QUAN ĐIỂM CỦA TÔI VỀ TRÍ NHUẬN VÀ SAI BỔ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP
QUAN ĐIỂM CỦA TÔI VỀ TRÍ NHUẬN VÀ Sách bổ TRONG KỲ MÔN ĐỘN GIÁP
Nói là quan điểm của tôi, thì đó là quan điểm của tôi, không hẳn đã đúng tuyệt đối. Cá nhân tôi chủ trương Cục Sách bổ (Sách bổ cuộc). Trước hết, tôi cho rằng những thứ này không có quy định nghiêm ngặt nào cả, mỗi bên đều có lý riêng, trong quá trình sử dụng đều có tỷ lệ ứng nghiệm tốt, việc công kích lẫn nhau là không đúng. Cục Sách bổ ổn định, thông tin có quy tắc, phù hợp với tự nhiên. Ở khía cạnh đơn giản nhất mà nói, cục Sách bổ có thể cầm bất kỳ cuốn lịch thư nào lên là có thể chuyển đổi liền mạch và sử dụng được. Chẳng lẽ ngay cả cách biên soạn của lịch thư cũng có vấn đề sao? Cục Sách bổ, bỏ qua những điểm khác biệt nhỏ để tìm kiếm sự tương đồng lớn, chú trọng đến tính ổn định của toàn bộ cấu trúc. Nếu nhất quyết cho rằng cục Sách bổ có vấn đề, thì toàn bộ lịch pháp phải được biên soạn lại từ đầu, thậm chí phát sinh một vấn đề: Bát tự (Tứ trụ) của chúng ta bài bàn cũng hoàn toàn sai lệch. Khoảng 1/6 số lượng bát tự bài ra sẽ gặp vấn đề. Hệ thống Tử Bình của chúng ta có thể sử dụng hoàn hảo một bộ lịch pháp, vậy mà nay lại thành sai lầm?
Trong tác phẩm "Thiên Cổ Tử Bình" của tôi, tôi đã từng đề cập đến một loại "phương pháp bài bát tự mật truyền của Đạo gia". Thông thường chúng ta bài bát tự lấy tiết Lập Xuân làm ranh giới. Nhưng với cách bài định này, không thể bài ra được bát tự dạng "Giáp Tý, Giáp Tý, Giáp Tý, Giáp Tý" (tứ Giáp Tý). Vậy về mặt lý thuyết, loại bát tự này có tồn tại không? Về mặt lý thuyết, nó nhất định tồn tại. Nhưng tại sao lại không bài ra được? Là vì trong lịch pháp hiện tại của chúng ta không thể xuất hiện trường hợp này. Vậy làm thế nào mới có thể xuất hiện? Nếu bạn thay đổi lịch pháp vốn lấy "Lập Xuân" làm ranh giới thành lấy "Đông chí, Hạ chí" làm ranh giới, thì có thể xuất hiện bát tự tứ Giáp Tý. Thậm chí, nghe nói có người đã bài lại bát tự của một vị lãnh tụ (M) theo phương pháp Đông chí, Hạ chí, và xuất hiện bốn chính khí Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Ai có chút kiến thức nền tảng về Tử Bình đều biết, Tý, Ngọ, Mão, Dậu đầy đủ, theo sách cổ nói chính là mệnh Đế Vương. Vậy hai phương pháp này rốt cuộc cái nào đúng? Tôi cho rằng cái nào cũng không sai, mỗi cái phản ánh một bộ phận nào đó của sự vật, khía cạnh thông tin trọng tâm là khác nhau. Và hệ thống Tử Bình của chúng ta, sử dụng lịch pháp hiện hành đã gần 1800 năm, trải qua vô số ứng dụng, vẫn luôn duy trì tỷ lệ chính xác và mức độ ổn định tương đối cao. Thực ra đây cũng là một dạng "cuộc tranh luận giữa Trí nhuận và Sách bổ" trong phương pháp Tử Bình. Tôi cho rằng cả hai đều không sai.
