Nguyên Lý Trí Nhuận (置潤) trong Kỳ Môn Độn Giáp

Nguyên Lý Trí Nhuận (置潤) trong Kỳ Môn Độn Giáp

Vấn đề dùng cục (trí nhuận) trong Kỳ Môn Độn Giáp từ xưa đến nay vẫn luôn là chủ đề tranh luận trong giới học thuật. Nhưng vì sao phải trí nhuận, và cổ nhân dựa vào lý luận nào để trí nhuận, suốt nghìn năm qua chưa ai có thể nói rõ. Trước khi thảo luận về vấn đề lập thức của cổ nhân, trước hết cần giới thiệu sơ lược về phép Trí Nhuận.

Dưới đây là phần giới thiệu về phép Trí Nhuận trong một cuốn sách Kỳ Môn, xin tham khảo để có sự hiểu biết sâu sắc về các khái niệm như Siêu Thần, Tiếp Khí, Chiết Bổ trong Trí Nhuận, sau đó chúng ta sẽ thảo luận về cơ sở khoa học của phép Trí Nhuận.

Số cục của các cục Âm Độn và Dương Độn được xác định theo tiết khí, nhưng khi định cục, không phải cứng nhắc sắp xếp theo tiết khí, mà còn phải dựa vào can chi của ngày. Vậy cụ thể dựa vào can chi của ngày để định cục như thế nào?

I. Quy luật của Thiên Can và Địa Chi trong ngày

Trước hết nói về thiên can của ngày. Bởi vì mỗi năm ngày là một cục, ngày đầu tiên của mỗi cục nhất định phải là can Giáp hoặc Kỷ. Giáp là can đầu tiên trong thập thiên can, khi định cục bắt đầu từ Giáp, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu vừa đủ năm ngày, là một cục; cục tiếp theo bắt đầu từ Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý lại là năm ngày, đến năm ngày tiếp theo lại bắt đầu từ Giáp.

Tiếp theo nói về địa chi của ngày. Địa chi của ba nguyên (thượng, trung, hạ) mỗi tiết khí cũng có quy luật. Trước khi trình bày quy luật này, chúng ta cần nói về vấn đề Mạnh, Trọng, Quý của thập nhị địa chi.

Chúng ta biết có mười hai địa chi, và các tháng trong năm cũng là mười hai, vì vậy mỗi địa chi phối với một tháng, gọi là nguyệt kiến. Tháng giáp kiến Dần, tháng hai đến tháng mười hai lần lượt kiến Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu. Nếu chúng ta chia mười hai địa chi theo bốn mùa, ba tháng là một mùa. Đó là Dần, Mão, Thìn là mùa xuân, những tháng khác suy luận tương tự. Ba tháng mỗi mùa, tháng đầu gọi là “Mạnh”, tháng giữa gọi là “Trọng”, tháng cuối gọi là “Quý”. Vậy:

  • Dần, Thân, Tỵ, Hợi là Tứ Mạnh

  • Tý, Ngọ, Mão, Dậu là Tứ Trọng

  • Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Tứ Quý

Bây giờ bàn về quy luật địa chi của ngày đầu tiên mỗi nguyên (thượng, trung, hạ) trong mỗi tiết khí khi sắp xếp cục trong Kỳ Môn. Bất kể tiết khí nào:

  • Địa chi của ngày đầu thượng nguyên thuộc một trong Tứ Trọng, không ngoài Tý, Ngọ, Mão, Dậu;

  • Địa chi của ngày đầu trung nguyên thuộc một trong Tứ Mạnh, không ngoài Dần, Thân, Tỵ, Hợi;

  • Địa chi của ngày đầu hạ nguyên thuộc một trong Tứ Quý, không ngoài Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Tổng hợp hai điểm trên, quy luật thiên can địa chi của ngày đầu mỗi nguyên trong mỗi tiết khí là:

 
 
NguyênTổ hợp can chi ngày đầu có thể
Thượng nguyênGiáp Tý, Giáp Ngọ, Kỷ Mão, Kỷ Dậu
Trung nguyênGiáp Thân, Giáp Dần, Kỷ Tỵ, Kỷ Hợi
Hạ nguyênGiáp Tuất, Giáp Thìn, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi

Vì vậy, để phán đoán một ngày thuộc cục nào, cần xem ngày đó thuộc tiết khí nào.

