KỲ MÔN ĐỘN GIÁP TRA CỨU VÀ VẬN DỤNG MÃ TINH NHƯ THẾ NÀO ĐỂ DỰ ĐOÁN?
KỲ MÔN ĐỘN GIÁP TRA CỨU VÀ VẬN DỤNG MÃ TINH NHƯ THẾ NÀO ĐỂ DỰ ĐOÁN?
Mã Tinh là một thần sát quan trọng. Bất kể Kỳ Môn Độn Giáp, Bát tự mệnh lý, hay Lục Nhâm, Tử Vi… các thuật dự đoán đều rất coi trọng việc tra cứu Mã Tinh. Vậy, Kỳ Môn Độn Giáp tra cứu và vận dụng Mã Tinh như thế nào?
I. CÁCH TRA MÃ TINH
Mã Tinh có ba loại: Dịch Mã, Thiên Mã, Đinh Mã.
1. Dịch Mã (sao Ngựa trạm)
Mã Tinh thường chỉ Dịch Mã. Ý nghĩa truyền thống của Dịch Mã: ngày xưa là trạm truyền tin, gửi thông tin, dùng ngựa làm phương tiện di chuyển, do đó tổ hợp nhất định trong thức bàn gọi là lâm Dịch Mã. Dịch Mã chủ sự bôn ba, đi lại, xuất ngoại, du lịch, công tác xa, chuyển nhà, đổi việc… những hình tượng liên quan đến di động. Nghĩa là sự vật thường ở trong một phạm vi, trạng thái tương đối cố định, sự phá vỡ phạm vi hoặc trạng thái đó gọi là "động". Một trong những nguồn năng lượng của "động" này chính là sự gia lâm của Dịch Mã. Trong thực tế ngày nay, phương tiện di chuyển không chỉ giới hạn ở ngựa, nguồn thông tin cũng vô cùng đa dạng, các yếu tố dẫn đến "động" rất nhiều và cũng rất thuận tiện. So với thời cổ đại, Mã Tinh hẳn phong phú hơn nhiều. Vì vậy, cách lấy Mã Tinh xưa nay cũng có sự thay đổi.
Cách tra cổ truyền: Thân, Tý, Thìn mã tại Dần; Dần, Ngọ, Tuất mã tại Thân; Tỵ, Dậu, Sửu mã tại Hợi; Hợi, Mão, Mùi mã tại Tỵ. (1 ngày 1 cái)
Cách tra của mệnh lý mù quái (Bái phái): Hợi, Mão, Mùi và Tỵ, Dậu, Sửu xuất hiện cùng nhau; Dần, Ngọ, Tuất và Thân, Tý, Thìn xuất hiện cùng nhau. (1 ngày 3 cái)
Cách tra khác: Thấy Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Dịch Mã. Đối với Kỳ Môn, bất kỳ ngày nào cũng có 4 cái.
Cộng thêm việc lấy theo trụ ngày và trụ giờ, làm cho số lượng Mã Tinh theo cách tra cổ truyền và cách tra của mệnh lý mù quái tăng lên. Tất nhiên, dù có tính cả Mã Tinh của trụ năm và trụ tháng, thì số cung được gia lâm trong Kỳ Môn Độn Giáp cũng chỉ nhiều nhất là 4 cung (Càn, Cấn, Tốn, Khôn), nhưng việc phán đoán phân tích tác dụng của Mã Tinh trở nên phức tạp hơn.
2. Thiên Mã (sao Ngựa trời)
Thiên Mã là sao Dịch Mã ở cõi trên, được xác định theo tháng khởi cục và cung dụng thần. Thiên Mã chủ việc làm ăn nhanh chóng, chủ việc di chuyển xuất hành, cũng chủ đi xa không về, đồ mất khó tìm.
Tháng Dần, Thân: dụng thần lạc cung Ly (Ngọ) → lâm Thiên Mã.
Tháng Mão, Dậu: dụng thần lạc cung Khôn (Thân) → lâm Thiên Mã.
Tháng Thìn, Tuất: dụng thần lạc cung Càn (Tuất) → lâm Thiên Mã.
Tháng Tỵ, Hợi: dụng thần lạc cung Khảm (Tý) → lâm Thiên Mã.
Tháng Ngọ, Tý: dụng thần lạc cung Cấn (Dần) → lâm Thiên Mã.
Tháng Mùi, Sửu: dụng thần lạc cung Tốn (Thìn) → lâm Thiên Mã.
