PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN ĐẠI LỤC NHÂM – TỨ KHÓA, TAM TRUYỀN

PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN ĐẠI LỤC NHÂM – TỨ KHÓA, TAM TRUYỀN

Nguyên lý cơ bản của Tứ Khóa và Tam Truyền trong Đại Lục Nhâm

Cách xác định Tứ Khóa

Nguyên lý cơ bản của Đại Lục Nhâm bao gồm việc xác định Tứ Khóa (bốn khóa) và sự truyền dẫn hiệu ứng của Tam Truyền (ba truyền). Về Tứ Khóa, sách Đại Lục Nhâm Chỉ Nam viết:

"Thiên can thuộc Dương, vật trên can gọi là Nhật, thần dương trên Nhật là Khóa thứ nhất – đó là Dương trong Dương. Địa chi thuộc Âm, vật trên chi gọi là Thần, thần dương trên Thần là Khóa thứ ba – đó là Dương trong Âm. Thần âm trên Nhật là Khóa thứ hai – đó là Âm trong Dương. Thần âm trên Thần là Khóa thứ tư – đó là Âm trong Âm.

Khi đem Nguyệt Tướng cộng với giờ [của ngày xét], thì từ Vô Cực sinh Thái Cực. Thêm giờ mà có Thiên Bàn động sinh ra Dương, Địa Bàn tĩnh sinh ra Âm – đó là Thái Cực sinh Lưỡng Nghi. Đến khi phân biệt Can Chi mà bốn Khóa bày ra – há chẳng phải Lưỡng Nghi sinh ra Tứ Tượng ư? Cho nên nói: Một Âm một Dương gọi là Đạo; Âm Dương khó lường gọi là Thần."

Sự truyền dẫn hiệu ứng của Tam Truyền

Phương pháp lấy Tam Truyền thông qua Tứ Khóa có Cửu Tông Môn (chín cửa tông). Chín cửa tông thực chất là sự phân hóa của khí trời đi xuống khi gặp Bắc Đẩu. Bảy sao Bắc Đẩu thực chất là chín sao (sao Khai Dương trong Bắc Đẩu là sao đôi, cộng thêm sao Bắc Cực, hợp thành chín sao). Khí của chín sao này có ảnh hưởng khác nhau đến khí trời đi xuống, do đó khóa Nhâm ứng với chín cửa tông.

Phương pháp lấy Sơ Truyền (truyền thứ nhất) cốt ở chỗ lấy động làm gốc. Sự vật phát triển ở nơi mâu thuẫn kịch liệt nhất, mà cái động chính là cơ – tức là nơi mâu thuẫn kịch liệt nhất. Chín cửa tông lần lượt phân loại cái động cơ này để ứng hợp, nhằm mô phỏng cường độ khí số của sự biến hóa của sự vật.


Nhận thức khoa học về nội hàm Đại Lục Nhâm

Nội hàm của Đại Lục Nhâm đều diễn biến trong Thập Thiên Can và Thập Nhị Địa Chi. Sự khác biệt về hình thức cục, sự biến hóa của Nhật, Nguyệt, Tinh, Thần tạo ra đĩa động tương ứng khác với đĩa cố định. Sự vận chuyển của Thiên Bàn và Địa Bàn chính là sự tái hiện linh diệu của Đại Lục Nhâm, và từ đó sinh ra trường nguồn gốc bản tính của sự biến hóa của sự vật.

Sự biến đổi của bất kỳ sự vật nào cũng tạo ra các tổ hợp năng lượng khác nhau. Những điều kiện nhất định liên quan đến sự thể hiện cụ thể của bản tính căn nguyên của sự vật trong trạng thái vận hành của Thiên Bàn và Địa Bàn.