Trước đây, tôi đã từng sử dụng một phương pháp tương đối đặc biệt, đó là kết hợp Tiên thiên và Hậu thiên, chuyển đổi bát tự thành Kỳ Môn, sau đó dùng lục thân trong bát tự để lấy cung lạc, rồi dùng số Tiên thiên để kết hợp, sau đó chuyển hóa vào cung Kỳ Môn, trực tiếp có thể tính toán ra tuổi con giáp của cha mẹ tôi, tuổi con giáp của cha mẹ vợ tôi. Và tôi đã kiểm chứng trên bát tự của một vài học trò khác, trực tiếp có thể cầu ra được, không cần bất kỳ sự hỗ trợ nào. Tuy nhiên, xác suất này tương đối thấp, lý do rất đơn giản: không phải những người có cùng bát tự thì đều có tuổi con giáp của cha mẹ giống nhau. Nhưng phương pháp không có vấn đề gì, có thể trực tiếp dùng bát tự để đoán chính xác tuổi con giáp của cả cha lẫn mẹ. Và khi bản thân tôi, vợ tôi, và cha mẹ của hai ba người liên tiếp xung quanh đều đúng, thì đó không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên nữa, xác suất trùng hợp ngẫu nhiên tương đương với trúng xổ số. Sở dĩ tôi có thể đúng, là vì bát tự của tôi là "chân thật", cho nên có thể khớp trực tiếp với tuổi con giáp của cha mẹ. Còn rất nhiều người tuy có cùng bát tự với tôi, nhưng thực ra không phải là "thật", đó không phải là bát tự của họ. Mặc dù họ sinh vào thời điểm đó, nhưng chưa chắc đó đã là "bát tự thật sự" của họ. Tôi xin lấy một ví dụ, mọi người sẽ hiểu ngay: Tôi là người sinh ngày Nhâm Thủy, mệnh thuộc Nhâm Thủy. Kết hợp với các can chi khác, tuổi con giáp cha mẹ tôi đã được xác định. Nhưng phải chăng tất cả những người sinh ngày Nhâm Thủy đều là mệnh "Nhâm Thủy"? Chỉ có thể nói rằng những người sinh vào ngày này và tất cả sự vật đều có đặc tính của Nhâm Thủy, nhưng không phải tất cả đều là người có "mệnh Nhâm Thủy chân thật". Nói thì có vẻ quanh co, nhưng người thực sự hiểu đạo lý thì chỉ cần nghĩ một chút là sẽ bừng sáng. Hơi lạc đề một chút. Vâng, trong phương pháp này, tôi sử dụng cục Sách bổ. Tôi đã thử phương pháp Mao Sơn và phương pháp Trí nhuận, nhưng đều không thể dùng phương pháp này để cầu ra được tuổi con giáp chính xác của cha mẹ. Điều này có ý nghĩa gì? Nó có nghĩa là tính ổn định tiên thiên của cục Sách bổ là rất tốt.
Về vấn đề Trí nhuận và Sách bổ trong Kỳ Môn Độn Giáp (tiếp theo)
Thứ hai nữa, tôi đã đọc một luận văn. Luận văn này, theo "quan điểm của tôi", được trình bày vô cùng tinh tế và sâu sắc, gần như ăn khớp hoàn toàn với suy nghĩ của tôi. Tôi xin dẫn nguồn là ông Triệu Hùng Tiên ở thành phố Thượng Ngu, tỉnh Chiết Giang.
Nguyên lý ứng dụng của "Bảng Cục Kỳ Môn Độn Giáp"
"Bảng cục Kỳ Môn Độn Giáp" là cơ sở để dự đoán học Kỳ Môn quyết định lấy cục cho ngày hỏi việc. Cách dùng của nó vốn dĩ đơn giản và dễ thực hiện: chỉ cần biết ngày này nằm trong tiết khí nào, và can chi của ngày đó thuộc về phù thủ (đầu phù) nào, thì có thể tìm được cục tương ứng trong "Bảng cục". Tuy nhiên, hậu nhân khi ứng dụng cụ thể bảng này đã đặt ra nhiều nghi vấn.
Thứ nhất: Chu kỳ quay quanh Mặt Trời của Trái Đất khoảng 365 + 1/4 ngày. Bảng này có thể sắp xếp tổng số ngày là 5 x 3 x 24 = 360 ngày. Hai số chênh lệch nhau 5 + 1/4 ngày. Vậy sau khi dùng hết Thượng, Trung, Hạ Nguyên của 24 tiết khí trong năm, còn lại 5 + 1/4 ngày (tương đương 63 canh giờ) thì phải lấy cục thế nào?
