Phương Pháp Diễn Quẻ Kỳ Môn Không Được Ghi Chép Trong Sách

Phương Pháp Diễn Quẻ Kỳ Môn Không Được Ghi Chép Trong Sách

Diễn Quẻ Kỳ Môn

Khi xem xét Thế và Ứng trong dự đoán, Thế là đối phương và sự việc, Ứng là chính mình, nhất định phải tuân thủ nghiêm ngặt điều này.

Ngoài ra, xin phụ lục nội dung của 64 quẻ dưới đây.

Một, Quẻ Càn (乾):

Nhìn chung là quẻ lành, đứng đầu trong 64 quẻ. Là quẻ Nguyên Thủ, thích hợp để hỏi về nghề nghiệp, sự nghiệp, khai trương. Nhưng cũng là quẻ có nhiều biến động. Cần kết hợp cát hung của Bát Thần để phán đoán. Khẩu quyết: Thần sát chủ cát hung, quái tượng chủ sự thể. Trong Mai Hoa, quẻ này rất coi trọng hào động. Trong Kỳ Môn, quẻ Càn lâm Cửu Thiên thì có thể vượt biển ra nước ngoài, những trường hợp khác suy luận tương tự. Cát nhất là tượng "Phi Long tại thiên" (Rồng bay trên trời). Quẻ này vào giờ Ngọ thì rất tốt. Dùng binh thắng lợi, hỏi việc mang thai sẽ sinh con trai.

Hai, Quẻ Khôn (坤):

Quẻ nhiều biến hóa, là quẻ thiếu chính kiến nhất. Mọi việc ban đầu khó khăn sau mới thành. Nếu gặp Tứ Khố thì là vị trí không tốt, không lành. Nếu Bát Thần cát lợi thì "Hoàng thường nguyên cát" (Váy vàng, cực kỳ tốt lành). Vì vậy quẻ này cần xem xét tỉ mỉ. Hỏi việc mang thai sinh con gái. Sự việc phát sinh từ nội bộ. Liên quan đến phụ nữ. Nếu cung khắc môn, lại gặp Khố thì hung. Quẻ này kỵ nhất là môn khắc cung. Đó là điềm bề tôi giết vua, con giết cha, vợ giết chồng.

Ba, Quẻ Tỷ (比):

Mọi việc liên quan đến những thứ ở gần, có ý định đi về phía Bắc. Liên quan đến bạn bè, đồng nghiệp. Đồ mất tìm ở nơi gần. Gặp Phục Ngâm thì càng đúng. Bỏ gần lấy xa, trong ơn có hại. Giao dịch, xuất hành rất tốt lành.

Bốn, Quẻ Khảm (坎):

Sóng gió, hiểm ác, gian nan. Hỏi về công việc và tài lực thì tốn nhiều công sức tính toán. Hôn nhân có trở ngại, bệnh tật khó an, người đi chưa về. Cung khắc môn, môn khắc cung càng đúng. Can gặp Tứ Mạnh (Dần, Tỵ, Thân, Hợi) thì sự việc mới bắt đầu, nhiều khó khăn chồng chất. Danh lợi khó tìm, thai vận chưa ổn, việc gấp nên đổi, ưu uất dễ mất mát. Về địa lý thì gần nước hoặc có ba chấm nước (hình tượng thủy). Đề phòng bị người hãm hại. Can gặp Mạnh, việc mới bắt đầu, tổn hại sâu; gặp Trọng (Tý, Ngọ, Mão, Dậu), việc đã qua nửa chừng, tổn hại nông cạn; nếu gặp ngày giờ Thìn, Tuất, thì phụ nữ khó sinh. Đồ mất do người trong nhà lấy trộm, người đi khó tìm, kẻ trộm đã đi xa, loanh quanh khúc khuỷu nhiều điều ẩn khuất.