Xét trên phạm vi lớn, từ Đông Chí đến Mang Chủng, mười hai tiết khí này là Dương Độn, từ Hạ Chí đến Đại Tuyết, mười hai tiết khí này là Âm Độn. Xét trên phạm vi nhỏ, sau khi xác định ngày đó thuộc Âm Độn hay Dương Độn, sẽ xem ngày đó thuộc nguyên nào của tiết khí nào, từ đó biết ngày đó thuộc cục nào.

II. Phù Đầu, Siêu Thần, Tiếp Khí và Chính Thụ

Thượng nguyên của một tiết khí không phải bắt đầu từ ngày giao tiết khí đó. Ngày đầu của thượng nguyên có khi nằm trước tiết khí, có khi nằm sau, chỉ trong một số trường hợp cá biệt mới trùng với ngày giao tiết. Ngày đầu của thượng nguyên được gọi là “Phù Đầu”.

  • Siêu Thần (siêu việt thần sát): Phù Đầu đến trước nhưng tiết khí chưa tới (Phù Đầu ở trước tiết khí).

  • Tiếp Khí (tiếp nhận khí): Phù Đầu chưa đến nhưng tiết khí đã tới (Phù Đầu ở sau tiết khí).

  • Chính Thụ (chính thức thừa nhận): Phù Đầu và tiết khí cùng đến.

Khi “Siêu Thần” bắt đầu, Phù Đầu chỉ vượt trước tiết khí một hai ngày, sau đó dần dần vượt nhiều hơn, đến khi vượt quá chín ngày thì phải đặt nhuận (trí nhuận), nghĩa là lặp lại một tiết khí, tức là lặp lại ba nguyên (thượng, trung, hạ) của một tiết khí nào đó một lần nữa.

Ví dụ đặt nhuận tại tiết Mang Chủng, ba nguyên thượng, trung, hạ của Mang Chủng là Dương Độn cục 6, 3, 9; tức là sau khi kết thúc hạ nguyên của Mang Chủng (cục 9 Dương Độn), tiếp theo ngày cuối cùng (ngày thứ năm của hạ nguyên Mang Chủng), theo thứ tự ngày sắp xếp tiếp, lại bố trí Dương Độn cục 6, 3, 9, sau đó mới bắt đầu thượng nguyên của Hạ Chí (Âm Độn cục 9). Ba nguyên được đặt nhuận gọi là “Nhuận Kỳ”.

Cần lưu ý, không phải tiết khí nào cũng tiến hành trí nhuận, thực tế chỉ đặt nhuận ở hai tiết khí này là Mang Chủng và Đại Tuyết. Nếu không nằm trong phạm vi hai tiết khí này, dù vượt quá mười ngày cũng không thể đặt nhuận.

Tại sao phải đặt nhuận ở hai tiết khí này? Bởi vì hai tiết khí này nằm ngay trước Nhị Chí (Đông Chí, Hạ Chí). Dương Độn bắt đầu từ Đông Chí, Âm Độn bắt đầu từ Hạ Chí, đặt nhuận ở các tiết khí trước Nhị Chí nhằm điều chỉnh Phù Đầu trước khi bắt đầu Dương Độn và Âm Độn, khiến Phù Đầu và tiết khí gần khớp với nhau, không vượt quá nhiều.

Đọc bài viết trên, tin rằng mọi người đã phần nào hiểu về phép Trí Nhuận trong Kỳ Môn. Điều chúng ta muốn thảo luận ở đây là: căn cứ học thuật của Trí Nhuận là gì? Cổ nhân dựa vào cơ sở nào để xây dựng phương pháp này?

Bài ca “Siêu Tiếp Trí Nhuận” viết: “Nhuận kỳ nhuận kỳ có diệu quyết, thần tiên chẳng chịu phân minh nói… Siêu thần tiếp khí nếu có thể sáng tỏ, ắt là khách ngoài mây trời.” Đối với phép Trí Nhuận trong Kỳ Môn, các học giả qua các đời chỉ biết nó là như vậy, chứ không biết tại sao lại như vậy. Cho đến nay chưa có cuốn sách Kỳ Môn nào thảo luận về nguyên lý lập thức của nó, đều chỉ nói về phương pháp mà chưa nghiên cứu lý do.