Thứ hai: Do quỹ đạo Trái Đất là hình elip, Mặt Trời nhất định nằm ở một trong hai tiêu điểm của hình elip, vì vậy lực hấp dẫn của Mặt Trời lên Trái Đất không thể bằng nhau ở mọi nơi. Chúng ta có thể xác định 24 điểm chia đều trên quỹ đạo (tức là điểm bắt đầu của 24 tiết khí, trong đó Đông chí là điểm cận nhật, Hạ chí là điểm viễn nhật), nhưng Trái Đất không thể đi qua các đoạn phân chia đều này trong những khoảng thời gian bằng nhau. Do đó, đối với những tiết khí dài hơn 15 ngày, chỉ đưa ra Thượng, Trung, Hạ Nguyên là không đủ dùng; đối với những tiết khí ngắn hơn 15 ngày thì lại dùng không hết. Đối với những canh giờ lẻ tẻ "cái thước có chỗ dài, chỗ ngắn" này, các bậc hiền nhân xưa đã sắp xếp việc lấy cục cho chúng như thế nào? Tác giả cho rằng: Một năm của người xưa cũng là 365,2422 ngày, 24 tiết khí trong lịch cổ chắc chắn có cái dài cái ngắn. Nếu các bậc hiền nhân xưa khi chế tác ra bảng cục này thực sự không dựa trên thực tế, mà xác định "một năm 360 ngày, mỗi tiết khí 15 ngày", thì bảng này ngay khi ra đời đã là phế phẩm, làm sao có thể lưu truyền và sử dụng cho đến ngày nay? Cần phải hiểu rằng bảng cục là một loại sách chỉ dẫn, nó khác với lịch thư hằng năm. Nó phải có thể ứng dụng cho bất kỳ năm nào. Bài viết này sẽ thảo luận về điều kiện đầy đủ và nguyên lý để "Bảng cục" có thể thích ứng với bất kỳ cuốn lịch nào.
1. Bảng cục là sự chỉ thị của quẻ Tin tức (Tiêu Tức quái) cho mỗi tiết khí
Thiên Đạo (Thiên Can) vận hành với chu kỳ 10, Địa Đạo (Địa Chi) vận hành với chu kỳ 12. Do đó, trong 60 lần biến liên tiếp chắc chắn sẽ xuất hiện một lần "cục diện tích hợp Thiên Đạo - Địa Đạo". Loại cục tích hợp xuất hiện tại cung mà Giáp Tý Mậu cư trú đóng vai trò là quẻ Tin tức (Tiêu Tức quái), tức là tại cục này có thể phân biệt được vị trí khởi đầu của Giá Phù (值符) và Giá Sử (值使). Tất nhiên, tại các cung mà Giáp Tuất Kỷ, Giáp Thân Canh... cư trú cũng có thể xuất hiện cục diện tích hợp Thiên Đạo - Địa Đạo. Nhưng lần lượt suy ra, chúng cũng nhất định sẽ tích hợp mỗi 60 lần biến. Chỉ có điều người xưa chuyên chú vào con "cừu đầu đàn" Giáp Tý Mậu, mổ xẻ một con chim sẻ là đủ rồi!
