LUẬN VỀ DỤNG THẦN TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP - KẾT CỤC YÊU ĐƯƠNG HOẶC HÔN NHÂN

LUẬN VỀ DỤNG THẦN TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP - KẾT CỤC YÊU ĐƯƠNG HOẶC HÔN NHÂN

Thiên bàn, Địa bàn, Nhân bàn, Thần bàn, mười Thiên can, mười hai Địa chi đều có thể làm Dụng thần!

1. TÌNH HÌNH THỜI TIẾT

Lấy Cửu tinh đại diện cho thời tiết. Khi dự đoán thời tiết, kết hợp xem trạng thái của Thiên can, Bát môn, Bát thần và cung mà chúng rơi vào để xác định.

  • Cửu tinh: Thiên Anh tinh đại diện cho thần lửa, chủ về trời nắng; Thiên Phụ tinh chủ về gió; Thiên Trụ tinh chủ về mưa; Thiên Bồng tinh là thần nước, cũng chủ về mưa; Thiên Xung tinh chủ về sấm; vào mùa Đông, Thiên Tâm tinh và Thiên Trụ tinh chủ về sương giá và tuyết.

  • Bát môn: Cảnh môn chủ nắng; Khai môn, Thương môn chủ sấm; Hưu môn chủ mây mưa; Sinh môn chủ gió; Đỗ môn chủ chớp; Kinh môn chủ cầu vồng.

  • Thiên can: Giáp, Ất chủ gió; Bính, Đinh chủ lửa (nắng); Mậu, Kỷ chủ mây âm u; Canh, Tân chủ băng giá, tuyết; Nhâm, Quý chủ mưa (Nhâm là mưa lớn, Quý là mưa nhỏ).

  • Bát thần: Giá phù đại diện cho mặt trời và mặt trăng; Cửu Thiên chủ nắng; Cửu Địa chủ mưa; Lục Hợp chủ gió hòa, nắng đẹp; Bạch Hổ chủ gió; Huyền Vũ chủ mưa; Thái Âm chủ âm u, sương giá, tuyết; Đằng Xà chủ chớp, cầu vồng.

  • Thiên Anh tinh gặp vượng tướng, rơi vào cung Chấn 3, Tốn 4, hoặc khắc can ngày, can giờ, chủ trời nắng.

  • Thiên Phụ tinh gặp vượng tướng, rơi vào cung Ly 9, hoặc khắc cung nó rơi vào, hoặc khắc can ngày, can giờ, chủ có gió nắng.

  • Thiên Bồng tinh gặp Nhâm, Quý, rơi vào cung Khảm 1, Chấn 3, Đoài 7, hoặc Thiên Trụ tinh gặp Nhâm, Quý rơi vào các cung đó, chủ mưa. Nếu gặp Nhâm thì mưa lớn, gặp Quý thì mưa nhỏ. Nếu đồng thời Thiên Anh tinh, Thiên Phụ tinh rơi vào cung mà thiên bàn can khắc địa bàn can, ắt có mưa giông sấm chớp. Nếu gần Giá phù thì mưa đến nhanh, xa thì mưa chậm.

  • Thiên Bồng tinh, Thiên Trụ tinh gặp Nhâm, Quý rơi vào cung Khôn 2, chủ mây đặc không mưa.

  • Thiên Bồng tinh, Thiên Trụ tinh nếu không gặp Nhâm, Quý (thủy thần), dù rơi vào cung Khảm 1, Chấn 3, Đoài 7 cũng không mưa.

  • Mùa Đông, Thiên Tâm tinh, Thiên Trụ tinh gặp Nhâm, Quý đến cung Càn, Đoài, chủ có tuyết.

Đo lên xuống của nước sông: Lấy Thiên Bồng tinh, Hưu môn làm Dụng thần để phán đoán. Thiên Bồng, Hưu môn gặp vượng tướng khí mà được Tam Kỳ, nước tuy dâng nhưng không đến nỗi ngập lụt. Thiên Bồng, Hưu môn gặp vượng tướng khí mà gặp Canh cách (Giá Cách), chủ nước sông tắc nghẽn, ngập lụt dâng cao; nếu gặp Giáp Thìn Nhâm kèm Đằng Xà thì lũ lụt hoành hành, tàn phá. Thiên Bồng, Hưu môn rơi vào cung Khôn 2, Trung 5, Cấn 8, nước bị đất chôn lấp, lũ rút hoặc không có lũ. Thiên Bồng, Hưu môn không gặp Canh cách và Giáp Thìn Nhâm thì nước tuy mạnh nhưng không vỡ đê, tràn bờ gây hại.

2. BỆNH TẬT CỦA CON NGƯỜI

Dựa vào mô hình tượng, số, lý của Kỳ Môn Độn Giáp, lấy Cửu cung mô phỏng cơ thể con người:

  • Ly (cung 9) đại diện cho đầu.

  • Tốn (cung 4) đại diện cho cánh tay trái.

  • Khôn (cung 2) đại diện cho cánh tay phải.

  • Chấn (cung 3) đại diện cho sườn trái, eo trái.

  • Đoài (cung 7) đại diện cho sườn phải, eo phải.

  • Cấn (cung 8) đại diện cho chân trái.

  • Càn (cung 6) đại diện cho chân phải.

  • Khảm (cung 1) đại diện cho hệ tiết niệu, sinh dục.

Kết hợp với thuộc tính Ngũ hành của Bát quái, Nội bàn và Ngoại bàn của Kỳ Môn:

  • Ly (cung 9) ở ngoại đại diện cho đầu, mắt, mặt; Ly thuộc Hỏa, ở nội tạng đại diện cho tim, mạch máu tim, mạch máu não.

  • Khôn (cung 2) ở ngoại đại diện cho tai phải, cánh tay phải, bàn tay, da thịt; Khôn thuộc Thổ, ở nội tạng chủ tỳ vị, thực quản, tụy, hệ tiêu hóa.

  • Tốn (cung 4) ở ngoại đại diện cho tai trái, cánh tay trái, tóc; Tốn thuộc Mộc, chủ phong, ở nội tạng đại diện cho gan, mật, mạch máu, kinh lạc, khí huyết.

  • Chấn (cung 3) ở ngoại đại diện cho sườn trái, eo trái; Chấn là chân, đại diện cho bàn chân; Chấn thuộc Mộc, ở nội tạng đại diện cho gan, mật, phổi trái.

  • Đoài (cung 7) ở ngoại đại diện cho sườn phải, eo phải; Đoài là miệng, đại diện cho miệng, lưỡi, răng; Đoài thuộc Kim, ở nội tạng đại diện cho phổi, khí quản, phổi phải.

  • Cấn (cung 8) ở ngoại đại diện cho chân trái, bàn chân trái; Cấn là núi, trên mặt đại diện cho mũi; Cấn thuộc Thổ, ở ngoại còn đại diện cho hệ tiêu hóa (ruột, dạ dày).

  • Càn (cung 6) ở ngoại đại diện cho chân phải, bàn chân phải; Càn là trời, là đầu, đại diện cho đầu; Càn thuộc Kim, ở nội tạng đại diện cho tủy sống, gân xương, ruột già.

  • Khảm (cung 1) ở ngoại đại diện cho bộ phận sinh dục ngoài nam nữ; Khảm thuộc Thủy, ở nội tạng đại diện cho thận, bàng quang, hệ nội tiết.

Khi dự đoán bệnh tật, lấy Thiên Nhuế tinh trong Cửu tinh làm ký hiệu chính đại diện cho bệnh, đồng thời xem các môn Tử, Thương, Kinh, Đỗ, Cảnh trong Bát môn, còn xem Tam Kỳ Lục Nghi mà Thiên Nhuế tinh lâm vào, cũng như trạng thái Bát thần ở trên, từ đó phán đoán tính chất và vị trí của bệnh. Sau đó dựa vào cát hung của cách cục Kỳ Môn, trạng thái vượng tướng hưu tù theo thời tiết khí tiết, cùng quan hệ sinh khắc với người cầu đoán, tổng hợp phán đoán mức độ nặng nhẹ, xu hướng phát triển và tiên lượng của bệnh.

Trong dự đoán bệnh tật, lấy Thiên Tâm tinh và Ất Kỳ làm ký hiệu đại diện cho bác sĩ và thuốc men, xem quan hệ sinh khắc giữa cung chúng rơi vào với cung của sao bệnh (Thiên Nhuế), từ đó phán đoán hiệu quả điều trị.

3. YÊU ĐƯƠNG – HÔN NHÂN

Dự đoán hôn nhân, yêu đương thường lấy Ất Kỳ ở Thiên bàn đại diện cho phía nữ, lấy Canh Kim ở Thiên bàn đại diện cho phía nam. Nếu cung của hai bên rơi vào tương sinh, hòa hợp, lại gặp Cát môn, Cát cách, thì tình yêu thành công, hôn nhân viên mãn. Nếu hai cung xung khắc lẫn nhau thì hôn nhân khó thành, hoặc vợ chồng đang gặp vấn đề. Lấy Lục Hợp làm mối lái. Nếu cung Lục Hợp sinh cung Ất Kỳ thì mối lái nghiêng về phía nữ; nếu cung Lục Hợp sinh cung Canh Kim thì mối lái nghiêng về phía nam.

Cung Ất Kỳ lâm vào Bát môn, Cửu tinh, Bát thần và cách cục nào, đại diện cho tính cách, thân hình, ngoại hình và tình trạng nghề nghiệp của nữ. Cung Canh Kim lâm vào Bát môn, Cửu tinh, Bát thần và cách cục nào, đại diện cho tính cách, thân hình, ngoại hình và tình trạng nghề nghiệp của nam.

Nếu là người đã kết hôn, có thể lấy can hợp với Dụng thần (ví dụ nhật can là Bính, thì Tân là người phối ngẫu) làm ký hiệu đại diện cho người phối ngẫu, dựa vào trạng thái sinh, khắc, hình, xung, hợp, hại giữa cung của họ để phán đoán mức độ tốt xấu, viên mãn của hôn nhân.

Nếu dự đoán việc thành hôn hoặc ly hôn, có thể xem thêm cung của năm sinh (tuổi) của cả nam và nữ để hỗ trợ phán đoán kết cục tình yêu hoặc hôn nhân của họ.

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, lấy Đinh Kỳ làm vợ lẽ (thiếp), trong hiện đại mở rộng ra là người phụ nữ thứ ba xen vào giữa nam nữ; lấy Bính Kỳ làm người đàn ông thứ ba xen vào giữa nam nữ.

