NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀNG KHI NGHIÊN CỨU KỲ MÔN ĐỘN GIÁP – TÁM BƯỚC ĐIỀU KHIỂN KỲ MÔN

NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀNG KHI NGHIÊN CỨU KỲ MÔN ĐỘN GIÁP – TÁM BƯỚC ĐIỀU KHIỂN KỲ MÔN

Phàm là người nghiên cứu Kỳ Môn Độn Giáp:

Trước hết, cần có tâm nguyện sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm đối với Kỳ Môn, chí hướng khai phá, phát dương kỹ thuật Kỳ Môn cùng với tầm vóc, khí lượng. Người chí không mạnh thì trí không đạt.

Thứ hai, phải cam chịu những bài tập cơ bản đơn điệu, lặp đi lặp lại cho đến khi các thủ đoạn và khái niệm cơ bản của Kỳ Môn trở thành hành vi vô thức thuần thục.

Cuối cùng, phải có lòng bao dung, khiêm tốn, vừa có thể nhận biết chân học và giả học, đồng thời biết tiếp thu cả những cái hay, khéo léo sử dụng tri thức.

Kỹ thuật truyền thụ tinh túy của Kỳ Môn tuyệt đối không phải để dẫn dắt người ta trở thành cao thủ hay đại sư dự đoán. "Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh" (Người chí đức không có cái ta, bậc thần không có công lao, bậc thánh không có danh vọng). Cứu cánh tối thượng của Dịch học là giúp con người trở thành một người hợp với đạo, bước theo đạo, sống tự tại, ung dung. Tự do mới là đẹp nhất, ngoài ra đều là ràng buộc.

Nếu bây giờ mục đích của mọi người đã rõ ràng, tín niệm đã kiên định, tiếp theo chúng ta hãy bàn về phương pháp rèn luyện độc đáo của môn phái (dòng truyền thừa) đối với Kỳ Môn Độn Giáp – Tám bước điều khiển Kỳ Môn (Ngự Kỳ bát bộ)!

Một, cung Khảm, quẻ Khôn, Hưu Môn: Một dương sơ động, lòng trời chẳng đổi. Nền tảng của Kỳ Môn vừa là điểm khởi đầu vừa là điểm kết thúc. Phải dành đủ thời gian để củng cố nền tảng Kỳ Môn. Lặp lại, lặp lại, lặp lại cho đến khi nền tảng Kỳ Môn trở thành huyết mạch và một phần cơ thể của bạn. Dù mọi người có tin hay không, tôi xin nói rõ ràng rằng, đây chính là quyết yếu và tâm pháp được truyền khẩu, giữ kín không truyền ra ngoài.

Hai, cung Cấn, quẻ Chấn, Sinh Môn: Khéo động khéo dừng, thành đầu thành cuối. Chuyên tâm nhất trí, lấy tâm thường (tâm bình thường) để học Kỳ Môn Độn Giáp. Không phải để tính toán cho đúng mà học, tính không đúng thì cứ tính đi tính lại, mà là để làm rõ tâm pháp chân thực của Kỳ Môn mà tính, để điều khiển thời không tốt hơn mà tính, vì chân lý và đạo mà tính. Vì vậy, mỗi lần chiếm đoán đều ứng nghiệm, đó là việc "nước chảy thành sông", tự nhiên mà thành, đừng bỏ gốc cầu ngọn.

Ba, cung Chấn, quẻ Ly, Thương Môn: Long lôi kích đãng, gãy cái quá cương (gãy sự cứng rắn quá mức). Dùng trí tuệ để học, không dùng nhiệt huyết để học. Nhiệt huyết khó bền lâu, chỉ có trí tuệ mới có thể điều khiển phương pháp, cân xứng đạo đức, cân nhắc đường lối, chọn lựa đúng sai. Trí tuệ còn có thể điều hòa lý tính và trực giác, giúp chúng ta giải phẫu thế giới sâu sắc hơn, nhận thức bản thân mình.

Bốn, cung Tốn, quẻ Đoài, Đỗ Môn: Tiến thoái do dự, cách cố đỉnh tân (đổi cái cũ, dựng cái mới). Kiên trì thông qua thầy, sách vở, thực tiễn để kiểm chứng tâm pháp vận dụng mà bản thân đã nắm được. Hiểu được cấu trúc của Kỳ Môn, lĩnh hội và nắm bắt kỹ thuật nhập cuộc, phương pháp phán đoán và nguyên lý vận sầu của các bài khóa tinh tế xưa nay, kiểm nghiệm vào thực tế vận dụng, học được cách nắm bắt tư duy "lấy tượng suy luận, theo lý quyết sách" của Kỳ Môn Độn Giáp từ cả hai mặt kinh nghiệm đúng và sai.

Năm, cung Ly, quẻ Càn, Cảnh Môn: Muôn hoa lóa mắt, hướng sáng mà trị. Phải tỉnh táo mà học Kỳ Môn. Đừng để bị dắt mũi bởi những thứ quyền uy, những lần nghiệm thần kỳ, đại sư, chuyên gia, thuật sĩ, những kẻ giả vờ huyền bí. Phải hiểu một điều rằng, xuyên qua hiện tượng, nhìn rõ bản chất, kỹ thuật và thủ đoạn mãi mãi không phải là đạo. Người đắc đạo chỉ là tự nhiên, đoán hay không đoán, việc gì thì đoán, không câu nệ hình thức, chỉ có cơ duyên, chỉ có tâm linh.

Sáu, cung Khôn, quẻ Tốn, Tử Môn: Thanh tĩnh vô vi, thuận theo tự nhiên. Chúng ta có tâm địa trong sáng thì mới học được sự nhạy bén, tinh tế; nhờ nhạy bén, tinh tế mà biết được sự thương xót, từ bi. Bởi thương xót nên bi và trí viên dung, hoàn thiện đức tính. Mới có thể lấy tượng quan vật (xem xét vật lấy tượng), ở chỗ tối mà thấy sáng, ở chỗ tĩnh mà thấy động, nhìn thấu thế tình nhân sự.

Bảy, cung Đoài, quẻ Khảm, Kinh Môn: Tín niệm thông trời, chí thành như thần. Cũng như các loại hình dịch chiếm khác, chiếm đoán Kỳ Môn cũng chỉ vào bằng đức tin. Người vừa nghi ngờ vừa tính toán thì ít ai không bỏ dở giữa chừng. Bạn phải tin tưởng vào công cụ và tư tưởng của mình thì nó mới trung thành với bạn, đó chính là thành ý. Nghi thì đừng dùng, dùng thì đừng nghi! Chỉ có thành ý mới có thể tinh thông sự hiển hiện của tượng ý trong Kỳ Môn, bước vào cảnh giới thần diệu khó lường.

Tám, cung Càn, quẻ Cấn, Khai Môn: Thuần dương đan thành, ta làm chủ tể. Sau quá trình học tập và thực chiến lâu dài, lặp đi lặp lại, sẽ dần hình thành và phát triển thành một mô thức tư duy độc đáo và ổn định của riêng mình. Lúc này nhìn vào bàn cục, không cần phải suy nghĩ luận đoán nữa, nguyên nhân và kết quả của sự việc sẽ tự nhiên hiển lộ ra từ trong cục. Thậm chí có thể không cần mượn đến bàn Kỳ Môn nữa, mà trong lòng tâm linh vô hạn. Bởi vì tôi với Đạo, tôi với Tự nhiên đã có thể hòa làm một. Vì vậy, "Tư lự chưa khởi, thần quỷ chẳng hay, lòng ta vừa động, trời đất đổi thay". Chẳng do ta, thì còn do ai!