3. Đinh Mã
Đinh Mã chủ yếu được xác định theo đầu tuần của trụ ngày. Đinh Mã chủ việc lay động bất an, xuất hành. Cũng chủ yêu thần, không lành, quái dị, lo sợ. Đinh Mã ngồi lộc thần của Nhật can, chủ làm ăn buôn bán nhưng phát lộc chẳng được lâu. Dụng thần là Nhâm, Quý lâm Đinh Mã chủ tài động, hôn động; dụng thần là Canh, Tân lâm Đinh Mã chủ hung động.
Giáp Tý tuần: dụng thần lạc cung Chấn (Đinh Mão) → lâm Đinh Mã.
Giáp Tuất tuần: dụng thần lạc cung Cấn (Đinh Sửu) → lâm Đinh Mã.
Giáp Thân tuần: dụng thần lạc cung Càn (Đinh Hợi) → lâm Đinh Mã.
Giáp Ngọ tuần: dụng thần lạc cung Đoài (Đinh Dậu) → lâm Đinh Mã.
Giáp Thìn tuần: dụng thần lạc cung Khôn (Đinh Mùi) → lâm Đinh Mã.
Giáp Dần tuần: dụng thần lạc cung Tốn (Đinh Tỵ) → lâm Đinh Mã.
Trong Thời gia Kỳ Môn, phần nhiều dùng trụ giờ và trụ ngày để định Dịch Mã (và dùng trụ giờ để lấy Dịch Mã là phổ biến hơn). Tiến hành theo cách tra cổ truyền trên trụ ngày hoặc trụ giờ. Tuy nhiên, sách này khuyên rằng các cung lạc của Dần, Thân, Tỵ, Hợi đều ẩn chứa Dịch Mã, khi đoán cục cần đặc biệt chú ý. Đặc biệt khi có Thiên Mã và Đinh Mã gia lâm càng rõ rệt. Về Thiên Mã và Đinh Mã vốn thường dùng trong Lục Nhâm, nhưng gia truyền rằng "Thiên Đinh nhị mã nhập cục lai, độn giáp xuyên nhâm minh ký hoài" (Hai mã Thiên và Đinh vào cục, độn giáp xuyên nhâm hãy nhớ lòng). Bài viết này chỉ tiết lộ đến đây.
II. CÁCH DÙNG MÃ TINH
Mã Tinh là một nguồn năng lượng kích thích bên ngoài có tính hệ thống. Cường độ năng lượng, tốc độ tác động của nó ảnh hưởng đến sự vật ở các mức độ khác nhau. Thông tin bên trong (sự hấp thụ, chuyển hóa, tăng cường năng lượng của Mã Tinh trong nội bộ cục bàn) phản ứng khác nhau với tác động của Mã Tinh, cũng quyết định mức độ ảnh hưởng của Mã Tinh đến sự vật tất nhiên là khác nhau.
Dịch Mã ở trụ giờ tác dụng thời gian ngắn, đến nhanh. Trong một vòng tuần hoàn 60 (60 giờ, 60 ngày, 120 ngày, 360 ngày…), chỉ tác dụng 1/6 thời gian.
Dịch Mã ở trụ ngày tác dụng thời gian dài, đến chậm. Trong một vòng tuần hoàn 60, luôn luôn đóng vai trò kích thích bên ngoài.
Dịch Mã lâm Thiên Mã, Đinh Mã thì sự vật ắt động, và động rất nhanh.
Dịch Mã bị xung như ngựa tốt tuột cương. Dịch Mã lạc cung bị cung Trực Phù, cung Trực Sử… là các cung động đến xung, gọi là Dịch Mã bị xung. Chủ sự vật động nhanh, động xa hoặc lay động bất an.
Dịch Mã bị hợp như ngựa tốt bị vướng dây. Dịch Mã lạc cung bị địa chi nạp của cung Trực Phù, cung Trực Sử… là các cung động đến hợp, hoặc tạo thành tam hợp với cung động, gọi là Dịch Mã bị hợp. Chủ sự vật muốn động mà không được; đối với con người, chủ muốn thay đổi nhưng lực bất tòng tâm.
Khi niên mệnh của dụng thần lâm Mã Tinh, làm thế nào để biết sự vật đã động, đang động, hay sẽ động? Phương pháp thường dùng:
Đã động: Mã Tinh lâm sao lui, môn lui, hoặc Mã Tinh lâm địa bàn cung của Nhật can, Thời can → đã động.
Đang động: Mã Tinh lâm Trực Phù, Trực Sử, hoặc Mã Tinh lâm thiên bàn cung của Nhật can, Thời can → đang động.