Bản thân tôi tuy bất tài, nhưng dám là người đầu tiên, sau thời gian nghiên cứu lâu dài, tổng kết nhiều lần, nay xin công bố một chút tâm đắc của mình, mong được cùng quý vị đồng đạo thảo luận.

III. Nguyên lý lập thức của phép Trí Nhuận

Phép Trí Nhuận được sáng tạo dựa trên cơ sở nào? Để làm rõ ý chỉ lập thức của cổ nhân, trước hết phải hiểu về một số cấu thành quan trọng và cơ chế vận hành của Kỳ Môn.

  1. Ý nghĩa của 60 Giáp Tý trong Kỳ Môn

Như chúng ta đã biết, cổ nhân dùng can chi để ghi năm, tháng, ngày, giờ, lấy thiên can biểu thị quy luật vận động của thiên thể, địa chi biểu thị trái đất vận động theo thiên thể, sinh ra những liên hệ tác động tương ứng. Như vậy, 60 Giáp Tý tuần hoàn một vòng là một chu kỳ biến hóa của trời đất.

Kỳ Môn thời gian lấy 5 ngày làm một chu kỳ nhỏ (1 nguyên), 60 Giáp Tý tuần hoàn một vòng, như vậy trong 15 ngày 60 Giáp Tý tuần hoàn ba chu kỳ (tam nguyên), tạo thành một chu kỳ lớn. Chu kỳ lớn này gần bằng độ dài thời gian của mỗi tiết khí trong 24 tiết khí. Lại lấy ba chu kỳ 15 ngày, tức chín chu kỳ Giáp Tý, ba tiểu nguyên làm một đại nguyên Giáp Tý.

  1. Ý nghĩa của 24 Tiết Khí

Thiên can địa chỉ thể hiện quỹ đạo vận động của vũ trụ trong mối liên hệ giữa thiên thể và trái đất. Còn 24 tiết khí thể hiện mối quan hệ ảnh hưởng giữa trái đất và mặt trời. Nó được hình thành do cổ nhân chia vị trí của trái đất trên quỹ đạo quanh mặt trời thành 24 phần bằng nhau, dựa trên biểu hiện vật hậu khác nhau trong mỗi phần, dùng để chỉ đạo sản xuất và đời sống.

Mỗi tiết khí được chia thành ba hậu, 5 ngày một hậu, một năm 24 tiết khí chia thành 72 hậu. Trong mỗi tiết hậu, hiện tượng vật lý trên trái đất sẽ có biểu hiện khác nhau. Ví dụ, tam hậu của tiết Lập Thu lần lượt là “Lương phong chí (gió mát đến), Bạch sương giáng (sương trắng giáng), Hàn thiên minh (ve kêu rét)”.

  1. Ý nghĩa của “Độn Giáp”

(Nội dung dưới đây xin độc giả đọc kỹ, đừng xem qua loa.)

Kỳ Môn thời gian lấy chu kỳ 60 Giáp Tý làm một hệ trường khí lớn của vũ trụ, lấy 24 tiết khí làm một hệ trường khí nhỏ của trái đất. Cổ nhân để vạch ra mối quan hệ ảnh hưởng giữa hệ lớn và hệ nhỏ này – tức là quy luật diễn biến của dòng khí trên trái đất, đã đặc biệt chế ra một bộ mô hình thời – không vũ trụ khoa học, hợp lý, chặt chẽ. Đó là phản ánh quy luật ảnh hưởng của chu kỳ 60 Giáp Tý trên trái đất.

Vì sự biến đổi của dòng khí trên trái đất không chỉ chịu ảnh hưởng của hệ lớn 60 Giáp Tý, mà còn chịu ảnh hưởng của hệ nhỏ vật hậu 24 tiết khí. Do đó, cổ nhân đã phân bố 60 Giáp Tý trên trái đất (Cửu cung Lạc Thư) với phương pháp khác nhau (số cục) tùy theo tiết khí khác nhau.