Phương Pháp Diễn Quẻ Kỳ Môn Không Được Ghi Chép Trong Sách

Năm, Quẻ Khuê (睽):

Xem việc, ban đầu như sấm dậy kinh hoàng, nhưng cuối cùng không sao. Việc xa khó thành, hư danh hư lợi. Việc nhiều hai lòng hai ý. Xem việc lớn là không kích, chiến đấu.
Hỏi về hôn nhân thì có hai lựa chọn đối tượng. Nếu thấy Quý và Đằng Xà, chắc chắn sẽ bị bỏng. Gặp trong thi cử thì chắc chắn sẽ thất bại.

Sáu, Quẻ Phục (復):

Lòng người thất vọng, tiến thoái khó tin. Việc nhiều sự lựa chọn khó quyết định, phải hết sức cẩn thận. Đi thăm người không gặp, làm việc khó thành. Kỵ gặp Bạch Hổ, chủ kinh hoàng, tai họa dữ, sự việc từ bên ngoài tới. (Kỵ ngày can dương). Ngày âm thì tối tăm không tiến, tiến thoái lưỡng nan, phụ nữ phần nhiều vì tình cảm lựa chọn và liên quan đến bản thân, đi thăm người không gặp.

Bảy, Quẻ Tụy (萃):

Niềm vui tài lộc đến thân, lợi danh lợi, hỏi về quan chức rất tốt. Thăng quan tiến chức, được quý nhân khen thưởng. Xem việc kiện tụng sẽ ảnh hưởng đến tỉnh hoặc trung ương. Là quẻ được gặp quý nhân.

Tám, Quẻ Thái (泰):

Quẻ này có quan hệ rất mật thiết với tiết khí. Thời gian ứng nghiệm hoặc là Tiết hoặc là Khí. Bát Thần tốt thì được quý nhân giúp đỡ, lợi cho tài lộc và quan chức, có tiền thưởng.

Chín, Quẻ Chấn (震):

Hư kinh, nhiều động, có sự đòi hỏi từ bên ngoài. Việc liên quan đến cửa ngõ, đường xá. Sự việc mang hai hướng, qua lại không thường xuyên. Đồ vật ở trên đường, không thể lâu dài. Sự việc không có chỗ dựa. Phàm việc cầu cạnh người khác thì dễ thành, đi đường thẳng thì khó dung thân. Phàm việc mau chóng thành thì cũng mau chóng tan vỡ.
Phàm mọi việc chắc chắn sẽ phản phúc không yên. Gặp Cửu Thiên thì nhất định sẽ ra ngoài rồi quay đầu. Gặp Đằng Xà thì đi lại nhiều lần xuống xe. Hỏi về hôn nhân thì chắc chắn phải vài lần trở lên.
Hỏi về bệnh thì chắc chắn là bệnh thần kinh.

Mười, Quẻ Dự (豫):

Tại sao gọi là quẻ hợp? Phần nhiều là việc tập hợp, hội họp, việc hôn nhân. Người có cơ duyên gặp gỡ, bệnh gặp lương y. Sinh con quý tử. Tai họa tiêu tan, mọi việc cát lành. Hỏi về quan chức thì nhiều người được đề bạt vượt cấp. Thi cử phát huy khác thường.

Mười một, Quẻ Đoài (兌):

Mọi việc tốt lành, niềm vui rất thịnh. Nếu gặp Bạch Hổ thì hung, tai họa đến nhanh không chút do dự.

Mười hai, Quẻ Ích (益):

Chậm có biến động, tài danh tốt lành. Nếu gặp Thiên Mã, được gặp quý nhân ra nước ngoài. Gặp Hổ thì có quan chức sẽ mất quan. Mối liên hệ lớn nhất với quẻ này là: chức quan.

Mười ba, Quẻ Đại Hữu (大有):

Tài lộc và niềm vui đều tốt đẹp, phú quý song toàn. Liên quan đến tiền tài và quan quý. Môn và Can không được nhập khố, nếu không sẽ vì tiền tài mà đắc tội với quan quý.