4. MANG THAI – SINH NỞ

① Phán đoán giới tính thai nhi

Lấy cung Khôn, Thiên Nhuế tinh đại diện cho người mẹ; lấy sao ở Thiên bàn lâm vào cung Khôn đại diện cho thai nhi. Sao dương là thai nam, sao âm là thai nữ. Nếu Thiên Cầm tinh lâm cung Khôn là sinh đôi. Can dương là con trai, can âm là con gái. Đồng thời xem môn lâm vào cung Khôn để phán đoán: môn dương là thai nam, môn âm là thai nữ. Cũng có thể lấy nhật can làm mẹ, thời can làm con, dựa vào âm dương của thời can và sao, môn, cung lâm vào để phán đoán nam nữ. Ngoài ra, lấy Giá phù làm sản phụ, lấy Lục Hợp hoặc Giá sứ làm thai nhi để lấy Dụng thần.

② Phán đoán tình thế thai nhi và việc sinh nở thuận lợi hay không

Lấy cung Khôn làm phòng đẻ, Thiên Nhuế tinh là sản phụ, sao ở Thiên bàn lâm vào cung Khôn là thai nhi. Nếu Thiên Nhuế khắc sao ở Thiên bàn thì sinh nhanh. Nếu sao ở Thiên bàn sinh Địa bàn (Thiên Nhuế) thì con luyến bụng mẹ, sinh chậm. Nếu sao ở Thiên bàn khắc Địa bàn (Thiên Nhuế) là con khắc mẹ, chủ mẹ nguy; nếu Địa bàn (Thiên Nhuế) khắc sao Thiên bàn là mẹ khắc con, chủ con chết, nhưng nếu gặp vượng tướng khí và Cát môn, Cát cách thì sẽ không sao. Nếu thời can lâm vào sao ở Thiên bàn rơi vào mộ của địa bàn, chủ con chết trong bụng mẹ. Nếu Thiên bàn và Địa bàn gặp Hung môn, Hung cách thì cả mẹ con đều hung.

Lại lấy môn lâm vào cung Khôn làm thai nhi. Nếu phòng đẻ (cung Khôn) khắc môn thì thai không yên; nếu môn khắc cung Khôn thì bà bầu thường xuyên bệnh. Nếu phục ngâm thì con luyến bụng mẹ, chủ thai vững và sinh chậm. Nếu gặp Bạch Hổ thì sinh nhanh. Tại sao? Vì Bạch Hổ là thần huyết quang. Nếu môn đến cung Khôn hoặc hưu tù, nhập mộ, có thể là thai chết. Nếu lâm vào Tam Kỳ thì là cát lợi.

③ Phán đoán ngày sinh

Lấy Thiên bàn can ở cung đối xung với cung Khôn làm ngày ứng nghiệm. Cũng có thể theo phương pháp: ngày âm xem can trên Canh, ngày dương xem can dưới Canh để đoán ngày sinh.

5. HỌC HÀNH – THI CỬ

Phàm học hành thi cử, nếu chính thí sinh tự xem thì lấy nhật can làm thí sinh; nếu cha mẹ xem con cái thi cử thì lấy thời can làm thí sinh; đồng thời, cũng có thể xem thêm năm sinh (tuổi) của thí sinh, lấy năm sinh làm Dụng thần.

Thông thường lấy Thiên Phụ tinh làm hội đồng coi thi, lấy Giá phù làm chủ khảo hoặc giám thị chính, lấy Giá sứ làm phó chủ khảo hoặc phó giám thị; lấy Đinh Kỳ đại diện cho bài văn, lấy Cảnh môn đại diện cho bài thi; lấy can năm đại diện cho trường học (nơi tuyển sinh).

Nếu cung thí sinh rơi vào vượng tướng, được Tam Kỳ, Cát môn, Cát cách, lại được Thiên Phụ, Giá phù, can năm sinh trợ, chắc chắn sẽ thi đỗ vào trường mong muốn (ví dụ Bắc Đại, Thanh Hoa). Nếu cung thí sinh rơi vào hưu tù vô lực, không được Tam Kỳ, Cát môn, Cát cách, nhưng được Thiên Phụ, Giá phù, can năm sinh trợ, thì dù kết quả thi không cao vẫn có thể đỗ. Nếu cung thí sinh rơi vào tử tuyệt, nhập mộ, hoặc không vong, lại gặp Hung môn, Hung cách, và bị Thiên Phụ, Giá phù, can năm khắc, chắc chắn không đỗ.

Đinh Kỳ là bài văn của thí sinh, Cảnh môn là bài thi; trạng thái cung của chúng và quan hệ sinh khắc với Thiên Phụ, Giá phù, can năm, từ đó phán đoán chất lượng bài làm và điểm số.

Thời xã hội cũ còn có thi võ (thời hiện đại có thể mở rộng cho kỳ thi quân sự). Theo kinh nghiệm cổ thư, lấy Giá phù làm chủ khảo, lấy Thiên Xung tinh làm giám khảo, lấy nhật can hoặc thời can làm thí sinh, lấy Giáp Tuất Kỷ làm cung, lấy Giáp Thân Canh làm tên, lấy Thương môn làm ngựa, lấy Giáp Ngọ Tân làm bia, lấy Cảnh môn làm sách lược. Nếu nhật can hoặc thời can vượng tướng, cung Giáp Thân Canh khắc cung Giáp Ngọ Tân, hoặc xung vào cung ấy, đều là tên trúng bia; lại xem Cảnh môn vượng tướng, sinh trợ với cung Giá phù thì sẽ đỗ, ngược lại thì không đỗ. Cũng có thể xem năm sinh với quan hệ sinh khắc của cung Giá phù và Thiên Xung.

Ngày nay tuy không còn thi võ, nhưng nếu đoán thi võ thuật hoặc thi môn quân sự, có thể tham khảo kinh nghiệm cổ thư để dự đoán linh hoạt. Quân nhân hợp cách có năm thành tích quân sự phải đạt chuẩn: 5 km mang vác vượt địa hình, bắn súng cơ bản bài 1, vượt chướng ngại vật 400 mét, ...

Thời xã hội cũ còn có việc bái sư học nghệ, vào núi tìm đạo. Theo kinh nghiệm cổ thư, lấy Thiên Nhuế tinh làm người đi tìm đạo, lấy Thiên Phụ tinh làm người truyền đạo. Nếu Thiên Phụ được Cát môn, Cát cách sinh trợ Thiên Nhuế thì ắt được cao nhân truyền dạy. Nếu hai bên hòa hợp thì chỉ gặp được người, nhưng không được truyền đạo. Nếu tương khắc thì không gặp được người, hoặc không được truyền đạo.

Ngoài ra còn có việc học võ (đầu võ, bái sư học võ nghệ), lấy Thiên Xung tinh làm võ sĩ, lấy Giá phù làm võ sư hoặc giáo đầu. Hai bên tương sinh thì chủ truyền dạy. Nếu tương khắc thì không truyền dạy. Nếu Thiên Xung tinh chính là Giá phù thì rất tốt. Gặp phản ngâm, phục ngâm thì không tốt.

6. CÔNG VIỆC – VIỆC LÀM

Dự đoán công việc việc làm bao gồm: phân phối sau khi tốt nghiệp, tìm việc, cạnh tranh thăng tiến, thăng chức, lên xuống quan chức, điều chuyển công tác, v.v.

  • Lấy Khai môn đại diện cho công việc văn phòng và đơn vị hành chính.

  • Lấy Đỗ môn đại diện cho công việc võ nghiệp (quân đội, cảnh sát) và đơn vị vũ trang.

  • Lấy can năm đại diện cho cấp lãnh đạo.

  • Lấy Giá phù đại diện cho cấp trên trực tiếp.

  • Lấy can tháng đại diện cho đồng nghiệp.

  • Lấy nhật can đại diện cho người cầu đoán.

  • Lấy thời can đại diện cho cấp dưới hoặc quần chúng nhân viên trong đơn vị.

Nếu nhật can hoặc năm sinh rơi vào cung vượng tướng, lại được Cát môn, Cát cách, Cát thần, cho thấy bản thân có điều kiện tốt, được thiên thời địa lợi, lại được Khai môn hoặc Đỗ môn sinh trợ thì việc xin việc, được chức dễ dàng thuận lợi. Nếu nhật can hoặc năm sinh khắc Khai môn hoặc Đỗ môn, sau khi nỗ lực cũng có thể có việc làm hoặc chức vụ. Nếu bản thân không được thiên thời địa lợi, lại bị Khai môn hoặc Đỗ môn khắc thì chắc chắn không được chức, không có việc làm.

Việc thăng chức, thăng hạng cũng vậy: một xem thiên thời, hai xem địa lợi, ba xem nhân hòa, bốn xem điều kiện bản thân và vận may. Bản thân có điều kiện tốt, lại được can năm, Giá phù, Khai môn sinh trợ thì ắt thăng chức; ngược lại thì không thăng chức.

  • Khai môn khắc Dụng thần: quan văn bị giáng chức, điều chuyển.

  • Đỗ môn khắc Dụng thần: quan võ bị giáng chức.

  • Phản ngâm chủ điều chuyển; không vong ắt bị cách chức; nhập mộ không những bị giáng phạt mà còn bị tội vạ.

  • Thái tuế (can năm) khắc Dụng thần: cấp lãnh đạo không hài lòng.

  • Giá phù khắc Dụng thần: cấp trên trực tiếp không ưa.

  • Can tháng khắc Dụng thần: đồng nghiệp hặc tội.

  • Thời can khắc Dụng thần: cấp dưới hoặc quần chúng tố cáo.

Lại lấy Khai môn làm quan tinh, lấy Cửu tinh lâm trên Khai môn làm phẩm cách con người. Nếu Khai môn gặp sao tốt thì là quan tốt, gặp sao xấu thì là quan ác. Cụ thể: lâm Thiên Phụ tinh: văn nhã; Thiên Nhâm tinh: từ thiện; Thiên Tâm tinh: chính trực; Thiên Cầm tinh: trung hậu; Thiên Xung tinh: phong lôi (nghiêm khắc); Thiên Anh tinh: hôn ám; Thiên Nhuế tinh: tham lam, độc ác; Thiên Trụ tinh: gian trá; Thiên Bồng tinh: đại gian đại ác.