Cổ nhân dùng Cửu cung Lạc Thư phân bố 24 tiết khí theo quy luật âm tiêu dương trưởng. Căn cứ vào số Cửu cung Lạc Thư tương ứng với tiết khí, quyết định điểm khởi đầu của 60 Giáp Tý khi lưu hành phân bố trên trái đất. Ví dụ:

Đông Chí tương ứng với cung Khảm số 1, Đông Chí nhất dương sinh, thì đem Giáp Tý bắt đầu từ cung Khảm 1 (tức là Dương Độn cục 1) mà thuận sắp xếp.

Như vậy Ất Sửu đến cung 2, Bính Dần đến cung 3, Đinh Mão đến cung 4… Sắp xếp hết 60 Giáp Tý, đến vòng Giáp Tý tiếp theo, thì Giáp Tý sắp đến cung 7, lúc này là Dương Độn cục 7.

Lại lần lượt thuận sắp xếp… Đến vòng Giáp Tý khác, Giáp Tý ở cung 4, tức là Dương Độn cục 4, theo pháp trên thuận sắp xếp… Sắp xếp hết tam nguyên Giáp Tý.

Đến vòng Giáp Tý thứ tư (tức chu kỳ tam nguyên thứ hai), lại rơi vào cung 1, nhưng do nguyên nhân biến hóa âm tiêu dương trưởng trên trái đất, lúc này tiết khí đã ở khoảng Tiểu Hàn. Sau Đông Chí là âm tiêu dương trưởng, lúc này phải tiến một bậc, vì vậy chu kỳ lớn tam nguyên thứ hai phải bắt đầu từ cung 2 (Dương Độn cục 2) thuận sắp xếp, như vậy đệ nhị nguyên Giáp Tý ở cung 8 (Dương Độn cục 8), đệ tam nguyên Giáp Tý ở trung cung 5 (Dương Độn cục 5).

Sau khi sắp xếp xong tam nguyên, Giáp Tý lại ở cung 2, do dương khí dần trưởng, lúc này tiết khí đã ở khoảng Đại Hàn, lại phải tiến một bậc, nên bắt đầu từ cung 3 sắp xếp chu kỳ đại nguyên tam nguyên thứ ba. Như vậy đệ nhất nguyên Giáp Tý ở cung 3 (Dương Độn cục 3), đệ nhị nguyên Giáp Tý ở cung 9 (Dương Độn cục 9), đệ tam nguyên Giáp Tý ở cung 6 (Dương Độn cục 6).

Đến lúc Quý Hợi kết thúc, điểm khởi đầu của Giáp Tý đã sắp xếp qua các cung từ 1 đến 9 của Lạc Thư. Lúc này, vị trí của vòng Giáp Tý tiếp theo phải sắp xếp theo quy luật khác, vì lúc này tiết khí đã đến khoảng Lập Xuân, tiết khí tương ứng với “cung 8” Lạc Thư, do đó Giáp Tý lại phải lấy cung 8 Lạc Thư làm điểm khởi đầu, theo pháp trên thuận diễn, tiến hành một vòng diễn biến mới… Ở đây không bàn thêm, độc giả có thể tự thực hành theo lệ, tự sẽ hiểu rõ.

Do phương pháp sắp xếp 60 Giáp Tý trong Cửu cung này khó nhớ, khi thực tế vận dụng khó có thể trực quan thấy được. Vì vậy cổ nhân căn cứ mỗi Giáp Tý chia làm lục tuần, đem lục giáp tuần đầu phân biệt tương ứng với Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý (nguyên lý và phương pháp cụ thể đã được luận chi tiết trong bài “Tam thức áo bí đại phá dịch chi nhị – Độn Giáp chi khởi nguyên yết mật” của tôi, xin độc giả tham khảo). Như vậy đã phản ánh một cách đơn giản mối quan hệ vị trí phức tạp khi 60 Giáp Tý phân bố trong Cửu cung thông qua vị trí của lục nghi Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý cùng với tam kỳ Ất, Bính, Đinh trong Cửu cung. Đây chính là ý nghĩa thực sự của “Độn Giáp”. Mà “Giáp” này là “60 Giáp Tý”, không chỉ đơn thuần là “Giáp” trong thập thiên can. Từ xưa đến nay, thực sự chưa có ai làm sáng tỏ ý chỉ cổ nhân này.

