KỲ MÔN DỰ ĐOÁN DỤNG THẦN – PHẦN ĐOÁN BỆNH TẬT

KỲ MÔN DỰ ĐOÁN DỤNG THẦN – PHẦN ĐOÁN BỆNH TẬT

1. Lấy sao Thiên Nhuế đại diện cho bệnh, Sinh Môn và Tử Môn đại diện cho sống chết.

Căn cứ vào cung rơi của niên can hoặc nhật can (cả hai đều trong bát tự) của bản thân, kết hợp với trạng thái hưu tù của Sinh Môn và Tử Môn để quyết định sống chết. Nếu được Sinh Môn sinh thì sống, gặp Tử Môn thì khó lành. Nếu lại gặp hung tinh, hung cách thì ắt chết. Sáu môn còn lại chủ bệnh dai dẳng. Lấy ngày mà sao Thiên Nhuế phế, tuyệt làm kỳ khỏi bệnh, hoặc lấy can chi khắc được cung rơi của Thiên Nhuế làm kỳ khỏi bệnh.

2. Nếu cung rơi của Thiên Nhuế gặp hung thần, hung cách, dù nhật can có vượng tướng nhưng bị Thiên Nhuế xung khắc niên mệnh thì cũng chết. Lại xem niên mệnh, nhật can (trong bát tự) nhập mộ thì cũng chết. (Ví dụ: Tử Môn trên Sinh Môn, nếu đoán bệnh thì người bệnh chết có thể sống lại). Bệnh mới mà rơi vào không vong thì sống, bệnh lâu ngày rơi vào không vong thì chết. Lại xem nhật can mang khí tử tù, gặp hung thần hung cách, hoặc không được kỳ môn thì cũng chết.

3. Dùng cung rơi của quẻ của người cầu đoán để phán đoán bệnh tình của bệnh nhân.

Lấy Thiên TâmẤt kỳ làm hướng cung rơi của bác sĩ, Thiên Xung đại diện cho bệnh viện. Xem mối quan hệ sinh khắc giữa các cung này với cung rơi của sao Thiên Nhuế, từ đó phán đoán sự thành bại và hiệu quả của việc điều trị.

4. Cung rơi của Thiên Tâm và Ất kỳ mà gặp kỳ môn cát cách là lương y (thầy thuốc giỏi). Hai vị thần này rơi vào cung vượng tướng, không gặp kỳ môn cát cách là thời y (thầy thuốc thời vụ). Không được vượng tướng khí và kỳ môn cát cách là dung y (thầy thuốc tầm thường). Dù là lương y hay dung y, hễ khắc được cung bệnh thần (Thiên Nhuế) thì thầy thuốc ắt có công. Nếu cung bệnh thần khắc cung rơi của hai vị thần kia, thì dù là lương y cũng không thể chữa được.

5. Lấy Thời can đại diện cho bệnh thần, Trực Phù đại diện cho bệnh. Thời can cộng với địa bàn tinh là bác sĩ. Trực sử cộng với tam kỳ hoặc lục nghi là kỳ khỏi bệnh. Nếu ngũ hành của cung Trực sử sinh ngũ hành của cung Thời can thì bệnh dễ khỏi, nếu không thì khó. Nếu ngũ hành cung Thời can khắc ngũ hành cung Trực sử thì cũng dễ khỏi, nếu không thì khỏi chậm.

6. Đoán tuổi thọ dài ngắn là việc hung hiểm. Dùng tam bàn (thiên, địa, nhân) khi người đó sinh ra để diễn bố. Nam dùng sao Thiên Xung thuận bố, nữ dùng sao Thiên Trụ thuận bố. Xem từ vị trí của sao đó đến Tử Môn cách mấy cung. Mỗi cung tính 10 năm, cung lẻ tính 1 năm. Cung ở bốn góc (tứ duy) tính 2 năm. Đến cung can của ngày sinh là toàn bộ số tuổi. Nếu niên mệnh nhật can vượng tướng gặp kỳ, có thể tính tiếp vòng thứ hai. Lấy 90 tuổi làm chuẩn, mỗi cung đại diện 10 năm. Xem khoảng cách từ cung rơi của Thiên Xứng đến Tử Môn để định tuổi thọ. Dương độn đếm thuận, âm độn đếm nghịch. Người gặp ngũ hành vượng tướng thì cả đời ít tai ương, ngược lại thì thường gặp khó khăn trắc trở.

