KỲ MÔN NGUYÊN THỦY
KỲ MÔN NGUYÊN THỦY
Sách này gọi là pháp Tạo trạch tam bạch, xuất phát từ Đô Thiên Hám Long Kinh 81 luận. Thái Ất, Tử Vi, Cửu Tổng, Bát Quái là tủy xương của trời đất, then chốt của sao đẩu. Bát quái hỗ biến mà đến vô cùng, ngũ hành chuyển dịch mà ứng vô tận. Lấy Cửu Tinh làm chín mối tổng, lấy Bát Môn làm tám quẻ. Trên có thể bổ khuyết hóa của trời đất chẳng toàn, dưới có thể giúp quân vương chẳng kịp, phù nguy trợ cát, phát thụy sinh tường.
Vừa cùng du với mười hai phân kinh đồ, lại khác phối với hai mươi tám tú cách cục. Sách này chính là cương kỷ của trời đất, minh kinh vĩ của âm dương, thăm dò u tắc, hiển đạt thông huyền. Thử nghiệm tám cái cửa đình, phối liệt chín châu hướng. Suy dời lục giáp, khuất sử lục nghi. Thiên Ất, Trực Phù khiến vận hành cuộc, Thái Ất, Trực Sứ khiến chỉ huy. Kỳ với lục nghi, ngẫu với bát tiết. Trên dưới chiêu dao, trong ngoài biểu ứng. Ba bàn vận cuộc, bát quái đều thông. Gặp cát thì vạn sự đều làm được, gặp hung thì một phần cũng chẳng nên cử.
Chín điều cốt yếu:
Đô Thiên cửu quái
Nhập địa tam nguyên
Hành quân tam kỳ
Tạo trạch tam bạch
Độn hình Thái Bạch chi thư
Bát sơn hám long chi quyết
Chuyển sơn di thủy cửu tự huyền kinh
Kiến quốc an bang vạn niên kim kính
Huyền cung hoạch phúc, cứu bần sinh tiên sản thánh
Biến họa phúc như trở bàn tay, khiến bần phú như nhàn hạ. Nếu ba điệp gặp kỳ môn, như giao long được mưa móc; thấy lục hợp gặp cách cục, như lang hổ có thêm cánh. Kỵ lấy hưu tù, phòng hình kích. Nếu được kỳ tinh đến, cần phải cát vị môn khai. Vị vị đều hợp, môn môn đều cát. Chỉ cần hợp được chỗ, vẫn cần mỗi thứ luận thời. Can thần không tù, chi thần không khắc. Thần tàng sát một, mới biết vạn sự đều hòa. Phản ngâm, phục ngâm định là nghìn tai dồn dập.
Kỳ gặp vượng tướng, là môi giới phú quý; môn gặp khai, hưu, mới hiệp ứng của anh hùng. Gặp Thanh Long phản thủ, thuộc về Ất, Giáp diệu; nếu Bạch Hổ sương cuồng, thấy Canh, Tân hung họa; nếu thấy Đằng Xà dược kiểu, biết Nhâm, Quý tranh giành; nếu gặp Chu Tước đầu giang, chủ Bính, Đinh yêu quái. Phi điểu điệt huyệt liền rằng trăm việc đều tường; Quý nhân đăng đàn ắt chín cung đều khánh. Thông huyền cơ mà trời đất đều chuyển, được diệu dụng thì xúc sự hanh thông.
Nếu làm quan văn võ, tu tạo chức vị đều tăng; hoặc với lương dân thứ sĩ, dời mộ phù nguy, làm phúc châu phủ mà dân an vật thái; hưng huyện trấn mà phú túc thu bằng; lập trạch thất mà phúc tụ nhân nương; tạo miếu vũ mà quỷ an thần thỏa. Cầu cống, bến đò, giếng, bếp, đường đi, cho đến các việc khác, phải ở lựa chọn chu toàn. Có Thái Tuế tướng quân, đều ở cung tay. Dù là chín lương sát diệu, chẳng dám đương đầu. Chẳng hỏi các nhà vận khí, chẳng siêu chẳng khai, phạm vào không vong cấm sát. Chỉ cần cầu được cuộc này, lại phải có kỳ, có thể bảo nghìn năm đều chiêu trăm phúc. Rất hợp đào móng, phá núi, chôn cất tổ tiên, phải có kỳ tinh đến tọa, môn hộ được khai.
