SIÊU THẦN TIẾP KHÍ TRÍ NHUẬN QUYẾT
SIÊU THẦN TIẾP KHÍ TRÍ NHUẬN QUYẾT
Ca rằng: Tiếp khí siêu thần vi chuẩn đích.
Siêu là vượt qua.
Thần là nhật thần (can chi của ngày).
Tiếp là tiếp nhận, kế thừa.
Khí là các tiết khí.
Tiết chưa đến mà nhật thần phù đầu (đầu can chi của tuần) đến trước, thì lấy phù đầu làm chủ, mà siêu dùng tiết khí chưa đến, đây gọi là Siêu. Lại có tiết đã đến mà nhật thần phù đầu chưa đến, thì lấy phù đầu của ngày sau làm chủ, mà đợi khi nhật thần đến mới tiếp nhận nó. Bởi vì khí chưa đến, mà kỳ tinh thường dùng ở trước, đây gọi là chiết bổ tiền cục. Sau khi chu hoàn mới tiếp đến tiết, gọi là Tiếp khí.
Ví dụ: Năm Bính Ngọ, ngày 13 tháng 4 (ngày Nhâm Thân) giao tiết Lập Hạ. Tuy nhiên, ngày mồng 5 tháng 4 là ngày Giáp Tý, đã trước Lập Hạ 9 ngày. Thì nên siêu việt trước, từ Giáp Tý trở xuống, dùng cuộc thượng nguyên của Lập Hạ. Sau ngày Kỷ Tỵ dùng trung nguyên, đây là trước được kỳ sau được tiết, phàm tác dụng lấy hiệu rất nhanh.
Lại như ngày mồng 2 tháng 11 (ngày Canh Dần) là tiết Đại Tuyết, từ trước ngày Kỷ Mão đến Canh Dần đã siêu 12 ngày, là quá một tuần, không còn lý do siêu nữa, đến đây nên dùng Nhuận (tháng nhuận). Nhuận là gì? Từ Giáp Ngọ đến Mậu Thân, tổng cộng 15 ngày, lặp lại tiết Đại Tuyết. Ngày 16 (Giáp Thìn) của tiền cuộc kỳ giao tiết Đông Chí mới dùng cuộc hạ nguyên của Đông Chí, đó gọi là Tiếp. Từ đó về sau dùng phép tiếp nhuận.
Lại Siêu tiếp quyết rằng:
Hễ gặp tiết khí giao nhau,
Bốn chủng phù đầu (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) vừa khéo thay.
Cứ thế xếp đặt chẳng sai chạy,
Liền là chính cuộc thượng nguyên kỳ.
Chính cuộc đã rõ không lẫn lộn,
Dần dà dời sang đổi siêu cuộc.
Siêu qua tuần dư là nhuận kỳ,
Ba hậu mới xong thì tiếp tục.
Nhuận kỳ nếu chẳng ở Mang Chủng,
Thì là âm chung (cuối âm) vào Đại Tuyết.
Mười lăm ngày tròn thế là thôi,
Lại đem siêu tiếp chính cùng suy.
Siêu vượt qua tuần hoặc chín sớm,
Hoặc qua mười một ngày chẳng tha.
Nhuận kỳ chỉ ở ba ngày đó,
Chẳng thêm trước, chẳng bớt sau ra.
Phàm nhuận kỳ ba hậu một chung, tức là Tiếp khí. Tiếp khí tích lũy lâu, mới đổi chính kỳ. Chính kỳ tạm dời, mới đổi siêu cuộc. Siêu cuộc vượt qua chín ngày, hoặc mười ngày, hoặc mười một ngày, lại phải đặt nhuận, để quy về chỗ mỗi tiết khí còn dư năm giờ hai khắc. Đặt nhuận nhất định ở sau Mang Chủng và Đại Tuyết. Giả sử gặp giao nhau giữa Tiểu Mãn và Tiểu Tuyết, dù siêu chín ngày, mười ngày cũng không được đặt nhuận. Bởi vì kỳ lấy Đông Chí và Hạ Chí, dương cực âm chung. Đặt nhuận là để kết thúc khí dư tích tụ của các tiết khí.