Đối với cán bộ quân đội hoặc binh sĩ chuyển ngành, xuất ngũ, lấy Đỗ môn làm quan trưởng, lấy nhật can làm người xuất ngũ. Nếu Đỗ môn sinh nhật can, chủ cấp trên có nhu cầu công việc, muốn giữ bạn lại, không cho chuyển ngành hoặc xuất ngũ. Nếu Đỗ môn khắc nhật can thì cho xuất ngũ. Nếu hòa hợp thì cũng cho xuất ngũ. Nếu nhật can gặp cách “Thanh Long đào tẩu” hoặc “Huỳnh nhập Thái Bạch” ắt xuất ngũ; nếu gặp “Thái Bạch nhập Huỳnh” hoặc “Bạch Hổ cuồng xương” thì không cho xuất ngũ. Nếu nhật can lâm “Đằng Xà kiểu kiêu” (rắn quấn) thì có thể bị kiện tụng, muốn xuất cũng không được. Nếu gặp “Đại cách” hoặc “Chu Tước đầu giang” (Chu Tước nhảy sông) là hung cách, thì có thể bị cách chức.

 

7. BUÔN BÁN – CẦU TÀI

Khi dự đoán buôn bán cầu tài, thông thường lấy nhật can làm người cầu đoán, lấy thời can làm tiền tài hoặc hàng hóa; lấy Giáp Tý Mậu làm vốn, lấy Sinh môn làm lợi tức; lấy Giá phù làm chủ hàng, Giá sứ làm người mua hàng; lấy Lục Hợp làm người môi giới, can tháng làm người cạnh tranh đồng nghề; lấy sao lâm tại Sinh môn làm sao tài; lấy Giá phù và Cảnh môn làm tình hình thị trường; lấy cung của thời can và Giá sứ làm ngành nghề kinh doanh; lấy cung của Khai, Hưu, Sinh làm phương hướng được tài; lấy cung của Sinh môn làm số lượng tiền lãi; lấy Khai môn làm cửa hàng, mặt tiền; lấy Sinh môn làm nhà cửa; lấy Tử môn làm đất đai; lấy Giá phù làm chủ sở hữu hoặc ngân hàng, lấy Giá sứ làm người vay mượn; lấy Giá phù làm ngân hàng hoặc người cho vay, lấy Thiên Ất tinh (sao ở địa bàn của cung mà Giá phù rơi vào, ví dụ Thiên Phụ làm Giá phù rơi cung Khảm thì địa bàn Thiên Bồng là Thiên Ất, vì Thiên Phụ rơi Khảm thì Thiên Ất (Thiên Bồng) rơi Khôn, quan hệ là cung Thiên Ất khắc cung Giá phù) làm người vay hoặc người đi vay; lấy Giá phù làm chủ nợ, lấy Thiên Ất làm con nợ, lấy Thương môn làm người đòi nợ.

  • Sinh môn rơi vào cung vượng tướng, lại được Tam Kỳ, Cát cách thì lợi lớn; tướng thì lợi trung bình; hưu tù thì lợi ít; nếu hưu tù lại gặp Hung cách thì không lợi, lỗ vốn.

  • Giáp Tý Mậu và Sinh môn rơi vào không vong, phản ngâm, mộ tuyệt, lại có Hung cách, Hung thần thì không những không được tài mà còn rước lấy thị phi.

  • Giáp Tý Mậu và Sinh môn gặp sao tốt thì việc càng tốt, gặp sao xấu thì có phần xấu.

  • Có thể dựa vào can mà Địa bàn Giáp Tý Mậu gặp để phán đoán số lượng tiền lãi.

Thời gian được tài: có thể xem Giáp Tý Mậu và Sinh môn cùng rơi vào nội bàn (cung 1, 8, 3, 4) là khoảng cách gần, tốc độ nhanh; một trong một ngoài thì chậm; cả hai ở ngoại bàn (cung 9, 2, 7, 6) thì càng chậm, càng xa. Nếu Giáp Tý Mậu và Khai môn cùng cung thì được tài nhanh. Lại lấy địa chi của cung Địa bàn thời can để định ngày ứng nghiệm (thời gian được tài theo năm, tháng, ngày, giờ). Phục ngâm thì lấy địa chi của cung đối xung với Sinh môn làm ngày ứng nghiệm.

① Mua bán trao đổi cầu tài

Lấy nhật can làm người mua, thời can làm người bán, Lục Hợp làm người môi giới, trung gian.

  • Nhật can sinh thời can: lợi cho bên bán.

  • Thời can sinh nhật can: lợi cho bên mua.

  • Nhật can khắc thời can: người mua không muốn mua.

  • Thời can khắc nhật can (nếu thời can vượng): người bán không muốn bán.

  • Lục Hợp sinh nhật can: người môi giới nghiêng về bên mua.

  • Lục Hợp sinh thời can: người môi giới nghiêng về bên bán.

  • Lục Hợp nhập mộ hoặc không vong: ắt có chuyện lừa gạt.

  • Nhật can và thời can hòa hợp: giao dịch công bằng, cũng chủ thành công.

  • Nhật can hoặc thời can có một bên không vong: giao dịch không thành.

② Đầu tư cầu tài

Thường lấy Giáp Tý Mậu làm vốn, Sinh môn làm lợi tức.

  • Sinh môn rơi cung được Kỳ, Cát cách, Cát tinh, sinh cung Giáp Tý Mậu thì tốt, ắt được lợi gấp bội.

  • Hòa hợp thì được lợi trung bình.

  • Cung Sinh môn khắc cung Giáp Tý Mậu, lại gặp Hung thần, Hung cách thì ắt lỗ vốn.

  • Cung Giáp Tý Mậu sinh cung Sinh môn: chủ thêm vốn vẫn có thể có lãi.

  • Sinh môn rơi vào mộ tuyệt (xét theo tháng lệnh) lại có Hung thần, Hung cách thì ắt lỗ vốn.

③ Mua hàng cầu tài

  • Nhật can là người mua, thời can là hàng hóa.

  • Cung thời can vượng tướng, được Cát môn, Cát cách, lại gặp Cát thần: hàng chất lượng tốt.

  • Hưu tù, không được Tam Kỳ, Cát môn, Cát cách, Cát thần: chất lượng trung bình.

  • Nếu hưu tù, lại lâm Hung môn, Hung cách, gặp Huyền Vũ: ắt là hàng giả, kém chất lượng hoặc hàng ôi thiu, hư hỏng.

  • Thời can sinh nhật can: dù hàng tốt hay xấu đều có lợi.

  • Thời can khắc nhật can, hoặc không vong, mộ tuyệt: không có lợi.

  • Nhật can sinh thời can: chủ động đi mua hàng.

  • Nhật can khắc thời can: cũng có thể mua thành.

④ Bán hàng cầu tài

  • Giá phù là người bán, Giá sứ là người mua.

  • Giá sứ gặp Kỳ môn, Cát cách sinh Giá phù hoặc hai bên hòa hợp: có thể bán được.

  • Giá phù sinh Giá sứ, hoặc hai bên tương khắc: không bán được.

  • Lại có thể lấy nhật can là người bán, thời can là hàng hóa; Giáp Tý Mậu là vốn, Sinh môn là lợi tức.

  • Nhật can sinh thời can: người luyến hàng, không muốn bán.

  • Thời can sinh nhật can: hàng luyến người, bán không được.

  • Nhật can khắc thời can: muốn bán nhanh nhưng giao dịch chậm.

  • Thời can khắc nhật can: bán nhanh.

  • Bán hàng có lợi hay không: chỉ cần cung thời can (hàng hóa) sinh Giáp Tý Mậu hoặc cung Sinh môn thì có lãi; nếu cung thời can không sinh Giáp Tý Mậu hoặc Sinh môn, hoặc hai bên tương khắc thì không lãi.

  • Cung thời can gặp Hung thần, Hung cách xung khắc cung nhật can: ắt lỗ vốn. (Cung Khôn 2, Cấn 8 nếu không gặp phản ngâm thì xét là hòa hợp; nếu gặp phản ngâm thì xét theo xung khắc).

⑤ Mua bán bất động sản

  • Lấy Sinh môn làm nhà ở, Tử môn làm đất đai, Giá phù làm người mua hoặc người bán nhà.

  • Sinh, Tử nhị môn gặp Tam Kỳ, Cát cách: nhà cửa và đất đai tốt. Nếu chúng sinh cung Giá phù thì có lợi cho người mua, mua xong phát đạt. Nếu Sinh, Tử nhị môn không được Cát cách: nhà đất tầm thường hoặc kém. Nếu chúng sinh cung Giá phù thì có lợi cho người bán, bán xong phát đạt. Nếu hai bên hòa hợp thì chủ bình an.

  • Nếu Sinh, Tử nhị môn hưu tù vô lực, lại gặp Hung thần, Hung cách: nhà đất xấu. Nếu cung hai môn này khắc cung Giá phù thì chủ mua xong phá gia bại sản. Nếu Giá phù sinh cung hai môn này thì ắt vì nhà đất này mà phá sản, bất lợi.

  • Lại có thể lấy nhật can làm người mua hoặc người bán, lấy Sinh môn làm nhà cửa, lấy Tử môn làm đất đai, xem quan hệ sinh khắc giữa chúng.

  • Hoặc lấy nhật can làm người mua/bán, lấy thời can làm nhà cửa/đất đai, xem quan hệ sinh khắc.

⑥ Mở cửa hàng cầu tài

Dự đoán cho các loại hình kinh doanh tại chỗ như: trung tâm thương mại, cửa hàng, khách sạn, nhà hàng, nhà máy, v.v.

  • Lấy nhật can làm người cầu đoán, Khai môn làm ký hiệu của cửa hàng, mặt bằng, nhà máy, khách sạn đó.

  • Khai môn gặp vượng tướng khí, có Tam Kỳ, Cát tinh, Cát cách, Cát thần sinh cung nhật can: đại cát đại lợi.

  • Hòa hợp: thứ cát.

  • Nếu Khai môn nhập mộ, không vong hoặc phản ngâm: nếu chưa mở thì không mở được; nếu đã mở thì có thể đình chỉ sản xuất hoặc đóng cửa.

  • Cung Khai môn gặp Hung thần, Hung cách xung khắc cung nhật can: ắt hao tổn lỗ vốn.

  • Lại có thể lấy nhật can làm người cầu đoán, thời can làm cửa hàng, xem trạng thái vượng tướng hưu tù và quan hệ sinh khắc.