IV. Bản chất và căn cứ của Trí Nhuận

Sau khi hiểu rõ ba điểm trên, việc giải mã dụng ý “trí nhuận” của cổ nhân trở nên đơn giản hơn nhiều.

Do chu kỳ quay của trái đất quanh mặt trời (một năm) khoảng 365 và 1/4 ngày, phân bổ như vậy, mỗi tiết khí không phải chính xác 15 ngày tròn, mà có nhiều có ít. Như vậy sẽ xảy ra vấn đề chu kỳ lưu hành của 60 Giáp Tý không thể trùng khớp với chu kỳ của 24 tiết khí. Nghĩa là không phải lúc thiên đạo đi đến Giáp, Kỷ nhật, giờ Giáp Tý thì tiết lệnh trên trái đất vừa lúc giao tiếp. Mà sẽ có sự chênh lệch vài giờ, vài ngày, thậm chí nhiều ngày.

Vậy vấn đề này cần giải quyết như thế nào?

Bởi vì dụng ý lập thức của “Độn Giáp” là phản ánh tình hình phân bố lưu hành của chu kỳ vũ trụ 60 Giáp Tý trên trái đất ở các thời kỳ tiết khí khác nhau. Tiết khí chỉ là điểm khởi đầu để phân bố 60 Giáp Tý. Hệ thống can chi (ảnh hưởng toàn bộ thiên thể) là quy luật lớn, còn hệ thống tiết khí (ảnh hưởng mặt trời) là quy luật nhỏ. Quy luật nhỏ phải tuân theo và bị chi phối bởi quy luật lớn.

Trên thực tế, biểu hiện của 24 tiết khí 72 vật hậu trên trái đất cũng không hoàn toàn khớp chặt chẽ với thời điểm giao tiết. Lấy ví dụ biểu hiện vật hậu “Lương phong chí” trong Lập Thu đã nêu ở trên, thực tế không nhất thiết đúng ngày Lập Thu thì gió mát đến, mà có thể xuất hiện sớm vài ngày, cũng có thể muộn vài ngày, và mỗi năm khác nhau. Đây chính là bí ẩn của “trí nhuận”.

Kỳ Môn lấy biểu hiện vận khí can chi làm bản chỉ, khi lưu hành trên trái đất (Cửu cung Lạc Thư) ở các thời kỳ tiết khí khác nhau, tuy chưa chắc khớp với tiết khí, nhưng trong việc xác định điểm khởi đầu phân bố trên trái đất của mỗi chu kỳ Giáp Tý, đều dựa vào tiết khí gần nhất với chu kỳ can chi này để xác định. Nói cách khác, số cục sử dụng trong Kỳ Môn được quyết định bởi chu kỳ tương ứng giữa vũ trụ và trái đất tại thời điểm giờ Giáp Tý trước hoặc sau khi giao tiết khởi đầu tương ứng với mỗi cung trong Cửu cung Bát quái.

Đối với hai tiết khí còn lại tương ứng với mỗi cung, quy luật diễn hóa cục vẫn tuân theo quy luật của tiết khí khởi đầu mỗi cung, phối hợp với quy luật âm dương tiêu trưởng để diễn hóa. Ba tiết khí tương ứng với mỗi cung của Cửu cung Lạc Thư là một chu kỳ lớn, trong chu kỳ này, sự diễn hóa của can chi đều tuân theo quy luật âm dương, tiêu trưởng một cách có trật tự. Tiết khí chỉ quyết định điểm khởi đầu diễn hóa của can chi, không thể thay đổi, phá vỡ, đảo lộn quy luật diễn hóa của hệ lớn 60 Giáp Tý.

Hệ thống Giáp Tý và hệ thống tiết khí, một kinh một vĩ, mối quan hệ tác động lẫn nhau phản ánh sự phân bố lưu hành biến hóa của dòng khí trên trái đất, ảnh hưởng của thiên thể và mặt trời đến vật hậu, nhân sự. Cổ nhân lấy can chi làm chủ đạo, để điều chỉnh sự sớm muộn của ảnh hưởng thực tế của tiết khí, đây chính là căn cứ hợp lý của phép “trí nhuận” trong Kỳ Môn.