7. Đoán bệnh con cái: Thời can nhập mộ ắt chết.

8. Vị trí cơ thể, loại bệnh gì: Cần kết hợp xem Tử Môn, Thương Môn, Kinh Môn, Đỗ Môn, Cảnh Môn. Cung rơi của sao Thiên Nhuế xem bệnh tật cơ thể con người.

9. Thiên can tương ứng với cơ thể:

  • Giáp: Mật, đầu

  • Ất: Gan, cổ và vai

  • Bính: Ruột non, vai hoặc trán

  • Đinh: Tim, ngực và răng lưỡi

  • Mậu: Dạ dày, sườn và mũi

  • Kỷ: Tỳ, bụng và mặt

  • Canh: Đại tràng, rốn và gân

  • Tân: Phổi, ngực và đùi

  • Nhâm: Bàng quang, tam tiêu và bắp chân

  • Quý: Thận, tâm bào và bàn chân

10. Dựa theo Lạc Thư Cửu Cung:

  • Cung Khảm (1): Rơi vào cung Khảm thì bệnh dai dẳng nhưng có thể chữa. Hệ thống tiết niệu – sinh dục, bộ phận sinh dục ngoài, ruột non, đan điền, bệnh hàn, di tinh, thoát vị, máu, tai, hậu môn, thận, bàng quang, hệ nội tiết.

  • Cung Khôn (2): Rơi vào cung Khôn hoặc Trung cung thì bệnh dai dẳng. Cánh tay phải, tai phải, bàn tay phải, da thịt, mụn nhọt, vai phải, hệ tiêu hóa, tỳ vị, thực quản, tụy, bụng, hệ tiết niệu, thận, cơ quan sinh dục nữ.

  • Cung Chấn (3): Rơi vào cung Chấn thì không cần thuốc cũng khỏi. Hông sườn trái, thắt lưng trái, bàn chân, mù mắt, điếc tai, da, gan mật, phổi trái, huyết hư, lao lực, ho ra máu, mất ngủ, sợ hãi, tim đập mạnh.

  • Cung Tốn (4): Rơi vào cung Tốn thì không cần thuốc cũng khỏi. Cánh tay trái, tai trái, tóc, đùi, cánh tay trên, thần kinh, vai trái, gan mật, huyết quản, kinh lạc, khí huyết, khẩu vị, trúng phong, tam tiêu hư nhiệt, cảm phong nhiệt.

  • Trung cung (5): Giống cung Khôn.

  • Cung Càn (6): Rơi vào cung Càn thì không chữa được. Chân phải, đầu, mụn nhọt, tủy sống, gân xương, đại tràng, bàng quang, bí đại tiện, phổi, cơ quan sinh dục nam.

  • Cung Đoài (7): Rơi vào cung Đoài thì không chữa được. Hông sườn phải, thắt lưng phải, góc trán, miệng lưỡi, răng, hậu môn, phổi, khí quản, phổi phải, yết hầu, ngực – cách, ho, nghẹn, hen suyễn, câm điếc.

  • Cung Cấn (8): Rơi vào cung Cấn hoặc rơi vào không vong: bệnh mới thì khỏi, bệnh lâu thì chết. Chân trái, bàn chân trái, mũi, lưng, đau chân, tê bại, phong thấp, mụn nhọt, ngón tay, khớp, ngón chân, ngực, tỳ, dạ dày, ruột, hệ tiêu hóa, đầy hơi trướng bụng, giãn tĩnh mạch.

  • Cung Ly (9): Rơi vào cung Ly thì bệnh dai dẳng. Đầu, mắt, mặt, ruột non, tim, hệ tim mạch, hệ mạch máu não.