  • Hoặc lấy thời can làm khách hàng: nếu gặp Cát môn, Cát cách, Cát thần và vượng tướng khí, lại sinh trợ Khai môn thì khách đông; ngược lại thì khách ít.

⑦ Hợp tác làm ăn cầu tài

  • Lấy nhật can làm phía ta, thời can làm người hợp tác.

  • Thời can gặp Kỳ môn, Cát cách sinh cung nhật can: có lợi cho ta.

  • Cung nhật can sinh cung thời can: có lợi cho phía họ.

  • Nhật can và thời can hòa hợp: công bằng.

  • Cung thời can khắc cung nhật can: bất lợi cho ta.

  • Cung nhật can khắc cung thời can: bất lợi cho họ.

  • Đồng thời, nếu Sinh môn sinh ta thì tốt, khắc ta thì xấu.

  • Lại có thể lấy Địa bàn nhật can làm phía ta, Thiên bàn can ở trên làm người hợp tác.

  • Thiên bàn can sinh Địa bàn nhật can: lợi cho ta.

  • Địa bàn nhật can sinh Thiên bàn can: lợi cho họ.

  • Hòa hợp: công bằng.

  • Hai bên tương khắc thì không thành, hoặc thành cũng không thuận.

⑧ Vay mượn hoặc vay tiền

  • Giá phù làm chủ nợ hoặc ngân hàng, Giá sứ làm người vay.

  • Giá phù sinh Giá sứ, hoặc Giá sứ khắc Giá phù: có thể vay được.

  • Nếu Giá phù khắc Giá sứ, hoặc Giá sứ sinh Giá phù: vay không thành.

  • Giá phù hoặc Giá sứ có một bên không vong: cũng chủ vay không thành.

  • Lại có thể luận theo quan hệ sinh khắc giữa sao Thiên bàn và sao Địa bàn của phương cần đến: Thiên bàn là động, là khách, là người đi vay; Địa bàn là tĩnh, là chủ, là chủ nợ hoặc ngân hàng.

  • Địa bàn sinh Thiên bàn: ắt cho vay.

  • Hòa hợp: tuy chịu cho vay nhưng tất chậm trễ.

  • Tương khắc: chủ không cho vay, còn bị làm nhục.

  • Nếu can mà Thiên bàn lâm vào mộ khố của Địa bàn thì chủ nợ keo kiệt, không chịu cho vay.

  • Phương định đến vay nếu gặp không vong thì chủ nợ không có tiền hoặc người không có nhà, đến cũng vay không thành.

⑨ Cho vay

  • Giá phù làm ngân hàng, là người cho vay, Thiên Ất tinh làm người đi vay, Sinh môn làm lợi tức.

  • Giá phù khắc cung Thiên Ất: tốt.

  • Thiên Ất khắc cung Giá phù: xấu.

  • Thiên Ất sinh cung Giá phù: tốt.

  • Giá phù sinh cung Thiên Ất: xấu.

  • Sinh môn và Thiên Ất cùng khắc cung Giá phù: số tiền cho vay mất hết.

  • Sinh môn và Thiên Ất cùng sinh cung Giá phù: gốc lãi đều đòi được.

  • Sinh môn và Thiên Ất một sinh một khắc cung Giá phù: tiền cho vay không thể đòi hết hoặc bị chậm trả.

  • Nếu cung Thiên Ất hưu tù vô lực, dù có sinh cung Giá phù thì cũng không có khả năng trả, kết cục là không trả hết hoặc trả chậm.

⑩ Đòi nợ

  • Giá phù là người cho vay (chủ nợ), Thiên Ất tinh là con nợ, Thương môn là người đòi nợ.

  • Thương môn khắc Thiên Ất: người đòi nợ thực tâm đi đòi.

  • Thiên Ất khắc Thương môn: hai bên tranh chấp, không phục.

  • Thương môn và Thiên Ất cùng sinh Giá phù: gốc lãi đều đòi được.

  • Thương môn và Thiên Ất cùng khắc Giá phù: gốc lãi không trả.

  • Thương môn sinh Giá phù, khắc Thiên Ất: có thể đòi được.

  • Thương môn sinh Thiên Ất, khắc Giá phù: không đòi được.

  • Thiên Ất vượng tướng khắc Thương môn: tuy có khả năng nhưng không trả.

  • Thiên Ất hưu tù sinh Thương môn: tuy có ý trả nhưng không có khả năng, dù có trả cũng không hết.

  • Nếu Thiên Ất gặp Canh, Tân khắc Giá phù: ắt phải kiện tụng.

  • Nếu Giá phù khắc Thiên Ất gặp Đinh Kỳ hoặc Cảnh môn rơi cung Tốn (Tốn môn Đỗ - cơ quan chấp pháp): cũng chủ kiện tụng.

  • Giáp Tý Mậu gặp Khai môn rơi nội bàn: nợ trả nhanh.

  • Thiên Ất gặp Thiên Bồng hoặc Huyền Vũ, lại khắc cung Giá phù: con nợ cố tình không trả.

8. XUẤT HÀNH – ĐI LẠI

Khi dự đoán việc xuất hành, đi du lịch nước ngoài, v.v., thông thường lấy cung nhật can làm người xuất hành. Xem bạn định đi hướng nào. Hướng đó nếu có Cát cách, Cát môn, Cát thần, Cát tinh... sinh trợ cung nhật can thì việc đi lại thuận lợi. Nếu không có Cát cách, Cát môn, Cát thần, Cát tinh, nhưng cung Địa bàn của hướng đó hòa hợp với cung nhật can thì cũng có thể xuất hành. Nếu cung nhật can được Cát cách, Cát môn, Cát thần, Cát tinh và khắc cung của hướng định đi thì cũng có thể đi. Nếu hướng định đi có Cát cách, Cát môn, Cát thần, Cát tinh, nhưng lại khắc cung nhật can thì tuy có thể đi nhưng ắt sẽ có việc không thuận xảy ra. Nếu hướng định đi gặp Hung môn, Hung cách, Hung thần, lại xung khắc cung nhật can thì đại hung. Nếu hướng định đi là nơi thời can không vong hoặc là mộ của nhật can thì cũng không lợi. Nếu nhật can hoặc năm sinh bị hình, mộ, không vong ở cung hướng xuất hành thì cũng bất lợi. Đồng thời, cũng có thể xem quan hệ giữa nhật can và thời can để hỗ trợ phán đoán lợi hại cát hung của việc xuất hành.

Phàm xuất hành đi xe, lấy cung của Cảnh môn làm đường đi, lấy Thương môn làm xe. Gặp cách "Bạch nhập Huỳnh" (白入熒) hung dễ bị trộm cướp; gặp cách "Huỳnh nhập Bạch" (熒入白) hung thì có thể gặp hỏa hoạn; lâm Thiên Bồng, Huyền Vũ có thể bị mất cắp hoặc mất tiền của.

Xuất hành đi thuyền, lấy cung Hưu môn làm đường thủy, lấy Thương môn làm thuyền. Nếu gặp cách hung "Thanh Long đào tẩu" (青龍逃走) hoặc "Bạch Hổ cuồng xương" (白虎猖狂) thì có thể gặp bão tố; nếu gặp cách hung "Chu Tước đầu giang" (朱雀投江) hoặc "Đằng Xà kiểu kiêu" (螣蛇夭矯) thì có nguy cơ chìm thuyền.

Nếu đi máy bay, lấy cung Cửu Thiên làm đường bay, lấy Khai môn làm máy bay. Xem trạng thái lâm quan và cách cục của nó để định lợi hại cát hung.

Phàm dự đoán thời điểm xuất phát, thường trước hết xem nhật can và thời can. Nếu nhật can và thời can đều ở nội bàn thì thời gian đi gần; nếu cả hai đều ở ngoại bàn thì thời gian đi xa; một trong một ngoài cũng chủ thời gian đi xa. Thường lấy can mà Địa bàn của cung Khai môn lâm vào làm thời điểm xuất phát cụ thể.

Khi chưa lên đường mà dự đoán ngày trở về, thường lấy can Địa bàn mà cung nhật can của ngày xuất phát lâm vào làm ngày trở về.

Dự đoán người đi xa cát hung bên ngoài, thường dựa vào cung Dụng thần và năm sinh của họ, xem sao, môn, cung, thần lâm vào cùng cách cục tốt xấu, vượng suy để phán đoán.

Dự đoán ngày trở về của người đi xa, thường dựa vào Canh cách (庚格) để phán đoán.

  • Ngày âm: lấy can ở trên Canh làm ngày về.

  • Ngày dương: lấy can ở dưới Canh làm ngày về.

  • Gặp cách năm (năm cách): trong năm sẽ về.

  • Gặp cách tháng: trong tháng sẽ về.

  • Gặp cách ngày: trong ngày sẽ về.

  • Gặp cách giờ: trong giờ đó sẽ về.

  • Không gặp cách thì không về.

Thế nào là không cách? Ất và Canh hợp (乙庚合) không phải là cách; Canh kim nhập mộ hoặc không vong không phải là cách.

Kinh nghiệm cổ nhân còn có cách lấy Thiên Bồng tinh và Thiên Nhuế tinh làm ký hiệu đại diện cho người đi xa. Người đi xa cách xa ngàn dặm thì lấy Thiên Bồng làm Dụng thần; người đi xa trong vòng ngàn dặm thì lấy Thiên Nhuế làm Dụng thần. Nếu thời can lâm vào Thiên Bồng hoặc Thiên Nhuế thì có thể về, thời can chính là ngày về. Phục ngâm thì không về, phản ngâm thì về. Nếu Dụng thần lâm Tam Kỳ và Tam Cát môn (Khai, Hưu, Sinh), và Tam Kỳ Lục Nghi lại chính là can năm của người đi thì có thể về ngay. Nếu sao xấu, môn xấu lâm vào can năm của người đi thì ắt có trở ngại, không thể về.

9. HÀNH NHÂN TẨU THẤT (NGƯỜI ĐI MẤT)

Dự đoán người đi mất (lạc, bỏ nhà đi, mất tích...):

  • Nếu lập cục theo thời điểm mất tích, thường lấy nhật can làm Dụng thần.

  • Nếu lập cục theo thời điểm hỏi đoán, thường lấy quan hệ lục thân để chọn Dụng thần: cha mẹ hỏi con cái đi mất thì lấy thời can làm Dụng thần; hỏi người cùng lứa (anh chị em) đi mất thì lấy can tháng làm Dụng thần; hỏi người già đi mất thì lấy can năm làm Dụng thần. Đồng thời, đều có thể lấy năm sinh của người đó làm Dụng thần.