Có Long sơn thì cầu Phản thủ Thanh Long; có Bạch Hổ thì kỵ sương cuồng; có Huyền Vũ thì xa dược kiểu; Đằng Xà có Chu Tước thì sợ đầu giang. Chu Tước như thế nghênh tị, dụng ý phối cầu, muôn phần không một lỗi. Động có mười phần cát. Phân đầu mối, bày cương lĩnh, kê khai nghìn mối, thuật đủ uẩn. Chẳng những mưu hoạch gặp cát, thực là trời đất hiến tường. Giúp nước an bang, tế dân lợi vật. Người được nên đóng cất ở ngọc quỹ, thực gọi là bảo của thánh gia hoàng thất.
ĐỘN GIÁP THẦN CƠ PHÚ
Lưỡng nghi (Âm Dương) chủ sứ, tam tài (Thiên Địa Nhân) phân, bộ chú nhiếp quỷ thần. Tồn cuộc thông huyền diệu chỉ, tu tiễn linh văn, chỉnh lý các kinh yếu lý.
Phàm: Giáp gia Bính hề Long phản thủ, Bính gia Giáp hề Điểu điệt huyệt. Phản thủ thì duyệt dịch toại; điệt huyệt thì hiển chước dịch thành.
Thân tàn hủy hề: Ất gặp Tân, mà Long đào tẩu.
Tài hư hao hề: Tân gặp Ất, mà Hổ sương cuồng.
Quý thấy Đinh hề: Đằng Xà dược kiểu.
Đinh thấy Quý hề: Chu Tước đầu giang.
Sinh Bính lâm Mậu: Thiên độn dụng binh.
Khai Ất lâm Kỷ: Địa độn an phần.
Hưu Đinh gặp Thái Âm: Nhân độn an dinh.
Phục cán cách: Canh lâm nhật can.
Phi cán cách: Nhật can lâm Canh.
Canh lâm Trực Phù: tên Phục cán cách.
Trực Phù lâm Canh: thuyết Phi cung cách.
Đại cách: Canh lâm Lục Quý.
Hình cách: Canh lâm Lục Kỷ.
Cách: sở hướng đã hung, trăm việc doanh vi bất hỷ.
Thời can khắc nhật can: là ngũ bất ngộ mà tai sinh.
Bính kỳ lâm thời can: tên vi bột nghịch mà họa khởi.
Tam Kỳ đắc sứ: chúng thiện giai tường.
Lục nghi kích hình: trăm hung câu tập.
Thái Bạch nhập Huỳnh (Canh + Bính): giặc tức đến.
Hỏa nhập kim hương (Bính + Canh): giặc sắp đi.
Địa la già che chẳng chiếm trước.
Thiên võng tứ trương: vô lộ tẩu.
Cung Trực Phù đồng với cung Thiên Ất mà lấy; nếu gặp cấp nạn, nên từ phương Trực Phù mà đi.
Nhị độn (Âm Dương) thuận nghịch, diệu lý huyền vi.
Dương phù: trái làm tiền số.
Âm phù: phải làm tiền tầm.
Dương độn: từ Đông Chí trở xuống 12 khí – Trực Phù sau một là Cửu Thiên, sau hai là Cửu Địa, trước ba là Lục Hợp, trước hai là Thái Âm.
Âm độn: từ Hạ Chí trở xuống 12 khí – Trực Phù trước một là Cửu Thiên, trước hai là Cửu Địa, trước năm là Lục Hợp, trước bảy là Thái Âm.
Thái Âm: tiềm hình nhi ẩn độn.
Lục Hợp: độn thân nhi mưu nghị.
Cửu Thiên chi thượng: dương uy vũ.
Cửu Địa chi hạ: nặc binh mã.
Thiên địa bị hề nan lượng, thần cơ diệu hề mạc trắc.
Học giả dục lâm sự hữu mưu tồn tâm, phú này vô hoặc.