Bốn chữ Siêu Thần Tiếp Khí chính là mấu chốt trong Độn Giáp. Nếu không thể hiểu rõ lịch số trước sau, chỉ biết thuyết siêu tiếp, mà không biết diệu dụng của chiết bổ, thì thiên đạo phế trì, nhân sự trái ngược, mà họa phúc chẳng nghiệm. Thậm chí không biết phép siêu tiếp chính nhuận, cứ theo thành cục cứng mà chọn ngày giờ, cuộc trên trái làm cuộc dưới, điên đảo sai lộn, chẳng có hiệu nghiệm, rồi khinh rằng chẳng đáng tin, thật đau đớn thay. Huống chi cục chiết bổ, mãi là cục tàn dưới, ắt phải đợi ngày phù đầu đến trước, mới là cuộc thượng nguyên của tiết khí nào đó, há chẳng phải Tý Ngọ Mão Dậu là thượng nguyên ư? Thượng nguyên mãi không có lý chiết bổ mượn dùng.
Nhuận quyết rằng:
Nhuận kỳ nhuận kỳ có diệu quyết,
Thần tiên chẳng chịu phân minh thuyết.
Giáp Kỷ hai ngày hiệu phù đầu,
Tý Ngọ Mão Dậu thượng nguyên liệt.
Dần Thân Tị Hợi phối trung nguyên,
Thìn Tuất Sửu Mùi hạ nguyên tiết.
Tiết quá phù, phù quá tiết,
Nhuận tích nguyên lai vi chuẩn tắc.
Trước tiết được phù gọi là Siêu,
Sau tiết được phù gọi là Tiếp.
Có khi vượt quá một tuần dư,
Liền phải đặt nhuận thực diệu tuyệt.
Muốn biết đặt nhuận lúc nào?
Đích ở Mang Chủng và Đại Tuyết.
Siêu thần tiếp khí nếu có thể minh,
Tức là thiên biên vân ngoại khách.
SIÊU TIẾP DẪN LỆ
Ví dụ 1: Năm Thuần Hựu thứ sáu (Bính Ngọ), ngày 13 tháng 4 (Nhâm Thân) là Lập Hạ. Mà ngày mồng 5 tháng ấy là Giáp Tý, tức là trước Lập Hạ 9 ngày. Thì nên từ mồng 5 trở đi, siêu ở trước, mượn dùng cuộc thượng nguyên kỳ của Lập Hạ. Từ ngày 10 (Kỷ Tỵ) là cuộc trung nguyên kỳ của Lập Hạ, đến ngày 16 (Giáp Tuất) dùng cuộc hạ nguyên kỳ của Lập Hạ. Đây là trước được kỳ, sau mới giao tiết, gọi là Siêu, gọi là Siêu thần tốc giả.
Ví dụ 2: Năm Thuần Hựu thứ bảy (Đinh Mùi), ngày 23 tháng 2 tuy giao Thanh Minh, đến ngày 25 mới là Kỷ Dậu, bắt đầu dùng cuộc thượng nguyên kỳ của Thanh Minh. Đây là trước giao tiết sau mới được kỳ, gọi là Tiếp, gọi là Tiếp khí trì giả.
Ví dụ 3: Lại như ngày 28 tháng 6 năm ấy (Kỷ Dậu) là Lập Thu, chính lúc tiết và ngày thần cùng đến, ngày ấy liền là cuộc thượng nguyên của Lập Thu, gọi là Chính thụ kỳ. Phàm đổi kỳ đều đổi vào giờ Tý.
Lại cần biết phép nhuận kỳ, mới có thể siêu tiếp được chân. Tích ngày để thành tháng nhuận, tích giờ để thành nhuận kỳ. Chính siêu nhuận tiếp có phép, phân kim định khắc khó minh. Cuộc lấy năm ngày một đổi, gặp một tiết khí thông đổi sáu cuộc. Phàm một tháng tiết khí tất có 30 ngày 5 giờ 2 khắc lẻ. Lấy 30 ngày chia 6 cuộc, lấy 5 giờ 2 khắc dư để đặt nhuận. Siêu thần chẳng quá mười ngày, gặp Mang Chủng, Đại Tuyết vượt quá chín ngày, thì đặt nhuận.