Mười bốn, Quẻ Thăng (升):

Nhất định phải ra ngoài đi xa, bệnh khó kéo dài. Hỏi về quan chức thì lên chức, ưa động không ưa tĩnh, kỵ môn và can nhập khố.

Mười lăm, Quẻ Hoán (渙):

Có người đề bạt, có người dẫn kiến, mọi việc có người giúp đỡ, có lợi cho danh lợi.

Mười sáu, Quẻ Khốn (困):

Ngày dương thì nam hung, ngày âm thì nữ họa. Sao dương, môn dương thì cha gặp họa, sao âm, môn âm thì mẹ gặp họa, hôn nhân tai họa. Thêm Bạch Hổ thì chắc chắn tử vong, là quẻ tai họa.

Mười bảy, Quẻ Khốn (困): (Lưu ý: Có thể trùng lặp hoặc nhầm lẫn, nhưng giữ nguyên theo văn bản gốc)

Kỵ nhất là môn và can nhập mộ, gọi là "Mộ môn khai". Thường xem việc là hung, bệnh gặp bệnh hung. Nên chờ thời cơ, không thể hành động. Sự việc nhiều điều không rõ ràng. Nếu can gặp Trường Sinh, việc cũ tái phát, bệnh cũ tái phát. Nhật can lâm thì tự rước họa.

Mười tám, Quẻ Đại Tráng (大壯):

Sự việc ở nơi gần, kẻ trộm ở trong bản địa. Việc nhiều lo lắng nghi ngờ. Tiến thoái lưỡng nan. Việc lành dữ đều thành.

Mười chín, Quẻ Đại Súc (大畜):

Cùng loại vui vẻ gặp nhau, giống như Tam hợp cục. Phàm việc tất nhiên đa dạng hóa. Ví dụ Ly cung hội Hỏa, Khảm cung hội Thủy, Đoài cung hội Kim. Việc nhiều lộn xộn không đồng nhất, lắm kẻ cùng mưu, hoặc việc phải nhờ cậy hai ba nơi, có lợi cho việc hợp tác.

Hai mươi, Quẻ Gia Nhân (家人):

Quẻ này nếu gặp can Tứ Mạnh, cung can lâm thai vị, điều hỏi nhất định là về việc sinh nở. Rất thích can lâm Trường Sinh, tài quan đều có lợi. Chỉ không lợi cho người già và trẻ nhỏ hỏi bệnh, hung. Xem việc phần nhiều là ý tưởng mới. "Một đóa hoa tươi trong gương soi, ngắm thì rất đẹp nhưng đến không được".

Hai mươi mốt, Quẻ Phục (復):

Việc nhiều trùng lặp, liên lụy nhiều người. Ở cung dương thì việc nhiều thuận lợi, ở cung âm thì trở ngại liên miên.

Hai mươi hai, Quẻ Tốn (巽):

Việc nhiều trở ngại. Vào cung dương thì thuận, vào cung âm thì trở lực nhiều. Phàm việc liên lụy nhiều người.

Hai mươi ba, Quẻ Cách (革):

Xem việc sinh đẻ, ngày dương sinh con trai, ngày âm sinh con gái. Nhiều hỏi về việc riêng tư, phụ nữ, tình cảm. Phàm việc đột biến. Lợi cho cung dương, không lợi cho cung âm. Hỏi về sự nghiệp, sự việc, tính đột ngột.

Hai mươi bốn, Quẻ Truân (屯):

Thời tiết phần nhiều là sấm mưa. Việc nước phòng chống lụt. Mưu sự không thành, phàm việc trì trệ khó thành.

Hai mươi lăm, Quẻ Bĩ (否):

Phàm việc khó có kết quả. Xem danh thì tuyệt tự. Trẻ nhỏ xem bệnh thì chắc chắn chết. Hôn nhân bị ngăn trở, là độc thân.

Hai mươi sáu, Quẻ Bác (剝):

Cửa nhà không may, xương thịt chia lìa. Nam dương nữ âm, việc lo cho già trẻ, tai họa bệnh tật lại đến.