Sẽ động: Mã Tinh lâm sao tiến, môn tiến → sẽ động.
III. ỨNG TƯỢNG CỦA MÃ TINH
1. Lấy tượng theo cung của Mã Tinh
Dụng thần lâm Mã Tinh, tuy nói có thể động, nhưng còn phải xem Mã Tinh lâm cung nào, quẻ nào, mới biết được môi trường hành động của "con ngựa". Khi đọc tượng, Thiên Mã, Đinh Mã xem cùng với Dịch Mã. Ngoài ra, bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi và các can tàng (ám can) đều có thể đưa Mã Tinh của mỗi cung đến các cung khác.
Cung Khảm: Sông lớn cản ngựa, khó lòng bước tới. Phương tiện là tàu thủy (Khảm là sông hồ biển).
Cung Cấn: Núi cao ngăn ngựa, "Guatemala" (đất nước của núi), là ngựa uốn khúc nhảy nhót. Phương tiện là ô tô (Cấn là núi uốn khúc, lên xuống, chỉ có ô tô).
Cung Chấn: Ngựa kinh hãi, ra ngoài thường có hư kinh, thường bỏ đi không từ biệt, đột ngột xuất hành. Phương tiện là ô tô (Chấn là chấn động).
Cung Tốn: Ngựa bay, ngựa chạy như gió, đến đi không trở ngại. Phương tiện là máy bay (Tốn là gió).
Cung Ly: Ngựa chạy trên đất khô, mệt mỏi rã rời. Phương tiện là xe lửa (Ly là lửa).
Cung Khôn: Ngựa phi trên đường lớn, ngàn dặm một ngày, tự do hành động. Phương tiện là xe lửa (Khôn là thẳng, vuông, lớn, như đường ray).
Cung Đoài: Ngựa bị thương, ngựa què khó đi. Phương tiện là tàu thủy (Đoài là kim trên nước).
Cung Càn: Ngựa trời, ngựa trời bay không vướng mắc, lên tới thượng giới, xa có thể đi khắp bốn biển. Phương tiện là máy bay (Càn là trời).
2. Lấy tượng Mã Tinh lâm lục thân
Khi người hỏi hoặc dụng thần là Nhật can hoặc bản mệnh, có thể căn cứ vào Nhật can hoặc bản mệnh để lấy thập thần (tài, quan, ấn, v.v.) nhằm luận lục thân, sau đó căn cứ vào tình hình lục thân mà Mã Tinh lâm để tra động cơ.
Ấn tinh: Dịch Mã lâm Ấn. Ấn tinh đại diện cho văn thư, nhà cửa, xe cộ, mẹ… ắt vì những việc này mà động.
Tài tinh: Dịch Mã lâm Tài. Tài tinh đại diện cho cầu tài, đàn bà, tiêu thụ, cung ứng… ắt vì việc này mà động.
Thực thương: Dịch Mã lâm Thực thương. Thực thương đại diện cho dục vọng, đầu tư, con cái, cầu tài, khảo sát… ắt vì những việc này mà động.
Quan sát: Dịch Mã lâm Quan sát. Quan sát đại diện cho công việc, kiện tụng, công vụ, công tác xa… ắt vì những việc này mà động.
Tỷ kiếp: Dịch Mã lâm Tỷ kiếp. Tỷ kiếp đại diện cho anh em, bạn bè, giúp đỡ người khác, hợp tác cầu tài… ắt vì những việc này mà bôn ba.
3. Lấy tượng Mã Tinh lâm tứ trụ (năm, tháng, ngày, giờ)
Khi không lấy tượng theo lục thân, có thể trực tiếp căn cứ vào cung lạc của tứ trụ mà Mã Tinh lâm để lấy tượng.
Cung năm (niên càn): Vì việc của trưởng bối, cha mẹ mà động.
Cung tháng (nguyệt càn): Vì việc của anh em, bạn bè, cùng lứa mà động.
Cung ngày (nhật càn): Vì việc của bản thân, vợ, nhà vợ mà động.
Cung giờ (thời càn): Vì việc của con cái, hậu bối mà động.
4. Lấy tượng Mã Tinh lâm Đào hoa
Lấy Nhật can tra 12 vận. Nếu Mã Tinh lâm Mộc dục (Đào hoa), là vì đàn bà, người tình, chuyện phong tình mà động.
Ngoài các cách lấy tượng Mã Tinh đã giới thiệu ở trên, Mã Tinh còn có thể lấy tượng theo ý nghĩa tượng trưng của sao, môn, thần, can.