Ví dụ 4: Năm Bính Tuất, ngày mồng 1 tháng 5 là Kỷ Mão, đến ngày mồng 9 (Kỷ Mão?) giờ nào đó là Mang Chủng, kỳ siêu 9 ngày, thì nên đặt nhuận. Tức dùng ngày mồng 1 Kỷ Mão làm cuộc thượng siêu của Mang Chủng, ngày mồng 6 Giáp Thân làm cuộc trung siêu của Mang Chủng, ngày 11 Kỷ Sửu làm cuộc hạ siêu của Mang Chủng. Xong việc này, dùng lại một cuộc làm phép nhuận kỳ ba kỳ, lấy ngày 16 Giáp Ngọ làm Mang Chủng nhuận kỳ. Đó là phép siêu thần trí nhuận. Ngày 24 đã giao Hạ Chí, đó là vì đặt nhuận, mượn Hạ Chí 7 ngày. Tháng 5 thiếu, đến ngày mồng 2 tháng 6 (Kỷ Dậu) mới làm cuộc thượng nguyên của Hạ Chí, ngày mồng 7 (Giáp Dần) làm cuộc trung nguyên của Hạ Chí, ngày 12 (Kỷ Mùi) làm cuộc hạ nguyên của Hạ Chí, để làm tiếp khí vậy.
LẠI DẪN CHỨNG
Ví dụ: Năm Vạn Lịch thứ 24 (Bính Thân), mồng 9 tháng giêng, giờ Sửu, giao tiết Lập Xuân. Ngày mồng 9 (Bính Tý), giờ Tý đến giờ Sửu vẫn còn là cuộc hạ nguyên của Đại Hàn năm trước. Từ giờ Sửu đến giờ Hợi (11 giờ), ngày mồng 10 Đinh Sửu (12 giờ), ngày 11 Mậu Dần (12 giờ), tổng cộng 35 giờ đều mượn cuộc hạ nguyên của Lập Xuân. Dương Độn 2 cục, Khôn nhị khởi Giáp Tý, đây là tàn cuộc. Bởi vì ba ngày Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần là do tuần Giáp Tuất 5 ngày quản hạ, cho nên là hạ nguyên. Ngày 12 Kỷ Mão phù đầu mới đến, từ giờ Tý khởi đến giờ Hợi ngày Quý Mùi, tổng cộng 5 ngày, mới dùng cuộc thượng nguyên của Lập Xuân, Dương Độn 8 cung, Cấn thượng siêu Giáp Tý. Ngày 17 Giáp Thân đổi cuộc, từ giờ Tý đến giờ Hợi ngày Mậu Tý, tổng cộng 5 ngày, đều lấy cuộc trung nguyên của Lập Xuân, Dương Độn 5 cung, Trung cung khởi Giáp Tý. Ngày 22 Kỷ Sửu, từ giờ Tý đến giờ Mão ngày Tân Mão, tổng cộng 28 giờ, đều bổ túc số thiếu của cuộc hạ nguyên Lập Xuân trước. Đây là bổ cuộc.
Ngày 24 Tân Mão, giờ Thìn giao Vũ Thủy, đến giờ Hợi ngày 26 Quý Tỵ, tổng cộng 32 giờ, đều mượn cuộc hạ nguyên của Vũ Thủy, Dương Độn 3 cung, Chấn cung khởi Giáp Tý. Bởi vì ba ngày Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ là do tuần Kỷ Sửu quản hạ, cho nên là hạ nguyên. Ngày 27 Giáp Ngọ phù đầu mới đến, từ giờ Tý khởi đến giờ Hợi ngày mồng 1 tháng 2 (Mậu Tuất), tổng cộng 60 giờ, mới làm cuộc thượng nguyên của Vũ Thủy, Dương Độn 9 cung, Ly cung khởi Giáp Tý. Mồng 2 tháng 2 (Kỷ Hợi) từ giờ Tý đến giờ Hợi ngày mồng 6 (Quý Mão), 60 giờ, cuộc trung nguyên của Vũ Thủy, Dương Độn 6 cung, Càn cung khởi Giáp Tý. Mồng 7 (Giáp Thìn) 12 giờ, mồng 8 (Ất Tỵ) 12 giờ, mồng 9 (Bính Ngọ) đến giờ Tỵ, tổng cộng 30 giờ, đều bổ túc số thiếu của cuộc hạ nguyên Vũ Thủy trước. Trước từ giờ Thìn ngày Tân Mão tháng giêng đến giờ Hợi ngày Quý Tỵ, tổng cộng 32 giờ, còn thiếu 28 giờ, chẳng đầy một cuộc. Nay dùng 30 giờ này bổ, tổng cộng 62 giờ, là 5 ngày 2 giờ, là hạ nguyên, chính là phép bổ cuộc.
