LUẬN VỀ SINH TỬ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

LUẬN VỀ SINH TỬ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP

Trong một bàn Kỳ Môn, sao, môn, cung đều có sinh tử thuận nghịch. Nguyên lý của nó liên quan đến sự vận hành của khí trong Đạo gia. Đạo gia nói: Thuận thì phàm, nghịch thì tiên, chỉ ở chỗ đảo điên giữa trời đất. Thuận là con đường của tử, nghịch là con đường của sinh. Thuận là thuận theo tự nhiên, từ sinh ra đến chết đi. Nghịch là đoạt lấy sự tạo hóa của trời đất, trở về nguồn cội.

Khi chúng ta quay vào nhìn bên trong, không lệch không nghiêng, thì Huyền quan hiện ra. Huyền quan chính là Trung cung. Một khi Huyền quan hiện ra, thì chân khí tiên thiên được sinh ra. Thuận hành thì sinh người, nghịch hành thì thành tiên.

  • Sinh người là: Đạo → trẻ → già → chết → không.

  • Nghịch hành là: Tinh → khí → thần → hư → đạo.

Xét bàn cục Kỳ Môn (lấy Dương Độn 1 cục làm ví dụ)

Trước hết nói về Trung cung. Trung cung không phải thực sự có một nơi nào, mà là cái hình nhi thượng (siêu hình), chủ yếu thể hiện ở Mậu, Kỷ thổ.

  • Mậu là thổ tiên thiên, nơi giao hợp của Càn và Khôn. Khi Càn và Khôn giao hợp, sinh ra âm dương nhị khí. Dương khí nghịch hành, âm khí thuận hành.

Ví dụ:

  • Giờ Giáp Tý: Mậu là tuần thủ ở cung Khảm, âm dương chưa phân, sao và môn cùng cung.

  • Giờ Ất Sửu: Dương khí nghịch hành đến cung 9 (Ly), âm khí thuận hành đến cung 2 (Khôn).

  • Giờ Bính Dần: Dương khí nghịch hành đến cung 8 (Cấn), âm khí thuận hành đến cung 3 (Chấn).

  • Giờ Đinh Mão: Dương khí nghịch hành đến cung 7 (Đoài), âm khí thuận hành đến cung 4 (Tốn).

  • Giờ Mậu Thìn: Dương khí đã già, phục tại bản cung.

  • Giờ Kỷ Tỵ: Chuyển sang âm khí, thuận hành đến cung 2 (Khôn).

Đó là đạo lý âm dương đồng bộ. Hiểu được lý này thì sẽ nắm được đạo lý sinh tử, cũng nắm được đạo lý tuần du (chu du).

Chú thích: Phàm nơi Tam Kỳ (Ất, Bính, Đinh) tọa trên Địa bàn đều là nơi sinh khí. Cung Mậu ở chưa phân sinh tử, xem nguyệt lệnh để đoán suy vượng. Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý đều là nơi tử khí.


Ý TƯỢNG BỆNH TẬT TRONG KỲ MÔN

Bát môn thường đại diện cho trạng thái bệnh tật của người được dự đoán.

  • Hưu Môn: Đại diện cho hành vi của người được dự đoán: lười biếng, mệt mỏi, ủ rũ. Đại diện cho bệnh tật đang trong giai đoạn phục hồi, trạng thái điều dưỡng, hoặc ngủ đông tiềm phục, hoặc trạng thái ngừng lại.

  • Sinh Môn: Đại diện cho hành vi: tràn đầy sức sống, khỏe khoắn, đầy năng lượng. Đại diện cho bệnh tật đang ở trạng thái hoạt động, trạng thái phát triển.

  • Thương Môn: Đại diện cho hành vi: quyết đoán, chủ động tấn công, làm việc nhanh nhẹn. Đại diện cho bệnh tật đang ở trạng thái tổn hại, tiêu hao, cản trở.

  • Đỗ Môn: Đại diện cho hành vi: suy nghĩ trước rồi mới làm, thận trọng, chu đáo. Đại diện cho bệnh tật đang ở trạng thái ẩn giấu, tắc nghẽn, tính chất không rõ ràng, không thông suốt.

  • Cảnh Môn: Đại diện cho hành vi: hư ảo, nóng nảy, cấp bách. Đại diện cho bệnh tật đang ở trạng thái hoạt động mạnh, sốt nóng, bỏng.

  • Tử Môn: Đại diện cho hành vi: trầm tĩnh, cứng nhắc, không linh hoạt. Đại diện cho bệnh tật đang ở trạng thái mất chức năng, chuyển biến tính chất.

  • Kinh Môn: Đại diện cho hành vi: gây chấn động, ăn nói xuất sắc, giọng nói vang dội. Đại diện cho bệnh tật đang ở trạng thái đau từng cơn, co giật, lan tỏa tê buốt trướng ho, suyễn, v.v.

  • Khai Môn: Đại diện cho hành vi: tính tình cởi mở, tư tưởng phóng khoáng, tích cực tiến thủ. Đại diện cho bệnh tật đang ở trạng thái tính chất rõ ràng, dễ dàng phán đoán.