Người đi mất đã đi về hướng nào? Trong cổ thư Kỳ Môn Độn Giáp, thường lấy cung Lục Hợp đại diện cho hướng bỏ đi. Kinh nghiệm cho thấy, trong trường hợp thông thường, cung Lục Hợp là hướng bỏ đi ban đầu; cung Giá phù, cung Giá sứ ở giữa có thể là những nơi dừng chân; còn hướng cuối cùng tìm thấy hoặc chết thường là cung của Dụng thần (bao gồm năm sinh). Nếu người đi mất cố tình bỏ nhà ra đi (hoặc trốn thoát), thì cung Đỗ môn (Đỗ môn có nghĩa là lẩn tránh) là hướng trốn. Nếu Cửu tinh hoặc Bát môn phản ngâm, hoặc cung Dụng thần gặp không vong, thì cung đối xứng với cung Dụng thần có thể là hướng đi mất.

Lại dựa vào nội bàn, ngoại bàn để phân xa gần:

  • Dương Độn: Dụng thần rơi cung 1, 8, 3, 4 là nội bàn (gần); rơi cung 9, 2, 7, 6 là ngoại bàn (xa).

  • Âm Độn: Dụng thần rơi cung 9, 2, 7, 6 là nội bàn (gần); rơi cung 1, 8, 3, 4 là ngoại bàn (xa).

Sự an nguy cát hung của người đi mất ở bên ngoài chủ yếu dựa vào cách cục cung Dụng thần để phán đoán:

  • Nếu Dụng thần vượng tướng, lại lâm Tam Kỳ, Cát môn, Cát cách, Cát thần, Cát tinh thì bình an vô sự.

  • Nếu cung Dụng thần được can năm, can tháng, nhật can hoặc thời can sinh trợ thì có người giúp đỡ.

  • Nếu Dụng thần hưu tù vô lực, lại gặp sao xấu, thần xấu, môn xấu, cách xấu, hoặc nhập mộ, không vong, lục nghi kích hình thì không tốt hoặc đại hung.

Người đi mất có thể tìm thấy hoặc tự về không?

  • Thường nếu nhật can và thời can cùng cung, hoặc thời can sinh nhật can thì dễ tìm thấy hoặc sẽ tự về.

  • Nếu nhật can sinh thời can, nhật can khắc thời can, hoặc thời can khắc nhật can thì khó về.

  • Dụng thần vượng tướng, lại lâm bốn môn Khai, Hưu, Sinh, Đỗ thì khó tìm thấy.

  • Dụng thần hưu tù, lại lâm bốn môn Thương, Cảnh, Tử, Kinh thì có thể có tin tức, có thể tìm thấy hoặc tự về.

  • Dụng thần gặp Cửu Địa, Thái Âm: có thể có người giấu giếm.

  • Gặp Cửu Thiên: xa bay cao chạy.

  • Gặp Huyền Vũ: bị lừa gạt.

  • Gặp Đằng Xà: có người tra hỏi, giam giữ.

  • Gặp Bạch Hổ: đề phòng bị thương hình.

  • Gặp Giá phù, Lục Hợp: ở ngoài bình an vô sự.

  • Ngoài ra: cục phục ngâm thì người khó về; cục phản ngâm thì người ắt về.

Ngày trở về của người đi mất: có thể dùng Dụng thần và Giá phù để định ngày ứng nghiệm.

  • Nếu gặp tuần không, lấy ngày lấp đầy (giá trị) hoặc xung thực (xung không) làm ngày về.

  • Nếu gặp xung (lục xung), lấy Lục Hợp làm ngày về.

  • Nếu gặp hợp (lục hợp), lấy xung làm ngày về.

  • Lại có thể dùng Canh cách để định ngày về: gặp năm cách thì về trong năm, tháng cách về trong tháng, ngày cách về trong ngày, giờ cách về trong giờ đó; ngày âm xem can trên Canh, ngày dương xem can dưới Canh làm ngày về.

  • Hoặc xem thời can: thời can lâm sao âm thì lấy can trên Canh làm ngày về; thời can lâm sao dương thì lấy can dưới Canh làm ngày về.

  • Cũng có thể xem Mã tinh (sao Mã): thời điểm Mã tinh động hoặc bị xung động là ngày về.

10. THẤT VẬT BỊ ĐẠO (MẤT ĐỒ – BỊ TRỘM)

Dự đoán mất tiền bạc đồ đạc:

  • Lấy cung nhật can làm chủ nhân bị mất.

  • Lấy cung thời can làm đồ bị mất.

  • Nếu nhật can và thời can cùng cung: không mất, có thể tìm thấy.

  • Nếu cung thời can gặp vượng tướng khí sinh cung nhật can: cũng có thể tìm lại được.

  • Phản ngâm cũng chủ có thể tìm lại.

  • Ngược lại thì khó tìm.

  • Thời can rơi vào không vong, mộ, tuyệt: cũng chủ khó tìm.

Phân biệt nơi mất:

  • Nhật can và thời can cùng ở nội bàn: đồ mất ở trong nhà hoặc gần.

  • Cùng ở ngoại bàn: đồ mất ở bên ngoài hoặc xa.

  • Nhật can ở nội, thời can ở ngoại: đồ mất ở bên ngoài.

  • Thời can ở nội, nhật can ở ngoại: đồ mất ở trong nhà.

Phân biện bị trộm hay tự quên:

  • Nếu thời can lâm Huyền Vũ: có thể bị trộm hoặc tự quên.

  • Nếu cung thời can bị cung Huyền Vũ hoặc cung Thiên Bồng khắc: thì có thể bị đánh cắp.

  • Huyền Vũ gặp sao dương: do đàn ông làm; gặp sao âm: do đàn bà làm.

  • Huyền Vũ vượng tướng có khí: thanh niên tráng niên; hưu tù vô lực: người già.

Thời gian tìm lại được đồ mất:

  • Thường lấy ngày giờ thời can sinh nhật can làm ngày ứng nghiệm.

  • Hoặc theo Canh cách: can âm tìm trên Canh, can dương tìm dưới Canh.

  • Đồ vào kho (nhập mộ): lấy ngày giờ xung ra làm ngày ứng nghiệm.

  • Tuần không: lấy ngày giờ lấp đầy (giá trị) làm ngày ứng nghiệm.

11. HÌNH SỰ ÁN KIỆN (Hình sự án kiện)

Tội phạm hình sự bao gồm trộm cắp, cướp, lưu manh, giết người cũng như tham nhũng, hối lộ và các tội phạm kinh tế khác. Trong dự đoán Kỳ Môn Độn Giáp:

  • Đối với trộm cắp tài sản thông thường, lưu manh cưỡng hiếp, tội phạm kinh tế nhẹ, thường lấy Huyền Vũ làm Dụng thần.

  • Đối với cướp giết người, giết người do tình dục, tham nhũng hối lộ nghiêm trọng, thường lấy Thiên Bồng tinh làm Dụng thần.

  • Đồng thời, Giáp Ngọ Tân là người có tội. Phàm là người có lỗi hoặc phạm tội, đều có thể đồng thời lấy Giáp Ngọ Tân làm Dụng thần để hỗ trợ phán đoán.

Đặc điểm của tội phạm: Thường dựa vào trạng thái vượng suy của cung Dụng thần, kết hợp với sao, môn, thần, Tam Kỳ, Lục Nghi lâm vào để phán đoán nghề nghiệp, ngoại hình, chiều cao, tính cách, v.v.

  • Thiên Bồng tinh, Huyền Vũ thần lâm Canh: phần nhiều là kẻ phạm tội già đời, xảo quyệt, cực kỳ nguy hiểm.

  • Lâm Tân: phần nhiều là tội phạm tái phạm hoặc đã từng bị cải tạo lao động, giam giữ.

  • Lâm Nhâm, Quý: phần nhiều là tội phạm đang trốn chạy bên ngoài.

Thủ đoạn và công cụ gây án:

  • Thiên Bồng tinh, Huyền Vũ thần lâm Thương môn hoặc Thương môn sinh Thiên Bồng, Huyền Vũ: phần nhiều dùng xe cộ.

  • Lâm Cảnh môn hoặc Cảnh môn sinh Thiên Bồng, Huyền Vũ: phần nhiều dùng súng ống, hỏa khí.

  • Lâm Canh, Tân hoặc Canh, Tân sinh Thiên Bồng, Huyền Vũ: phần nhiều dùng dao nhọn, dao găm và các khí giới bằng kim loại khác.

  • Lâm cung Tốn hoặc Đằng Xà: thường dùng dây thừng siết cổ hoặc dùng tay bóp cổ gây chết người.

  • Lâm Giáp, Ất hoặc Thương, Đỗ nhị môn: cũng có thể dùng gậy gỗ hoặc dụng cụ bằng gỗ đánh người bị thương hoặc gây tử vong.

Phân loại địa điểm, đối tượng:

  • Sao, môn phục ngâm hoặc Dụng thần rơi nội bàn: có thể là người địa phương hoặc nội bộ đơn vị gây án.

  • Sao, môn phản ngâm hoặc Dụng thần rơi ngoại bàn: có thể là người ngoại tỉnh, đơn vị ngoài hoặc tội phạm lưu manh, côn đồ đến gây án lần nữa.

Hướng tẩu thoát và ẩn náu của tội phạm: Thường lấy Lục Hợp làm kẻ trốn tránh, lấy cung Đỗ môn làm hướng ẩn náu. Dựa vào nội bàn, ngoại bàn và số cung của Đỗ môn để phán đoán khoảng cách xa gần.

Đối với thi thể vô danh: Thường lấy Tử môn đại diện cho thi thể vô danh.

  • Tử môn lâm Giáp Tý Mậu: có thể bị giết vì tiền tài.

  • Lâm Ất, Canh, Đinh, Nhâm hoặc Đào hoa: phần nhiều bị giết vì tình dục.

  • Gặp Thái Âm, Lục Hợp: phần nhiều bị giết vì việc tình cảm mờ ám, riêng tư.

Khả năng phá án: Thường lấy Thương mônBạch Hổ, Canh trong Lục Nghi và Giá sứ môn làm người của công an bắt giữ tội phạm.

  • Nếu cung của công an bắt giữ tội phạm rơi vào vượng tướng, xung khắc cung của tội phạm thì chắc chắn phá được án.

  • Ngược lại thì khó phá hoặc không thể phá.

