệnh tật trên cơ thể con người
Kỳ Môn Độn Giáp – Phương pháp dự đoán bệnh tật trên cơ thể con người
1) Dự đoán bệnh tật trên cơ thể con người
Dựa vào tính mô phỏng của mô hình số tượng trong Kinh Dịch, khi dự đoán tình trạng sức khỏe và bệnh tật của con người bằng Kỳ Môn, trước hết lấy Cửu cung của Kỳ Môn để mô phỏng cơ thể con người. Cụ thể:
Cung Ly (số 9): Đại diện cho phần đầu.
Cung Tốn (số 4): Đại diện cho cánh tay trái.
Cung Khôn (số 2): Đại diện cho cánh tay phải.
Cung Chấn (số 3): Đại diện cho hông sườn trái, thắt lưng trái.
Cung Đoài (số 7): Đại diện cho hông sườn phải, thắt lưng phải.
Cung Cấn (số 8): Đại diện cho chân trái.
Cung Càn (số 6): Đại diện cho chân phải.
Cung Khảm (số 1): Đại diện cho hệ thống tiết niệu – sinh dục.
Đây là sự so sánh, quy ước mang tính đại thể.
Kết hợp cụ thể với thuộc tính ngũ hành của Bát quái, nội bàn và ngoại bàn trong Kỳ Môn:
Cung Ly (số 9): Ở bề mặt cơ thể đại diện cho đầu, mắt, mặt. Ly thuộc Hỏa, bên trong cơ thể lại chủ về tim, hệ tim mạch, hệ mạch máu não, v.v.
Cung Khôn (số 2): Ở bề mặt đại diện cho tai phải, cánh tay phải, bàn tay phải, làn da cơ thể. Khôn thuộc Thổ, bên trong chủ về tỳ, vị, thực quản, tụy và hệ tiêu hóa.
Cung Tốn (số 4): Ở bề mặt đại diện cho tai trái, cánh tay trái, tóc. Tốn thuộc Mộc, thuộc Phong, bên trong chủ về gan, mật, huyết quản, kinh lạc, khí huyết.
Cung Chấn (số 3): Ở bề mặt đại diện cho hông sườn trái, thắt lưng trái. Chấn chủ vận động, nên cũng đại diện cho bàn chân. Chấn thuộc Mộc, bên trong đại diện cho gan, mật, phổi trái.
Cung Đoài (số 7): Ở bề mặt đại diện cho hông sườn phải, thắt lưng phải. Đoài là miệng, nên cũng đại diện cho miệng lưỡi, răng. Đoài thuộc Kim, bên trong đại diện cho phổi, khí quản, phổi phải.
Cung Cấn (số 8): Ở bề mặt đại diện cho chân trái, bàn chân trái. Cấn là núi, trên mặt đại diện cho mũi. Cấn thuộc Thổ, bên trong đại diện cho hệ tiêu hóa như dạ dày, ruột.
Cung Càn (số 6): Ở bề mặt đại diện cho chân phải, bàn chân phải. Càn là trời, là đầu, nên cũng đại diện cho phần đầu. Càn thuộc Kim, bên trong đại diện cho tủy sống, gân xương, đại tràng.
Cung Khảm (số 1): Ở bề mặt đại diện cho bộ phận sinh dục ngoài của nam và nữ. Khảm thuộc Thủy, bên trong đại diện cho thận, bàng quang, hệ nội tiết.
Tóm tắt trọng điểm về Thập Can (Mười thiên can):
Ất: Chú ý các bộ phận có chỗ cong, gấp khúc.
Bính: Đại diện cho viêm nhiễm, máu, các bộ phận hình tròn.
Đinh: Đại diện cho máu, mắt, tim.
Mậu: Nơi có thịt (phần mềm), đại não.
Kỷ: Phần thịt nhỏ, ruột, tiểu não.
Canh: Xương, bộ phận cứng, chịu lực, chống đỡ.
Tân: Xương nhỏ, vật dạng hạt, phổi.
Nhâm: Chất lỏng trong cơ thể, bàng quang, thận.
Quý: Chất lỏng trong cơ thể, bàng quang, thận.
Ý nghĩa của Bát Thần khi lâm bệnh:
Trực Phù: Bệnh này rất khó chữa (dai dẳng).
Đằng Xà: Bệnh biến đổi, thay đổi (không ổn định).
Thái Âm: Bệnh ở bên trong, bệnh ẩn khuất.
Lục Hợp: Bệnh ở nhiều nơi, hoặc bệnh khó dứt.
Bạch Hổ: Bệnh ác tính (ung thư, hiểm nghèo).
Huyền Vũ: Đại diện cho bệnh liên quan đến chất lỏng, hoặc bản thân người bệnh không biết mình bị bệnh.
Cửu Địa: Bệnh mạn tính.
Cửu Thiên: Bệnh cấp tính.
Phương pháp dự đoán:
Dự đoán bệnh tật lấy sao Thiên Nhuế làm ký hiệu chính đại diện cho bệnh.
Kết hợp xem Tử môn, Thương môn, Kinh môn, Đỗ môn, Cảnh môn trong Bát Môn.
Đồng thời xem Tam Kỳ, Lục Nghi mà Thiên Nhuế lâm đến, cùng trạng thái của Bát Thần ở trên, để phán đoán tính chất và vị trí của bệnh.
Căn cứ vào cát hung của cách cục Kỳ Môn, trạng thái vượng tướng, hưu tù theo mùa tiết khí, cùng với quan hệ sinh khắc với bản thân người được dự đoán, để tổng hợp phán đoán mức độ nặng nhẹ, xu hướng phát triển và tiên lượng của bệnh.
Lấy sao Thiên Tâm và Ất kỳ làm ký hiệu đại diện cho bác sĩ và thuốc men. Xem mối quan hệ sinh khắc giữa cung rơi của chúng với cung rơi của sao bệnh (Thiên Nhuế) để phán đoán sự thành bại và hiệu quả của việc điều trị.