Phương pháp dự đoán Đại Lục Nhâm – Tứ Khóa Tam Truyền

Theo kiến thức thiên văn học hiện đại, có thể biết rằng hệ Mặt Trời gồm Nhật, Nguyệt và Ngũ Tinh (Thủy, Kim, Hỏa, Mộc, Thổ) quay xoắn ốc trong Ngân Hà, tương đối cố định so với vị trí của sao Bắc Cực. Do đó, người xưa cho rằng khí của trời từ Bắc Cực đổ xuống, đi qua sao Bắc Cực và Bắc Đẩu Thất Tinh, phân thành chín đường khí – đó là Cửu Tông Môn. Khí tiếp tục đi xuống lưu chuyển khắp mười hai cung – đó là Thập Nhị Thiên Tướng, cũng gọi là Thập Nhị Quý Thần. Rồi lần lượt do thần của mỗi cung trực tiếp phát sinh tác dụng – đó là Thập Nhị Nguyệt Tướng, tức mười hai chi. Mười hai chi tác động xuống đất, liền có các quan hệ sinh, khắc, chế, hóa, đức, hợp, quỷ, mộ, hình, xung, phá, hại… còn Nhật, Nguyệt, Ngũ Tinh là những yếu tố thời gian và không gian ảnh hưởng đến các quan hệ tác động này.


Tứ Khóa tiết lộ mối liên hệ nội tại bản chất của sự vật. Hệ thống lý luận liên quan tạo ra hiệu ứng cụ thể của các vị thần trên Tứ Khóa, từ đó phán đoán mối quan hệ nhân quả của trường tố bản chất bên trong sự vật, phát sinh tác động liên quan đa chiều và trên cơ sở nhất định tạo ra lực cải biến bên ngoài về mặt hình thức, đạt tới việc phân giải mâu thuẫn giữa các sự vật.

Tính đa trọng trong xác định Tứ Khóa quyết định rằng sự suy diễn của Tam Truyền chịu sự chế ước về hình thức mà sinh ra nguồn lực vận động quyết định sự vận động, biến hóa, phát triển của sự vật. Sự biến đổi về hình thức cục không làm thay đổi khả năng biểu đạt nội hàm của Tam Truyền. Trường tính người được xây dựng dưới tác dụng thần tính của Tam Truyền sẽ thay đổi xu hướng phát triển của con người. Vận dụng quy luật Thiên Nhân hợp nhất, dưới hình thức cố hữu, dẫn dắt linh tính của con người, theo quan điểm lý thuyết toàn ảnh đồng nguyên, thay đổi ái lực trường nguồn bản năng của con người dưới sự chế ước của điều kiện.


Tư liệu lịch sử và sự kế thừa nghiên cứu

Các sách về Lục Nhâm đã được ghi chép khá nhiều trong Tùy ChíĐường Chí. Đến Thông Chí của Trịnh Tiều, sách dẫn 82 bộ sách Lục Nhâm, tổng cộng 191 quyển. Quốc sử Kinh tịch chí của Tiêu Hùng đời Minh liệt kê đến 82 nhà. Đời Thanh, khi biên tu Cổ kim Đồ thư Tập thành, chủ yếu thu nhận Đại Lục Nhâm Loại Tụ; khi biên tu Tứ khố Toàn thư, chỉ lấy Lục Nhâm Đại Toàn. Tuy nhiên, ngoài sách quan phương, đời Thanh vẫn có nhiều tác phẩm Lục Nhâm mới. Đến thời Dân Quốc, việc nghiên cứu và biên soạn Đại Lục Nhâm vẫn tiếp nối không dứt.

Trong lịch sử, những người tinh thông Lục Nhâm, hoặc có những trước tác quan trọng và thành quả nghiên cứu trong môn học Nhâm, không chỉ có các nhà chính trị, nhà quân sự, nhà hoạt động kinh tế nổi tiếng, mà còn có các học giả và nhà khoa học tự nhiên nổi danh. Ví dụ như trong Thông Chí có ghi, nhà thiên văn học nổi tiếng đời Đường là Tăng Nhất Hành đã soạn Lục Nhâm Minh Giám Liên Châu Ca và Lục Nhâm Tủy Kính. Lại như nhà khoa học tự nhiên đời Tống là Thẩm Quát với Mộng Khê Bút Đàm, Vương Kính Đường đời Minh với Úc Cang Trai Bút Trần, Mao Chi Nghi đời Minh với Vũ Bị Chí đều có nội dung nghiên cứu và trình bày về Lục Nhâm.