  • Sao, môn phục ngâm thì khó phá; phản ngâm thì có thể phá được án hoặc khi tội phạm tái phạm sẽ phá được.

  • Đồng thời, nếu có Canh cách, tức Canh lâm dưới năm, tháng, ngày, giờ thì có thể phá; không có cách thì không phá hoặc khó phá.

  • Ngoài ra, nếu Đỗ môn gặp Canh, Tân, Nhâm, Quý, hoặc Thiên bàn Lục Nghi khắc Địa bàn Lục Nghi, hoặc Địa bàn Lục Nghi sinh Thiên bàn Lục Nghi, thì thường cũng có thể phá được án.

Thời gian phá án: Thường dựa vào Canh cách để phán đoán.

  • Canh lâm can năm: thường trong năm sẽ phá án.

  • Canh lâm can tháng: trong tháng sẽ phá.

  • Canh lâm can ngày: trong ngày sẽ phá.

  • Canh lâm can giờ: trong giờ đó hoặc trong thời gian rất ngắn sẽ phá được án.

  • Nếu trong một cục đồng thời xuất hiện hai Canh cách thì chắc chắn phá được án và thời gian rất nhanh.

  • Thời gian phá án cụ thể: có thể kết hợp với cách xem ngày dương lấy can dưới Canh, ngày âm lấy can trên Canh; hoặc thời can lâm sao dương xem can dưới Canh, thời can lâm sao âm xem can trên Canh.

  • Cũng có thể phán đoán theo tuần không xuất không, Mã tinh xung động, cung Giá sứ rơi vào, v.v.

Ngoài ra, trong cổ thư Kỳ Môn Độn Giáp còn có kinh nghiệm: "Tử môn gia Nhâm, chủ tụng nhân tự tụng" (Tử môn gặp Nhâm, chủ người kiện tự kiện) và Nhâm lâm cung Khôn thì phạm nhân ra đầu thú. Cũng có thể tham khảo.

12. QUAN TƯ – TỐ TỤNG (Quan tư tố tụng)

Phàm dự đoán kiện tụng, thường lấy:

  • Giá phù làm nguyên cáo.

  • Thiên Ất làm bị cáo.

  • Khai môn làm quan tòa (pháp quan).

  • Lục Hợp làm nhân chứng và chứng cứ.

  • Cảnh môn làm đơn kiện.

  • Đinh Kỳ làm trát đòi (giấy triệu tập).

  • Kinh môn làm luật sư.

  • Nếu cung Giá phù vượng tướng có khí, lại gặp Cát môn, Cát tinh, Cát cách, khắc cung Thiên Ất thì nguyên cáo thắng.

  • Nếu cung Thiên Ất vượng tướng có khí, lại gặp Cát môn, Cát tinh, Cát cách, khắc cung Giá phù thì bị cáo thắng.

  • Nếu hai cung hòa hợp thì có thể hòa giải.

  • Nếu Giá phù sinh Thiên Ất: có thể nguyên cáo chủ động cầu hòa.

  • Nếu Thiên Ất sinh Giá phù: có thể bị cáo chủ động cầu hòa.

  • Khai môn rơi cung vừa khắc Giá phù vừa khắc Thiên Ất: quan tòa liêm minh, vô tư, xét xử công bằng.

  • Khai môn sinh Giá phù: quan tòa thiên vị nguyên cáo.

  • Khai môn sinh Thiên Ất: quan tòa thiên vị bị cáo.

  • Nếu Khai môn nhập mộ: quan tòa mơ hồ, xét xử không rõ, không minh bạch.

  • Khai môn rơi không vong: không xét xử, không thụ lý.

  • Cục phản ngâm: cần thay quan tòa xét xử.

Đơn kiện có được quan tòa thụ lý không? Lấy Cảnh môn làm Dụng thần, đại diện cho đơn kiện.

  • Nếu cung Cảnh môn vượng tướng, lại được Tam Kỳ, Cát cách, không bị cung Khai môn xung khắc thì chắc chắn sẽ được thụ lý.

  • Nếu bị cung Khai môn xung khắc thì không được thụ lý.

  • Nếu cung Cảnh môn không vong, lại gặp Huyền Vũ hoặc Đằng Xà thì chủ sự việc thưa kiện không đúng sự thật.

  • Nếu cung Lục Hợp không vong thì chứng cứ không đầy đủ.

Dự đoán có bị kết án hay không?

  • Lấy Giáp Ngọ Tân làm người có tội.

  • Lấy Nhâm làm Thiên Lao (tù trời), Quý làm Địa Võng (lưới đất).

  • Nếu Giáp Ngọ Tân lâm Nhâm, Quý thì ắt có tù ngục tai ương.

  • Nếu lâm Tam Kỳ, đặc biệt là Đinh Kỳ thì có thể được tha bổng.

  • Kết hợp với quan hệ sinh khắc với cung Khai môn để tổng hợp phán đoán.

Nếu bản thân tội phạm hoặc người thân dự đoán, có thể lấy nhật can hoặc theo quan hệ lục thân để lấy Dụng thần; lấy Tân làm Thiên Ngục, Nhâm làm Địa Lao, Quý làm Địa Võng.

  • Nếu cung Dụng thần lâm dưới Tân: chủ bị giam cầm.

  • Lâm Nhâm, Quý: chủ lầm vào Thiên La Địa Võng, đợi đến ngày bị xung phá thì có thể ra.

  • Nếu Thiên bàn Nhâm, Quý lâm dưới Địa bàn Tân: là Võng La cái đầu, chủ thời gian bị giam cầm lâu dài.

  • Nếu cung Dụng thần rơi không vong: sẽ không bị giam cầm.

13. THỂ THAO CẠNH TRANH (Thể thao thi đấu)

Dự đoán thi đấu thể thao:

  • Giá phù làm trọng tài.

  • Nhật can hoặc thời can làm vận động viên.

  • Nếu thi đấu giữa đội chủ nhà và đội khách, cần phân biệt chủ khách:

    • Địa bàn thời can làm đội chủ nhà.

    • Thiên bàn thời can làm đội khách.

  • Dựa vào trạng thái vượng tướng hưu tù, cách cục tốt xấu, quan hệ sinh khắc của cung chúng để xác định thắng thua.

  • Đồng thời, lấy Canh làm khí giới (dụng cụ thi đấu), lấy Tân làm huy chương vàng, lấy Cảnh môn làm chỉ đạo kỹ thuật. Tổng hợp phán đoán thắng bại, được mất.

14. QUÂN SỰ - THỜI CUỘC (Quân sự phong vân)

Kỳ Môn Độn Giáp thời cổ đại chủ yếu được dùng để dự đoán quân sự. Nó bắt nguồn từ quân sự, dùng vào chiến tranh, nhưng trong cổ thư không có ví dụ thực tế, chỉ để lại một số kinh nghiệm dự đoán.

Trong Kỳ Môn Độn Giáp, lấy Lục Giáp làm nguyên soái và chủ tướng, ẩn núp dưới Lục Nghi. Mà Lục Giáp sợ nhất là Lục Canh đến khắc (Canh kim khắc Giáp mộc, Canh là thất sát của Giáp). Vì vậy, người xưa lấy cặp mâu thuẫn Giáp và Canh để đại diện cho hai bên chiến tranh. Thông thường:

  • Giá phù lâm cung làm chủ (bên chủ nhà/đội chủ)

  • Lục Canh lâm cung làm khách (bên khách/đội khách)

Nếu cung Giá phù khắc cung Lục Canh thì chủ thắng, ngược lại thì khách thắng. Lại xét theo trạng thái vượng tướng hưu tù: bên nào vượng tướng thì thắng, hưu tù thì thua.

Phàm trong chiến tranh, dùng trận thế, lấy Cảnh môn và Kinh môn làm chủ. Kinh rằng: "Cảnh môn thích hợp phá trận". Và phép trị loạn, phải xem Kinh môn. Vì vậy:

  • Nếu cung chủ được Cảnh, Kinh nhị môn, hoặc Cảnh, Kinh nhị môn lâm cung sinh trợ cung Giá phù thì chủ thắng.

  • Ngược lại thì khách thắng.

  • Nếu chủ và khách đều vượng tướng, đều được hai môn, không hình khắc lẫn nhau, thế lực ngang nhau thì hai bên sợ hãi, không đánh mà lui.

  • Nếu Lục Canh là Giá phù, tức chủ và khách cùng cung, hai bên không phân thắng bại.

  • Nếu chủ và khách tương sinh, hai bên có thể giảng hòa.

  • Lại có, nhật can gia Canh thì chủ thắng; Canh gia nhật can thì khách thắng. Cũng có thể lấy nhật can làm phe ta, thời can làm phe địch để hỗ trợ phán đoán thắng thua.

Dự đoán tin tức tình báo quân sự: lấy Cảnh môn làm Dụng thần. Cảnh môn lâm cung vượng tướng được Kỳ là tin thật, không được Kỳ là tin giả, không vong hưu tù là lời đồn thổi.

Dự đoán kế hoạch tác chiến và bố trí: lấy Giá phù làm cấp trên, Khai môn làm quan chỉ huy, Canh làm kẻ địch.

  • Nếu Khai môn bị Canh và Giá phù khắc chế, lại hưu tù nhập mộ mà không có sao tốt trợ giúp, thì biểu thị kế hoạch bố trí không đúng, tổn thất nặng nề, sẽ bị cấp trên phê bình hỏi tội.

  • Nếu Giá phù sinh Khai môn, và lại khắc Canh, thì biểu thị kế hoạch bố trí thích đáng, chiến thắng vang dội, sẽ được cấp trên khen thưởng và thăng chức.

Dự đoán địch có đến hay không: lấy Lục Canh làm Dụng thần.

  • Lục Canh rơi vào nội tứ cung (cung 1, 8, 3, 4 trong Dương Độn) thì địch sẽ đến.

  • Rơi vào ngoại tứ cung (cung 9, 2, 7, 6) thì địch không đến.

  • Lại có "Thái Bạch nhập Huỳnh" (太白入熒) chủ địch sẽ đến; "Huỳnh nhập Thái Bạch" (熒入太白) chủ giặc sẽ đi.

  • Nếu giặc đã vào thành, xem Lục Canh ở nội tứ cung thì không đi; ở ngoại tứ cung thì đi.

  • Nếu cung Lục Canh bị địa bàn khắc, biểu thị giặc đóng trại không vững, tự kinh động mà lui.

