LẤY DỤNG THẦN TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP PHÁI ĐẠO GIA

LẤY DỤNG THẦN TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP PHÁI ĐẠO GIA

Âm bàn Kỳ Môn Độn Giáp phái Đạo gia sử dụng Tứ trụ (bốn cột) để thay thế cho Lục thân. Tứ trụ bao gồm: Can năm, Can tháng, Can ngày, Can giờ, Chi năm, Chi tháng, Chi ngày, Chi giờ. Kỳ Môn Độn Giáp còn được gọi là học thuyết dự đoán bằng Thiên Can, lấy các Thiên Can trong Tứ trụ làm đối tượng lấy dụng thần, cụ thể: can của năm, tháng, ngày, giờ.

  • Can năm đại diện cho cha mẹ, bậc trưởng thượng.

  • Can tháng đại diện cho anh chị em, bạn bè cùng lứa.

  • Can ngày đại diện cho chính người cầu đoán (bản thân).

  • Can giờ đại diện cho con cái, hậu bối.

Trong Âm bàn Kỳ Môn phái Đạo gia, vì các Thiên Can của Tứ trụ là những dụng thần có tính cương lĩnh, nên còn được gọi là "Tứ cương" (bốn cương lĩnh). Khi lấy dụng thần từ Tứ cương, chia thành hai trường hợp:

  1. Khi người cầu đoán có mặt trực tiếp:

    • Can năm: trưởng bối

    • Can tháng: cùng lứa

    • Can ngày: người cầu đoán

    • Can giờ: con cháu, hậu bối

  2. Khi người cầu đoán không có mặt trực tiếp (cầu đoán qua điện thoại, mạng, v.v.):

    • Can năm: trưởng bối

    • Can tháng: người cầu đoán

    • Can ngày: cùng lứa (có thể là người dự đoán hoặc bạn bè cùng lứa)

    • Can giờ: con cháu, hậu bối

Ví dụ minh họa:

Tứ trụ can chi: Canh Tý, Đinh Hợi, Kỷ Mùi, Quý Dậu

  • Trường hợp cầu đoán trực tiếp (có mặt):

    • Can ngày Kỷ là người cầu đoán.

    • Can giờ Quý là con cháu, hậu bối của người cầu đoán.

    • Can tháng Đinh là người cùng lứa với người cầu đoán.

    • Can năm Canh là trưởng bối của người cầu đoán.

  • Trường hợp người cầu đoán không có mặt (qua trung gian):

    • Can tháng Đinh là người cầu đoán.

    • Can ngày Kỷ là người dự đoán (thầy) hoặc người cùng lứa với người cầu đoán.

    • Can giờ Quý là con cháu, hậu bối của người cầu đoán.

    • Can năm Canh là trưởng bối của người cầu đoán.

Lưu ý về âm dương và giới tính:

Khi lấy dụng thần dựa theo Tứ cương, do giới tính nam nữ khác nhau nên dụng thần cũng khác nhau. Sau khi xác định được Tứ cương, còn phải phân tích theo giới tính của nam nữ để xác định thuộc tính âm dương của Thiên Can.

Ví dụ với cùng cục bên trên, xét theo người dự đoán là nam:

  • Người cầu đoán thông qua trung gian (mạng, điện thoại) để nhờ dự đoán, không có mặt trực tiếp.

  • Dùng can ngày đại diện cho người dự đoán (thầy). Giả sử can ngày là Bính (Dương).

  • Can tháng là Giáp (cũng thuộc Dương). Vậy can tháng Giáp đại diện cho người cầu đoán nam.

  • Nếu người cầu đoán là nữ, thì cần chuyển đổi dụng thần, xem Ất.

Ví dụ với người dự đoán là nữ:

  • Người cầu đoán qua trung gian, không có mặt.

  • Dùng can ngày đại diện cho người dự đoán (thầy nữ). Can ngày Bính (Dương).

  • Can tháng Giáp (Dương). Vậy can tháng Giáp đại diện cho người cầu đoán nữ.

  • Nếu người cầu đoán là nam, thì chuyển đổi dụng thần, xem Ất.