Hai mươi bảy, Quẻ Tiểu Súc (小畜):

Cửa nhà không chính đáng, vợ chồng phản bội, âm dương mất cân bằng.

Hai mươi tám, Quẻ Ký Tế (既濟):

Việc hôn nhân phần nhiều là tình tay ba, dẫn đến gia đình thị phi. Lợi cho mưu kế riêng, không lợi cho mưu tính công khai. Là khóa thể âm dương phối hợp, có lợi cho thi cử.

Hai mươi chín, Quẻ Lữ (旅):

Hôn nhân phần nhiều là kiểu rể ở nhà vợ. Việc nhiều bị trói buộc, tài danh có thể thành, ưa động không ưa tĩnh.

Ba mươi, Quẻ Quyết (夬):

Phàm mưu cầu, hoặc xong rồi lại đổ, thêm dầu vào lửa. Cửa nát nhà tan, vợ chồng khác lòng. Là quẻ xung phá, gặp Phản Ngâm thì chắc chắn phá bại, thể như thêm dầu vào lửa.

Ba mươi mốt, Quẻ Quán (觀):

Là quẻ thể của du tử (kẻ đi xa). Xuất hành cát lợi, ngồi yên thì khốn cùng. Hỏi hôn nhân thì đi du lịch kết hôn.

Ba mươi hai, Quẻ Khiêm (謙):

Phàm việc không sáng tỏ, mất đồ vật khó tìm, vận số sinh ra người câm, cầu người không thành. Thích hợp cho việc bí mật.

Ba mươi ba, Quẻ Độn (遯):

Trốn chạy, ra ngoài, nghỉ hưu thì lợi. Bắt trộm khó được.

Ba mươi bốn, Quẻ Phong (豐):

Quẻ hòa mỹ, hôn nhân tốt việc thành, tài lực không dứt, giao dịch rất thông suốt.

Ba mươi lăm, Quẻ Tỉnh (井):

Quẻ hợp hoan, rất lợi cho hôn nhân. Hôn nhân là duyên trời, vạn việc vui mừng tốt đẹp. Hỏi văn thư thì không lợi, lợi cho tài lộc.

Ba mươi sáu, Quẻ Đồng Nhân (同人):

Hai người đồng tâm, sức mạnh có thể cắt đứt kim loại. Thành công trên con đường khác lạ. Hôn nhân thêm người. Cãi cọ chia lìa. Tùy theo cung âm hay cung dương, vợ chồng phản bội. Hỏi việc thường là việc gia vụ. Nếu gặp Lục Hợp, Huyền Vũ thì tình cảm lộn xộn.

Ba mươi bảy, Quẻ Bí (賁):

Là thể Tam Quang, vạn việc tốt lành. Buôn bán có lợi, nhỏ có tốt lành. Ưa thích cung dương.

Ba mươi tám, Quẻ Cấn (艮):

Giữ cũ đợi mới, trong tĩnh có động. Cung dương, ngày dương thì Phục Ngâm bế tắc. Cung âm, ngày âm thì trì trệ.

Ba mươi chín, Quẻ Tấn (晉):

Chức vị thăng cao, bệnh tật không sao. Tài lộc vừa ý. Người đi xa trở về làng. Rồng và gươm hiện điềm lành.

Bốn mươi, Quẻ Đỉnh (鼎):

Là khóa thể "Chú ấn" (đúc ấn tín), "Luyện dược thành đan" (luyện thuốc thành tiên). Việc nhiều mài miễn mới thành. Hôn nhân chắc chắn có người thứ ba chen chân. Gặp Lục Hợp thì buôn bán hợp tác rất tốt. Gặp Đằng Xà thì không tệ, có lợi cho văn hóa. Gặp Bạch Hổ thì nghề nghiệp là đầu bếp.