Phép này không chỉ liên kết thống nhất hai hệ thống can chi và tiết khí, mà còn khiến cho sự khác biệt về thời gian tương ứng của biểu hiện vật hậu thực tế của 72 hậu trong 24 tiết khí được giải thích, cải tiến hợp lý, làm cho nó hợp lý hóa. Đồng thời làm cho tiết khí theo can chi mà sớm hoặc muộn, phù hợp với biểu hiện vật hậu. Chúng ta không thể không thán phục trí tuệ của người xưa!

Đối với việc trong trí nhuận, lặp lại hai tiết khí Mang Chủng và Đại Tuyết, thực chất đây là để làm cho hai hệ thống có thể điều hòa thống nhất, làm cho hệ thống can chi tương ứng với hệ thống tiết khí gần nhất, đây cũng là nhằm giữ cho quy luật vận động của trái đất và quy luật vận động của thiên thể được hài hòa thống nhất. Điều này giống như “nhuận nguyệt” trong lịch pháp, tuy thêm một tháng âm lịch, nhưng tháng thêm này, quy luật sóc vọng của nó vẫn hoàn toàn giống các tháng khác, không có gì khác biệt, từ đó khiến cho lịch pháp âm dương có thể giữ được sự điều hòa thống nhất.

Có người cho rằng phép trí nhuận lặp lại một tiết khí là không phù hợp với hiện tượng thiên văn thực tế và quy luật quay của trái đất, quan điểm này thuần túy là cạn nghĩ.

V. So sánh giữa phép Trí Nhuận và phép Chiết Bổ

Khác với phép Trí Nhuận là thay đổi sự luân chuyển của tiết khí theo ảnh hưởng của can chi (sớm hoặc muộn), phép Chiết Bổ do hậu nhân sáng tạo lại là thay đổi điểm bắt đầu và kết thúc chu kỳ của hệ thống can chi theo sự luân chuyển của tiết khí.

Đối với hệ thống can chi, điểm khác biệt lớn nhất giữa phép Trí Nhuận và phép Chiết Bổ là:

  • Trí Nhuận: nhất luật lấy giờ Giáp Tý làm điểm khởi đầu của chu kỳ tuần hoàn.

  • Chiết Bổ: điểm khởi đầu chu kỳ không nhất quán, khác nhau tùy theo thời điểm giao tiết.

Vậy phép Chiết Bổ có phù hợp với lẽ tự nhiên hay không? Tuy phép Chiết Bổ làm thay đổi điểm khởi đầu của hệ thống 60 Giáp Tý, nhưng không làm thay đổi, vi phạm quy luật diễn hóa của hệ thống Giáp Tý. Mọi người có thể kiểm chứng bằng cách sắp xếp cục theo phép Chiết Bổ cho cùng một thời điểm trước và sau giao tiết, thấy rằng số cục trước và sau giao tiết, mối quan hệ vị trí của thời can chi trong Cửu cung vẫn tuân theo quy luật biến hóa âm dương, thuận nghịch, tiêu trưởng.

Ví dụ trong Âm Độn, trước giao tiết là cục 6, thì sau giao tiết nhất định là cục 5; trước giao tiết thời can chi ở cung 4, sau giao tiết thời can chi nhất định ở cung 3. Chiết Bổ pháp định cục, số cục và thời can chi trước sau giao tiết nhất định tăng 1 hoặc giảm 1 tùy theo Âm Độn hay Dương Độn. (Do giới hạn dung lượng, xin độc giả tự diễn bố.)

Khác với phép Trí Nhuận, phép Chiết Bổ lấy điểm thời gian giao tiết (thường chia một canh giờ làm hai cục) làm điểm tăng trưởng của âm dương tiêu trưởng. Chiết Bổ là xác định điểm khởi đầu của chu kỳ can chi theo điểm giao tiết.

Phương pháp này xét về mặt lý luận có vẻ phù hợp với khoa học hơn, nhưng thực tế biểu hiện tương ứng của các năm, khu vực, vị trí trên trái đất với 24 tiết khí 72 hậu là khác nhau. Ở những năm, khu vực phù hợp với biểu hiện 72 hậu, dùng Chiết Bổ pháp quả thực chính xác hợp với quy luật “khí vận” thực tế. Nếu năm đó, địa phương đó tiết khí vật hậu không phù hợp với thời gian tương ứng, thì tính cơ giới, cứng nhắc của Chiết Bổ pháp bộc lộ. Bởi vì vốn dĩ sự biến hóa của “khí” trong tiết khí khí hậu là dần dần dịch chuyển, quá độ chậm rãi, không có sự thay đổi cực kỳ rõ rệt. Vì vậy, một số năm, một số khu vực, tuy tiết khí đã thay đổi, nhưng trước và sau giao tiết không có sự khác thường rõ rệt về vật hậu tương ứng.