  • Nếu Lục Canh khắc cung nó rơi vào, lại gặp Huyền Vũ, Thiên Bồng hoặc Bạch Hổ, thì ắt có đại chiến. Gặp Cửu Thiên thì ra oai, hò hét, đánh trống tiến lên. Gặp Cửu Địa thì sẽ hạ cờ im trống, lén lút đến.

  • Can dưới Canh chính là thời gian địch đến hoặc đi.

Dự đoán công thành: lấy Lục Canh làm bên công thành, lấy Thiên Cầm tinh làm bên thủ thành.

  • Nếu Lục Canh gặp sao vượng tướng, được Khai môn gia vào Trung cung 5, thì thành ắt bị phá.

  • Lại, cung mà Địa bàn Thiên Cầm tinh nương tựa, nếu được vượng tướng và Cát môn, thì tướng thủ thành có thể bị bắt sống; ngược lại, tướng thủ thành ắt chết.

Dự đoán thủ thành: lấy Thiên Cầm tinh làm bên thủ thành, lấy Thiên Bồng tinh và Lục Canh làm bên công thành.

  • Nếu cung Thiên Cầm tinh được các môn Hưu, Sinh, Đỗ, Cảnh, lại vượng tướng, có Lục Bính, thì thành không bị phá.

  • Nếu không có Cát môn và vượng tướng, lại phạm vào Khai môn, Thiên Bồng tinh gặp Lục Canh gia vào Trung cung, thì không giữ được.

Dự đoán phái (chọn tướng) ai là thích hợp: Từ các tướng lĩnh, tìm ra người có can năm sinh bị Khai môn xung, đó chính là người nên phái đi.

15. PHONG THỦY – ĐỊA LÝ (Phong thủy địa lý)

Dự đoán hoàn cảnh địa lý:

  • Lấy nhật can làm người.

  • Lấy thời can làm nhà ở.

  • Nếu thời can lâm Tam Kỳ, Cát môn, Cát tinh, Cát thần, Cát cách, gặp vượng tướng khí sinh nhật can, thì là nhà ở tốt nhất, hoàn cảnh cư trú này có lợi nhất cho con người.

  • Nếu thời can không lâm Tam Kỳ, Cát môn, nhưng lâm Cát tinh, Cát thần, Cát cách gặp vượng tướng khí sinh cung nhật can, thì cũng là nhà ở khá tốt.

  • Nếu cung thời can có cả tốt lẫn xấu, thì là nhà ở bình thường.

  • Nếu thời can lâm Hung môn, Hung tinh, Hung thần, Hung cách, lại khắc cung nhật can, thì tự nhiên là nhà đại hung.

Cát hung cụ thể, lại phân tích theo quan hệ sinh khắc của sao, môn, cung.

Đoán dương trạch (nhà ở):

  • Lấy Sinh môn làm nhà cửa.

  • Lấy Tử môn làm đất nền (móng nhà).

  • Dựa vào trạng thái vượng tướng hưu tù và quan hệ sinh khắc với nhật can để phán đoán ưu khuyết.

  • Lấy Giá phù làm nhà mới, Giá sứ làm nhà cũ.

Đoán âm trạch (mộ phần):

  • Lấy Tử môn làm Dụng thần.

  • Địa bàn cung Tử môn đại diện cho người chết, Thiên bàn đại diện cho người sống.

  • Nếu được Cát thần, Cát tinh, lại được Tam Kỳ, Thiên bàn và Địa bàn tương sinh thì tốt cho người sống.

  • Nếu gặp Hung thần, Hung tinh, không được Kỳ, Thiên bàn và Địa bàn tương khắc thì xấu.

  • Thiên bàn khắc Địa bàn: bất lợi cho người chết.

  • Địa bàn khắc Thiên bàn: bất lợi cho người sống.

  • Ngoài ra, Tử môn rơi vào cung Khôn (2), Trung (5), Cấn (8), Ly (9) là tốt; rơi vào cung Càn (6), Đoài (7) là thứ tốt; rơi vào cung Khảm (1), Chấn (3), Tốn (4) là không tốt.

16. CƠ HỘI ĐỜI NGƯỜI (Nhân sinh cơ ngộ)

Dự đoán vận mệnh cuộc đời, có thể phân tích dựa trên cách cục Kỳ Môn Độn Giáp của thời gian sinh.

  • Lấy cung nhật can đại diện cho bản thân.

  • Trong gia đình: lấy can năm làm cha mẹ, can tháng làm anh chị em, thời can làm con cái.

  • Trong xã hội: lấy Cửu tinh làm thiên thời, Bát môn làm nhân sự, Cửu cung làm địa lý, Bát thần làm lực lượng tự nhiên.

  • Kết hợp với thời lệnh và cung rơi để phân tích trạng thái vượng tướng hưu tù, kết hợp cách cục để phân tích cơ hội tốt xấu, thông qua ngũ hành sinh khắc chế hóa để phân tích cát hung họa phúc.

Dự đoán cơ hội gần đây và mức độ vận trình của một người, có thể phân tích qua cách cục Kỳ Môn Độn Giáp tại thời điểm hỏi, lấy nhật can làm bản thân, kết hợp cung năm sinh để tổng hợp phán đoán. Cũng có thể kết hợp phương vị cung của người đến để hỗ trợ.

Trong sách «Kỳ Môn Độn Giáp Bí Táp Đại Toàn» có chép thiên dự đoán vận mệnh con người, nay xin trích dẫn như sau:

Phép này trước hết cần hiểu "Đới cửu lý nhất" (đội 9 đạp 1), tìm kỹ "tiếp khí siêu thần". Tám môn phối hợp chín cung, chín cung phải có Tam Kỳ. Năm, tháng, ngày, giờ cần vượng tướng, tám môn chín cung phải suy xét.

  • Cung Ly (9) đại diện cho đầu, mặt.

  • Cung Càn (6) và Cấn (8) đại diện cho hai bàn chân.

  • Vai, tai thuộc cung Khôn (2) và Tốn (4).

  • Chấn (3) và Đoài (7) đại diện cho ngực, sườn.

  • Cung Khảm (1) đại diện cho thận, bộ phận sinh dục.

  • Cung Trung (5) đại diện cho tim, bụng.

  • Can năm là cha mẹ.

  • Can tháng là anh chị em.

  • Nhật can là bản thân.

  • Thời can là con cái.

  • Suy về vợ, xem cung Ất và Đinh.

  • Hỏi về chồng, xem cung Canh và Bính.

Cần xét kỹ cường nhược, mới quyết được vinh khô. Vượng tướng được Kỳ thì giàu sang; tử tù mộ tuyệt thì rất nghèo hèn.

Cách cục phải phân nặng nhẹ, vận mệnh nghiệm sự được mất. Chưa bày cục, trước xem cô, hư, vượng, tướng; mở miệng ắt biện thiên địa thừa thời.

  • Thái Bạch (Canh) vào Càn, Khôn: cha mẹ chết sớm.

  • Nếu lâm cung huynh đệ: anh em thành kẻ thù.

  • Nhật kỳ bị hình (Nhật kỳ bị hình phạt), Trang Sinh thở dài (điển tích Trang Tử); thời can gặp thì Đặng Thông không con (điển tích Đặng Thông).

  • Sinh môn là điền sản, cần được Tam Kỳ. Thành bại phân ở nội ngoại, sinh khắc quyết được mất.

  • Sinh môn gặp Thái Bạch bị xung hãm: kẻ ly hương bỏ tổ.

  • Bị xung khắc: bán hết vườn cũ của ông cha.

  • Thân (nhật can) ở ngoại, sinh môn ở nội: ắt chuyển nhà mà phát phú.

  • Thân ở nội, sinh môn ở ngoại: dù có gia sản cũng khó giữ.

  • Thân và sinh môn đều ở nội: an hưởng phúc lộc, hầu hạ.

  • Thân và sinh môn đều ở ngoại: người lập nghiệp phương xa.

  • Nhật gặp cô, thời gặp hư: tuổi trẻ không nương tựa.

  • Thời rơi cô, nhật rơi hư: tuổi già cô độc.

  • Mệnh bị xung khắc: ăn xin nơi đường xá.

  • Nhật lâm mộ, tuyệt: khó giãn đôi mày sầu.

  • Tài, quan sinh vượng: bởi vì "Phi điểu điệt huyệt" (飛鳥跌穴 – chim bay rơi tổ).

  • Áo đầu độc lập: ắt được "Thanh Long phản thủ" (青龍返首 – Thanh Long quay đầu).

  • Thiên Phụ vượng tướng được Kỳ môn: văn hay, đỗ đạt cao.

  • Thiên Xung vượng tướng được Kỳ Nghi: uy chấn biên cương.

  • Thiên Cầm trấn giữ Trung cung, được Kỳ môn: làm đầu bách quan.

  • Thiên Anh (hữu bật) hợp Cát cách: đỉnh nại nguyên huân (công lao to lớn).

  • Thiên Trụ hợp thức: người can gián thẳng thắn.

  • Thiên Tâm nhập viên: thuốc hay, y giỏi.

  • Thiên Nhâm làm tả phụ: chức tư nông.

  • Thiên Nhuế không được đắc địa, gặp Kỳ môn: hạng Tào Tháo, Đổng Trác.

  • Thiên Bồng trấn giữ Bắc viên, được Kỳ môn: kẻ làm phản vua.

  • Khai môn có Kỳ: ắt là chức văn.

  • Thương môn đắc lệnh: chắc là quan võ.

  • Sinh môn được Kỳ: Thạch Sùng giàu có.

  • Cảnh môn hợp cục: đỏ rực văn minh.

  • Kinh môn nhập thức: người biện luận.

  • Hưu môn hợp Kỳ: lễ tân trưởng.

  • Đỗ môn đắc địa: quân cảnh bảo mật.

  • Tử môn được Kỳ: chức tư hình.

Phân bố Bát môn, sao, kỳ, thần, nghi. Hợp cục thì hào phú hào quý; thất cục thì hạ đẳng bình dân.

  • Khai môn, Thiên Tâm đều là Kim: hơi có khí thì làm bói toán, y, bói sao; nếu gặp tử tù thì làm thợ thủ công vất vả.

  • Hưu môn, Thiên Bồng cùng là Thủy: hơi có khí thì làm lính, lại, thơ lại; gặp tử tù thì lính tráng, kẻ trộm cướp.

  • Sinh môn, Thiên Nhâm là Thổ tinh: được đất thì ruộng vườn giàu đủ; nếu thất thời thì làm thợ cày cấy vất vả.