Bốn mươi mốt, Quẻ Di (頤):

Phàm việc cần mài miễn. Vận bệnh thì hung hiểm. Tài lộc hân hoan nhảy múa. Lộc vị gia tăng. Ý đến phần nhiều là mưu cầu việc quan, ban đầu khó sau thành.

Bốn mươi hai, Quẻ Tiệm (漸):

Quan chức được người tiến cử, kẻ sĩ đỗ đạt khoa cử, hôn nhân hòa hợp, tài lợi sinh thành. Là tượng hanh thông.

Bốn mươi ba, Quẻ Hàm (咸):

Việc tình cảm, hôn nhân. Là thể âm dương hòa hợp. Nếu thêm cung Mộc Dục thì là sắc dục.

Bốn mươi bốn, Quẻ Sư (師):

Nhiều sự cạnh tranh. Tam quân đoạt soái. Là khóa vinh hoa. Tướng hung thì đại hung, không thể thấy môn Tử.

Bốn mươi lăm, Quẻ Tụng (訟):

Lớn nhỏ bất hòa, nhiều thị phi. Hôn nhân không tốt, đề phòng đánh nhau cãi cọ. Phàm việc tai ương. Thai thì sảy. Là thể hình thương, gặp Kích Hình thì chắc chắn thành kiện cáo.

Bốn mươi sáu, Quẻ Minh Di (明夷):

Thương vong, tử vong, phạm pháp, hung biến.

Bốn mươi bảy, Quẻ Đại Quá (大過):

Thiên tai, tử vong, mất vợ/chồng. Là thể tai nạn. Đây là quẻ rất hung. Thường gặp Huyền Vũ thì chắc chắn là lụt; gặp Đằng Xà thì chắc chắn thấy hỏa hoạn; gặp Bạch Hổ thì chắc chắn thương vong chết chóc; hỏi bệnh chắc chắn chết; xuất hành thì thời tiết thay đổi lớn.

Bốn mươi tám, Quẻ Thích Khát (噬嗑):

Thiên ngục, hình ngục, đại hung, thiên lao địa võng.

Bốn mươi chín, Quẻ Kiển (蹇):

Thời thế nhiều gian nan, bệnh thì chết. Hôn nhân tan vỡ. Xem việc phá hoại, phần nhiều là loạn ly. Xuất hành gặp cướp. Đây là thể "Thiên khấu" (giặc trời). Cầu tài trắc trở.

Năm mươi, Quẻ Mông (蒙):

Thiên la địa võng, vận mệnh tổn hại, bệnh tật trong lưới.

Năm mươi mốt, Quẻ Cổ (蠱):

Âm hại liên tiếp, bệnh chết tang, kiện lo sợ. Mưu tính thì rước họa, lâm Bạch Hổ thì cực hung.

Năm mươi hai, Quẻ Trung Phu (中孚):

Phàm việc không thông, nhiều ngày trì trệ. Quẻ thuần âm (Tam Âm). Nam kỵ hôn nhân, mang thai thì sinh con gái. Xem bệnh chết. Hành động khốn khổ, trăm việc chìm đắm.
Đây là hỏi về tình cảm thì đang trong giai đoạn nồng nhiệt yêu đương. Người đi xa hoặc tìm người phần nhiều là trẻ con, có thể về.

Năm mươi ba, Quẻ Ly (離):

Xem việc nghi hoặc, phản phúc không định, cửa ngõ không ổn định. Hợp rồi sẽ rời, của cải không tụ.

Năm mươi bốn, Quẻ Vị Tế (未濟):

Phần nhiều là việc tử vong kỳ quái. Là thể ưu trung vọng hỷ (lo trong niềm vui mong đợi). Kỳ hạn bệnh chết, thừa Hổ nhập mộ, đại hung. Kỵ can lâm Tử, Tuyệt.