Vì vậy, Trí Nhuận pháp là phương pháp giữ cho hai hệ thống lớn nhỏ can chi và tiết khí thống nhất, có thể áp dụng cho mọi nơi, nó dùng hệ thống can chi để điều chỉnh sự khác biệt giữa biểu hiện vật hậu thực tế hàng năm của trái đất và tiết khí, khiến nó cố gắng phù hợp với thực tế, trong đó chứa đựng chân lý. Do đó, các bậc tiền hiền Kỳ Môn qua các đời đều lấy Trí Nhuận pháp để định cục, và rất coi trọng, việc hiểu rõ và nắm vững cách dùng chính xác của Trí Nhuận cũng là mấu chốt quan trọng khi nghiên cứu Kỳ Môn.

Còn “Trí Nhuận pháp” (tức Chiết Bổ pháp) lại lấy tiết khí chế ước chu kỳ can chi, dùng hệ thống nhỏ để khống chế, ràng buộc hệ thống lớn, có tính hạn chế nhất định. Dùng Chiết Bổ pháp, tính chính xác, hợp lý của nó phải tùy thời, tùy nơi mà khác. Có thể ở một số năm, khu vực chính xác hợp độ, nhưng ở một số năm, khu vực khác thì sai một ly đi một dặm.

Ngày nay, người ta dùng vài chục hoặc vài chục thực lệ để chứng minh tính “khoa học” của Chiết Bổ pháp, rõ ràng là thiếu chặt chẽ, chưa nghiên cứu được nguồn gốc, thực sự là hành động lấy bộ phận suy rộng toàn thể. Và bất kể Chiết Bổ có hợp lý, khả thi hay không, điều đó không thể phủ nhận tính khoa học, xác thực của Trí Nhuận.

VI. Kết luận

Do giới hạn dung lượng, vấn đề “trí nhuận” trong Kỳ Môn Độn Giáp tạm trình bày đến đây. Để trình bày chi tiết hơn, sau này tôi dự định viết chuyên luận “Tam thức bản nguyên chi Độn Giáp chân bí” để thảo luận sâu hơn, độc giả hữu duyên sẽ có thể biết thêm nhiều nguyên lý và pháp quyết của Kỳ Môn.

Những điều trên chỉ là ý kiến chủ quan của tôi, mong có thể ném gạch ngọc, tập trung trí tuệ, để cùng nhau khám phá nhiều vấn đề huyền nghi trong tam thức và dịch học.

Đến đây, đối với những vấn đề còn nhiều tranh luận, huyền ảo khó hiểu như “khởi nguyên”, “trí nhuận”, “phi hoạt bàn” trong Kỳ Môn Độn Giáp, những vấn đề chưa có lời giải qua các triều đại, tôi đã từ góc độ học thuật truy tìm nguồn gốc, làm rõ ý chỉ hiệu pháp của cổ nhân, dụng ý sáng lập của tiên hiền, đến nay đã giải mã xong. Nay đặc biệt công bố để chia sẻ cùng quý vị đồng đạo.

Ngoài ra, còn có nhiều bí quyết về suy diễn và vận dụng trong Kỳ Môn, xưa nay đều khẩu truyền tâm thụ, chưa từng ghi chép thành sách, tôi năm xưa tìm thầy hỏi bạn, nhờ duyên phận, ngẫu nhiên có được, thực sự không dám tự cao, cất giữ riêng mình, chỉ e truyền cho không đúng người, làm mất ý chỉ cứu đời độ thế của cổ nhân. Trong vài bài viết trước tôi đã công bố, có tiết lộ một hai, độc giả hữu tâm nếu biết suy luận, có thể ngộ ra sự diệu dụng của nó. Đối với nhiều pháp quyết hơn, sau này tôi sẽ tùy duyên lần lượt công bố.