2. Quy luật diễn tiến của quẻ Tin tức
Quẻ Tin tức thay đổi sau mỗi 60 canh giờ. Điều này có chút giống như chiếc đồng hồ quả lắc kiểu cũ, từ lần báo giờ thứ nhất đến lần báo giờ thứ hai, kim phút phải đi hết 60 vạch. Điểm khác biệt là trên mặt số của nó chỉ có ba con số, như "Đông chí nhất thất tứ" (Đông chí 1,7,4), "Tiểu hàn nhị bát ngũ" (Tiểu hàn 2,8,5), v.v. Tại sao sau Dương Độn cục 1 nhất định phải là Dương Độn cục 7, sau Dương Độn cục 7 nhất định phải là Dương Độn cục 4? Bởi vì đã chứng minh rằng cứ 60 lần biến thì Thiên Đạo và Địa Đạo nhất định trùng hợp một lần. Do đó, chỉ cần có thể xác định một trong hai "Đạo" sau 60 lần biến sẽ xuất hiện ở cung nào, thì cung đó chính là điểm hội tụ của cả hai. Căn cứ theo "Giá Sử tùy thời cung" (Dương Độn đi thuận, Âm Độn đi nghịch), sau khi Giá Sử hội hợp với Giá Phù tại một cung, đi theo cung vị 60 bước nhất định sẽ đến cung 7. Điều này có thể chứng minh bằng toán học đơn giản: Bởi vì Địa bàn có 9 cung, Giá Sử đi 9 bước sẽ trở về cung cũ, bước thứ 10 mới di chuyển ra khỏi 1 cung. Trong 60 lần biến có tổng cộng 6 lần di cung, nhất định sẽ di chuyển ra khỏi cung cũ 6 cung. Dương Độn: 1 + 6 = 7. Vì vậy, nếu Dương Độn cục 1 là quẻ Tin tức, thì quẻ Tin tức tiếp theo sẽ là Dương Độn cục 7; quẻ Tin tức sau Dương Độn cục 7 nhất định là Dương Độn cục 4 (7 + 6 - 9 = 4). Còn đối với Âm Độn, nếu Âm Độn cục 9 là quẻ Tin tức, thì quẻ Tin tức tiếp theo sẽ là 9 - 6 = 3, tức Âm Độn cục 3; sau Âm Độn cục 3 nhất định là 3 + 9 - 6 = 6, tức Âm Độn cục 6. Quy luật tự động diễn tiến của quẻ Tin tức đều có thể được kiểm chứng và nghiệm đúng trong bảng cục của 24 tiết khí, giúp chúng ta có thể bổ sung cách lấy cục sau khi đã dùng hết Thượng, Trung, Hạ Nguyên cho những tiết khí vượt quá 180 canh giờ.
3. Tiết khí có thể điều chỉnh hệ thống quẻ Tin tức
Giả sử tiết Đông chí có 200 canh giờ, thì sau khi dùng hết "1,7,4" nên lấy cục gì tiếp theo? Rõ ràng, sau quẻ Tin tức Dương Độn cục 4, quẻ Tin tức tiếp theo nhất định là Dương Độn cục 1 (4 + 6 - 9 = 1). Vậy trong tiết Đông chí sẽ là 1,7,4,1,7,4,1... cho đến khi dùng hết 200 canh giờ. Ví dụ này có thể chứng minh: Quẻ Tin tức là một hệ thống hoàn toàn đóng kín, nó bao gồm ba yếu tố, tuần hoàn xuất hiện theo một thứ tự nhất định. Dương 1, Dương 7, Dương 4 là hệ thống quẻ Tin tức đặc hữu bên trong tiết Đông chí. Tiết Tiểu hàn kế tiếp Đông chí có hệ thống cục là 2,8,5. Hệ thống 2,8,5 không thể tự động diễn tiến từ hệ thống 1,7,4. Vào lúc đó, dù Giáp Tý Mậu có di chuyển vào cung 2, cung 8, cung 5, cũng không xuất hiện cục diện tích hợp Thiên Đạo - Địa Đạo. Nhưng ngay khi giao sang tiết Tiểu hàn, Dương 2, Dương 8, Dương 5 lập tức có đặc tính của quẻ Tin tức, trong khi lúc đó Dương 1, Dương 7, Dương 4 lại mất đi đặc tính quẻ Tin tức. Có sự đột biến như vậy ở cả 24 tiết khí trong toàn bảng, buộc chúng ta phải chấp nhận một giả thuyết: Tiết khí có thể điều chỉnh hệ thống quẻ Tin tức.
4. Vòng Thái Cực trong Bảng cục
Người xưa đặt hình cá Âm Dương ở chính giữa bảng cục không phải là để trang trí, mà là để chỉ dẫn rằng bảng này được chế tác dựa trên nguyên lý Thái Cực. Chỉ khi hiểu được vòng Thái Cực trong bảng này mới có thể sử dụng bảng một cách chính xác. Trước hết, việc sắp xếp 24 tiết khí thành nửa vòng Dương Độn và nửa vòng Âm Độn là có cơ sở thực tế. Từ Đông chí đến Mang chủng, Trái Đất chuyển động từ điểm cận nhật đến điểm viễn nhật, lực hấp dẫn của Mặt Trời lên Trái Đất giảm dần, thời gian các tiết khí kéo dài liên tục. Sự gia tăng là Dương; chuyển động ra xa Mặt Trời là Dương (vì Mặt Trời là "Dương", khi một vật thể quay lưng và bị đẩy ra xa Dương thì vật thể đó ắt là Dương, xác định nửa vòng Dương Độn là rõ ràng!). Bắt đầu từ Hạ chí, Trái Đất bước vào nửa vòng chuyển động hướng về phía Mặt Trời, thời gian các tiết khí liên tục rút ngắn, xác định nửa vòng Âm Độn này hoàn toàn có cơ sở. Một chuyển động vòng tròn có thể phân chia Âm và Dương chính là Vòng Thái Cực.