Năm mươi lăm, Quẻ Tùy (隨):

Phản phúc không định. Dễ dẫn đến cảnh con dắt mẹ, vợ xa chồng. Lợi cho quân tử, không lợi cho tiểu nhân. Có đức thì tốt. Là thể Lệ Đức (nêu cao đức hạnh). Gặp quẻ này thì trong thời gian ngắn, người xem chắc chắn sẽ phải đi xa. Hỏi tình cảm thì chia tay. Còn có cãi cọ thị phi và biến hóa. Nếu Bát Trá hung thì bị thương chân.

Năm mươi sáu, Quẻ Quy Muội (歸妹):

Là thể "Quỷ sủng tác nghiệt" (ma mị sủng ái gây nghiệt). Bệnh tật tử vong, tài lộc vui mừng bị phá hoại. Người đi xa không về, đi thăm người không gặp. Tướng hung thì ác họa, tai ương đến rất nhanh.

Năm mươi bảy, Quẻ Giải (解):

Là thể "Nội ngoại lăng nhục" (trong ngoài sỉ nhục). Người nhà không lợi, chẳng phải tai ương ắt là lỗi lầm.

Năm mươi tám, Quẻ Tổn (損):

Là thể "Phòng nhân ám toán" (đề phòng người hãm hại). Lục thân không nương tựa, xương thịt hình thương, tài lợi âm thầm bị hại, bệnh tật đánh đập, cầu hôn tan vỡ, thai nhất định tổn hại. Hỏi có thai chắc chắn sảy thai. Phàm việc chú ý cãi cọ, gia đình không yên. Hỏi bệnh thì phải phẫu thuật. Hôn nhân tình cảm tan rã.

Năm mươi chín, Quẻ Nhu (需):

Là thể "Đức khánh" (đức hạnh phúc lành). Quân tử vui vẻ gặp gỡ, hôn nhân tốt đẹp hợp đôi, mưu cầu tốt lành.

Hai phương pháp diễn của môn này: Khi xem xét Thế và Ứng trong dự đoán, Thế là đối phương và sự việc, Ứng là chính mình, nhất định phải tuân thủ nghiêm ngặt thao tác này.

Ngoài ra, xin phụ lục nội dung 64 quẻ dưới đây.

Sáu mươi, Quẻ Tiết (節):

Gặp quẻ này mà thấy Huyền Vũ thì chắc chắn phá tài, và nhất định sẽ bị thương. Phàm việc tốt nhất nên tiết chế, nếu không sẽ có biến. Gặp Trực Phù thì có thể giải.

Sáu mươi mốt, Địa Trạch Lâm (地澤臨):

Quẻ này hỏi về tình cảm thì mẹ đối phương tham gia vào. Xem người đến là phụ nữ lớn tuổi dắt trẻ nhỏ đến. Hỏi bệnh là bệnh dạ dày. Gặp cung Khôn và môn Tử thì trên bụng có hai vết sẹo. Phụ nữ thì tử cung đã mổ.

Sáu mươi hai, Vô Mãng (無妄 - tức Vô Vọng):

Bất kỳ việc gì gặp quẻ này, tạm thời không có hành động lớn, nhất định sẽ bị hạn chế. Ra ngoài thì động nhiều. Bệnh chú ý não bị tắc mạch máu. Tài lực nhất định bị tổn thất.

Sáu mươi ba, Quẻ Hằng (恆):

Quẻ rất không ổn định. Gặp Cửu Thiên thì càng như vậy, nhất định sẽ đi xa. Hôn nhân tan vỡ. Bệnh về gan mật. Gặp Vũ Sư thì mưa to sấm sét.

Đây là tầng lớp đoán pháp cao cấp trong Kỳ Môn. Bất kỳ môn dịch học nào cũng không thoát khỏi nguồn gốc từ Dịch. Đây là những điều mà sách Kỳ Môn thông thường không ghi chép. Một phái Kỳ Môn khác dùng "Đoán Dịch Thiên Cơ" để giải, thuộc về một nhánh khác của môn phái này. Người này là nhân vật số một hoặc số hai trong giới Kỳ Môn hiện nay. Những điều trên đây để tham khảo.