  • Thương môn, Thiên Xung đều là Mộc: hơi có khí thì làm thủ lĩnh binh lính; gặp tử hưu thì chạy chợ, hầu hạ ngựa.

  • Đỗ môn, Thiên Phụ cũng là Mộc: hơi có khí thì có uy danh hiển hách; toàn thất cục thì làm luyện kim, lao lực.

  • Tử môn, Thiên Nhuế đều là Thổ: hơi có khí thì làm gia trưởng họ Triệu, họ Ngụy; gặp mộ không thì cô cùng.

  • Kinh môn, Thiên Trụ cùng thuộc Kim: hơi có khí thì làm mộ tân, giáo thụ; nếu thất lệnh thì làm đồng bóng, phù thủy.

Phân biệt Bát môn vượng tướng, lại luận Cửu tinh.

  • Thiên Bồng thừa thời: tướng biên cương; thất địa lợi: lính tráng, kẻ trộm.

  • Thiên Nhâm đắc địa: giàu ruộng vườn, ngựa, tôi tớ; bị khắc: người làm vườn, cày cấy vất vả.

  • Thiên Xung có khí: quý nhân võ; trái thời: người đi thuyền, chạy xe, giang hồ.

  • Thiên Phụ là sao Văn Xương: được khí thì văn nhã, làm quan; thất địa lợi: sư sãi, thầy đồ, thợ vẽ.

  • Thiên Anh (hỏa) chủ Nam Ly: cầm quyền ắt chủ văn minh; trái thời: tham lam, bạo ngược, hôn ám.

  • Thiên Nhuế vốn là sao đen: được thiên thời thì tính ác, bá đạo; thất thiên thời thì kẻ chăn nuôi, thợ mộc thường.

  • Thất Xích Thiên Trụ trấn Tây viên: có khí thì biện luận tài tình; bị xung khắc thì kỹ nữ, nhạc công.

  • Thiên Tâm vốn là Lục Bạch: đắc địa thì tài hoa trụ cột quốc gia; nếu không mộ thì tìm kiếm trong hàng cửu lưu.

  • Thanh Long phản thủ: áo đầu độc chiếm.

  • Phi điểu điệt huyệt: giàu sang thành danh.

  • Thanh Long chuyển quang: huyện lệnh, thái thú.

  • Mậu gia Đinh Kỳ: phú quý vinh hoa.

  • Bạch Hổ cuồng xương: kẻ hung ngoan.

  • Thanh Long đào tẩu: người nhu nhược, lại chủ thành bại vì vợ, mà lưng gù, người còng.

  • Chu Tước đầu giang: thư lại cầm bút.

  • Đằng Xà kiểu kiêu: kẻ lòng độc.

  • Thất thời thì mù lòa, điếc tai; thừa khí thì lửa cháy bị thương.

  • Thái Bạch nhập Huỳnh: tiến thì trước nghèo sau giàu.

  • Huỳnh nhập Thái Bạch: thoái thì gia nghiệp tiêu điều.

  • Canh gia Mậu, Mậu gia Canh: nhiều thành nhiều bại, đất này không bằng đất khác.

  • Phi can, phục can: người này chẳng bằng người kia.

  • Thái Bạch đồng cung: anh em đánh nhau như sấm.

  • Thái Bạch gặp sao (tức sao gặp Thái Bạch): vợ thường xuyên ốm đau.

  • Sao gặp Thái Bạch: cửa nội có tiếng xấu.

  • Đại cách: lênh đênh bốn biển.

  • Tiểu cách: tạm thời thanh bần.

Năm, tháng, ngày, giờ bốn cách. Từ lục thân mà suy ra, xem là cung nào nghiệm, rồi suy ra sự ngang trái, vô lễ, đối đãi; suy ra cha mẹ anh em vợ con hiền hay không, có thể biết rõ.

  • Tân là Thiên Ngục, Nhâm là Địa Lao, chủ phẩm chất thấp kém, lại chủ uất ức khó giải bày.

  • Quý là Thiên Võng, cần xem cao thấp: cao thì hóa thành Hoa Cái, có thể suy ra cách quý; thấp thì Thiên Võng quấn thân, cô độc nghèo hèn.

  • Vả lại, kỵ Ngọc Nữ thủ môn (玉女守門), vợ đi theo người.

  • Ất, Đinh là vợ con, xem ai thân ai sơ. Ất kỳ nhập mộ, vợ không sinh con; Đinh và Ất cùng cung, nối dõi, thân thiết.

  • Ất ở trên, vợ chính hòa thuận; Đinh ở trên Ất, vợ lẽ được chồng yêu.

Các cách kỵ cung rơi không vong, tốt thì giảm bớt tốt, xấu thì càng xấu. Nếu lâm mộ, tuyệt, thì dân cùng khốn không nơi kêu ca.

Tám môn suy ra, sợ nhất là phản ngâm, phục ngâm cũng là hung thần. Ngũ hành phối hợp lẽ này, lấy Dụng thần ở trong một tấm lòng. Ta không nói hết, chỉ mong người ứng dụng tự ngộ ra.

17. GẶP NGƯỜI ĐI ĐƯỜNG KẾT BẠN, TỐT XẤU (Lộ ngộ hành nhân kết bạn thiện ác)

Lấy cung nhật can đại diện cho mình, cung thời can đại diện cho người gặp trên đường. Xem trên thời can có sao Cửu tinh nào, dựa vào cát hung của Cửu tinh để quyết định thiện ác, dựa vào trạng thái vượng tướng hưu tù của ngũ hành để định cát hung.

18. MỜI KHÁCH CÓ ĐẾN KHÔNG (Thỉnh khách lai phủ)

  • Giá phù đại diện cho khách.

  • Thiên Ất tinh đại diện cho chủ nhà.

  • Quan hệ sinh khắc ngũ hành quyết định đến hay không.

  • Cung Giá phù khắc cung Thiên Ất: không đến.

  • Cung Thiên Ất sinh cung Giá phù: cũng không đến.

  • Cung Giá phù sinh cung Thiên Ất: sẽ đến.

  • Cung Thiên Ất khắc cung Giá phù: sẽ đến.

19. KẾT BẠN – TỐT XẤU (Giao hữu thiện ác)

  • Nhật can đại diện cho mình.

  • Thời can đại diện cho bạn bè.

  • Cửu tinh và cách cục trên thời can quyết định bạn bè tốt xấu.

  • Quan hệ sinh khắc ngũ hành quyết định thời gian giao tiếp dài hay ngắn và mức độ.

  • Nếu thời can sinh nhật can: anh ấy giúp ta nhiều hơn.

  • Nếu nhật can sinh thời can: ta giúp anh ấy nhiều hơn.

  • Nếu nhật can khắc thời can: có thể kết bạn, nhưng có mâu thuẫn.

  • Nếu thời can khắc nhật can: tuyệt đối không nên kết bạn, nếu không, người khác ắt bị nó hại.

20. THUẾ VỤ – HƯNG SUY (Thuế vụ hưng suy)

  • Sinh môn đại diện cho thuế khóa.

  • Nhật can đại diện cho người thu thuế.

  • Khai môn đại diện cho quan thuế.

  • Mỗi bên dựa vào ngũ hành sinh khắc, vượng tướng hưu tù để quyết định.

21. NƯỚC GIẾNG – HƯNG SUY (Tỉnh tuyền hưng suy)

Khoản này ngày nay không còn thực dụng lắm, nhưng ở vùng nông thôn rộng lớn của Trung Quốc vẫn còn đào giếng lấy nước uống.

  • Hưu môn đại diện cho nước suối (mạch nước).

  • Tử môn đại diện cho cái giếng.

  • Hưu môn và Tử môn ngũ hành tương sinh: nước mạnh.

  • Tương khắc: nước yếu.

22. ĐÁNH BẮT CÁ (Bổ ngư)

Khoản này thời cổ chỉ những người dân chài sống bằng nghề này; thời hiện đại ngoài biển cũng có dân chài, ngoài ra còn có hành vi câu cá thư giãn của cá nhân.

  • Thương môn đại diện cho người đánh cá.

  • Giáp Dần Quý đại diện cho lưới (hoặc cần câu).

  • Dùng ngũ hành sinh khắc để luận được mất.

  • Dùng vượng tướng hưu tù để luận nhiều ít.

  • Nếu Giáp Dần Quý lâm cung khắc Thương môn lâm cung (theo ngũ hành) thì được nhiều.

  • Không khắc thì được ít.

23. THĂM BẠN (Phỏng hữu)

  • Địa bàn của phương định đến đại diện cho chủ nhà (người bạn định thăm).

  • Thiên bàn tinh đại diện cho khách (bản thân).

  • Nếu Thiên bàn và Địa bàn tương sinh hoặc tương hợp, hoặc có Tam Kỳ và Cát môn, thì đến ắt gặp.

  • Nếu môn xấu hoặc Thiên bàn và Địa bàn tương khắc thì không gặp được bạn.

  • Trong bàn Kỳ Môn Độn Giáp nếu xuất hiện Canh dưới lâm năm, tháng, ngày, giờ (tức niên cách, nguyệt cách, nhật cách, thời cách) thì cũng báo hiệu không thể gặp được người bạn định thăm.

24. TRỒNG TRỌT (Chủng thực)

Khoản này chỉ có ích cho nông dân.

  • Nếu Giá sứ gia lâm Thiên Bồng tinh: nên trồng lúa, kê, đậu đen.

  • Giá sứ gia lâm Thiên Anh tinh: nên trồng đậu đỏ, lúa mì.

  • Giá sứ gia lâm Thiên XungThiên Phụ: nên trồng dưa quả, ngũ cốc.

  • Giá sứ gia lâm Thiên NhâmThiên CầmThiên Nhuế: nên trồng vừng, đậu tương.

  • Giá sứ gia lâm Thiên TâmThiên Trụ: nên trồng đại mạch, kiều mạch, cao lương.

25. TUỔI THỌ (Thọ mệnh)

Đây là kinh nghiệm cổ thư, việc liệt kê ở đây không có nhiều ý nghĩa, chỉ để thưởng ngoạn. Người xưa lấy chín mươi làm chuẩn, mỗi cung đại diện cho mười năm. Xem khoảng cách giữa cung Thiên Xung tinh và cung Tử môn để định số tuổi. Dương Độn đếm thuận, Âm Độn đếm nghịch. Gặp ngũ hành vượng tướng thì cả đời ít tai họa, ngược lại thì cả đời thường gặp trắc trở.