Chúng ta đã chứng minh rằng ba quẻ Tin tức trong bảng cục của mỗi tiết khí là một hệ thống đóng kín xuất hiện tuần hoàn, dùng một vòng tròn để biểu trưng cho nó là hình tượng nhất. Nhưng làm thế nào để phân biệt Âm và Dương trong đó? Âm Dương của nó nằm ở chỗ "Ẩn" và "Hiện". Nhìn từ bên trong hệ thống, bất kỳ thời điểm nào cũng chỉ có một quẻ Tin tức "cai trị", khi cai trị thì nó ở trạng thái hiển, không cai trị thì nó ở trạng thái ẩn. Nhìn từ hệ thống lớn của cả năm, một hệ thống quẻ Tin tức khi thì ẩn khi thì hiện. Ví dụ trong Dương Độn, hệ thống 1,7,4 ở trạng thái hiển trong bốn tiết: Đông chí, Kinh trập, Thanh minh, Lập hạ; các tiết khác nó ở trạng thái ẩn. Trong Âm Độn, nó ở trạng thái hiển trong bốn tiết: Đại thử, Xử thử, Thu phân, Đại tuyết; các tiết khác nó ở trạng thái ẩn. Từ đó có thể biết: "Đông chí nhất thất tứ" thực ra là một vòng Thái Cực nhỏ. Vòng Thái Cực nhỏ này không chỉ không ngừng vận động bên trong, mà còn vận động lúc ẩn lúc hiện cùng với vòng Thái Cực lớn của cả năm, tình huống này tương tự như Trái Đất vừa tự quay vừa quay quanh Mặt Trời. Vòng Thái Cực không đầu không đuôi, không bắt đầu không kết thúc, vì vậy có thể lấy bất kỳ đâu làm đầu, bất kỳ đâu làm đuôi, tất cả phụ thuộc vào sự bắt đầu và kết thúc của tiết khí. Dưới đây xin lấy ví dụ thực tế để minh họa cách sử dụng bảng cục tiết khí theo quan niệm này.
Năm 1996, tiết Mang chủng bắt đầu lúc 17h41 ngày 5 tháng 6, tức giờ Dậu ngày Quý Dậu (20 tháng 4 âm lịch). Toàn bộ tiết khí dài 189 canh giờ. Bảng cục ghi "Mang chủng lục tam" (Mang chủng 6,3,9). Đầu phù của ngày Quý Dậu là Kỷ Tỵ, do đó đây là ngày thứ 5 của Trung Nguyên. Theo bảng, lấy Dương Độn cục 3. Cục này dùng 3 canh giờ. Gặp ngày Giáp Tuất (đầu phù của Hạ Nguyên), theo bảng kích hoạt Dương Độn cục 9. Cục này dùng đủ 60 canh giờ. Gặp ngày Kỷ Mão (đầu phù của Thượng Nguyên), kích hoạt Dương Độn cục 6 (theo quy luật diễn tiến của quẻ Tin tức, Dương Độn cục 9 sau 60 canh giờ nhất định khởi động Dương Độn cục 6, 9+6-9=6). Có thể thấy việc khởi động theo "quy luật diễn tiến" và kích hoạt theo "đầu phù" là hoàn toàn khớp nhau. Dương Độn cục 6 dùng đủ 60 canh giờ nhất định khởi động và kích hoạt (gặp đúng ngày Giáp Thân, đầu phù Trung Nguyên) Dương Độn cục 3. Cục này dùng đủ 60 canh giờ, khởi động và kích hoạt Dương Độn cục 9. Dương Độn cục 9 dùng đến canh giờ thứ 6 thì toàn bộ thời gian của tiết Mang chủng kết thúc (3+60+60+60+6=189). Canh Kỷ Tỵ tiếp theo chính là thời điểm giao tiết Hạ chí năm 1996, do "Hạ chí cửu tam lục" (Hạ chí 9,3,6) Âm Độn cai trị.
Tác giả cho rằng cách dùng này phù hợp với nguyên tắc "tiết khí làm chủ đại cục, phù thủ quyết định cục dùng". Nếu mỗi tiết khí đều dùng như vậy, thì còn có những vấn đề như Siêu thần, Tiếp khí, Trí nhuận... nữa hay không? Cho dù gặp lịch năm nhuận tháng nhuận, bảng cục này cũng không cần thay đổi. Do đó, nó có thể được sử dụng qua nhiều thế hệ, thể hiện được diện mạo Vòng Thái Cực của nó.
5. Mô hình vật lý của "Bảng cục Kỳ Môn Độn Giáp"
Để tóm gọn quan điểm của bài viết một cách rõ ràng và trực quan, tác giả đưa ra một mô hình vật lý cho bảng cục. Phần trước đã nói rõ mỗi hệ thống quẻ Tin tức đều độc lập và khép kín, không thể tự động sinh ra hệ thống 2,8,5 hay 3,9,6 từ hệ thống 1,7,4. Vậy những hệ thống đóng kín độc lập này rốt cuộc từ đâu đến? Nhìn vào quá trình diễn cục của Dương Độn cục 1, hệ thống 1,7,4 là hệ thống quẻ Tin tức của Giáp Tý Mậu; hệ thống 2,8,5 là của Giáp Tuất Kỷ; hệ thống 3,9,6 là của Giáp Thân Canh... Bởi vì tại canh giờ thứ 11 khi diễn Dương Độn cục 1, tại cung vị của Giáp Tuất Kỷ xuất hiện cục diện tích hợp Thiên Đạo - Địa Đạo, đó chính là đặc tính của quẻ Tin tức. Lúc này Giáp Tuất Kỷ ở cung 2, suy theo quy luật cứ 60 lần biến lại xuất hiện quẻ Tin tức, thì nó nhất định là hệ thống 2,8,5. Tương tự, tại canh giờ thứ 21, Giáp Thân Canh ở cung 3 cũng xuất hiện quẻ Tin tức, từ đó diễn ra hệ thống 3,9,6. Nếu chúng ta diễn ra các quẻ Tin tức của Giáp Ngọ Tân, Giáp Thìn Nhâm, Giáp Dần Quý, lần lượt là 4,1,7; 5,2,8; 6,3,9 v.v... Dùng nguyên lý tối giản để quy nạp, những hệ thống thực sự có tính độc lập chỉ là ba hệ thống: "1,7,4", "2,8,5", "3,9,6". Tiết khí có thể điều động một trong ba hệ thống này làm hệ thống quẻ Tin tức cho riêng mình. Tác giả dùng một "Mô hình nguyên tử Hydro" để minh họa mối quan hệ giữa chúng. Ba hệ thống quẻ Tin tức độc lập tương đương với ba tầng quỹ đạo electron bên ngoài hạt nhân; "Giáp" bị ẩn đi tương đương với một electron. Electron "Giáp" sau khi bị kích thích có thể nhảy vọt giữa ba tầng quỹ đạo này. Khi nó đi vào một tầng quỹ đạo nào thì nó sẽ vận hành theo quỹ đạo đó, bắt đầu từ điểm đi vào và vận hành cho đến khi nó bị kích thích để thoát khỏi quỹ đạo đó. Bởi vì chỉ có một electron, và chỉ khi electron nhảy vào thì sự tồn tại và tính chất của một tầng quỹ đạo mới có thể hiển hiện ra; các tầng quỹ đạo trống rỗng tồn tại ở trạng thái ẩn. Cả ba tầng quỹ đạo đều có dạng sóng, khi các quỹ đạo xuyên qua nhau sẽ có điểm giao nhau. Dương đạo là trạng thái thuận quay của mô hình này, Âm đạo là trạng thái nghịch quay của nó.
Phương pháp sử dụng bảng cục Kỳ Môn Độn Giáp được trình bày ở đây thực chất chính là phương pháp Sách bổ (Sách bổ pháp) mà người xưa dùng. Chỉ cần có một cuốn lịch thư ghi đầy đủ can chi ngày tháng và thời gian giao tiết của 24 tiết khí hàng năm, đối chiếu với bảng cục, bất kỳ ai cũng có thể xác định được số cục Kỳ Môn Độn Giáp cần sử dụng cho bất kỳ ngày nào, và sẽ không phát sinh bất kỳ sự khác biệt hay tranh cãi nào.