Ngày mồng 9 Bính Ngọ, giờ Ngọ giao tiết Kinh Trập. Từ giờ Ngọ đến giờ Hợi ngày Mậu Thân, tổng cộng 30 giờ, đều là cuộc hạ nguyên của Kinh Trập, Dương Độn 4 cung, Tốn cung khởi Giáp Tý, đây là tàn cuộc. Bởi vì ba ngày Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân cũng là do tuần Giáp Thìn quản hạ, cho nên là hạ nguyên. Ngày 12 Kỷ Dậu phù đầu mới đến, từ giờ Tý đến giờ Hợi ngày Quý Sửu, 5 ngày làm cuộc thượng nguyên của Kinh Trập, Dương Độn 1 cung, Khảm cung khởi Giáp Tý. Ngày 17 Giáp Dần từ giờ Tý đến giờ Hợi ngày Mậu Ngọ, 5 ngày làm cuộc trung nguyên của Kinh Trập, Dương Độn 7 cung, Đoài cung khởi Giáp Tý. Ngày 22 Kỷ Mùi 12 giờ, ngày 23 Canh Thân 12 giờ, đến ngày 24 Tân Dậu hết giờ Thân, tổng cộng 33 giờ, đều bổ túc số thiếu cuộc hạ nguyên Kinh Trập trước. Trước Kinh Trập 30 giờ là tàn cuộc, nay 33 giờ là bổ cuộc, tổng cộng 5 ngày 3 giờ xong một cuộc. Thà nhiều hơn 2,3 giờ, chẳng thể thiếu 60 giờ. Số giờ dư để ở phía sau làm nhuận.
Ví dụ: Năm Vạn Lịch thứ 27 (Kỷ Hợi), ngày 17 tháng 5 (Giáp Tý), giờ Tý là tiết Tiểu Thử, đây là phù và tiết cùng đến, gọi là Chính thụ kỳ. Các trường hợp khác suy theo đây.
Ngày mồng 3 tháng 8 (Kỷ Mão) là phù đầu đến, ngày mồng 4 Canh Thìn giờ Sửu là Thu Phân, đây là phù đến trước tiết đến sau, nên dùng phép Siêu.
Lại như năm Vạn Lịch thứ 26 (Mậu Tuất), ngày mồng 8 tháng giêng (Giáp Ngọ) phù đầu đã đến, ngày 15 giờ Tuất là Vũ Thủy, đây là phù đến trước tiết đến sau, nên dùng phép Siêu. Từ ngày mồng 8 tháng giêng Giáp Ngọ siêu khởi, từng tiết từng khí, siêu mãi. Siêu đến ngày 27 tháng 10 (Kỷ Mão) siêu dùng Đại Tuyết, cho đến ngày mồng 9 tháng 11 mới là tiết Đại Tuyết, đã qua 11 ngày, nên đặt nhuận. Ngày 13 Giáp Ngọ lặp lại làm tiết Đại Tuyết, đây gọi là Nhuận kỳ. Theo đó, từ ngày 13 tháng 11 tiếp lấy, từng tiết từng khí, đều phải tiếp đi, trực tiếp đến năm Vạn Lịch thứ 27 (Kỷ Hợi) ngày 17 tháng 5 (Giáp Tý) giờ Tý, chính giao tiết Tiểu Thử, đây gọi là Chính thụ kỳ. Theo đó, chính kỳ dùng đến ngày mồng 3 tháng 8 (Kỷ Mão) phù đầu đến, ngày mồng 4 là Thu Phân, đây là phù đến trước tiết sau, lại nên siêu dùng. Từ ngày mồng 4 Thu Phân siêu khởi, từng tiết từng khí, siêu cho đến năm Vạn Lịch thứ 29 (Tân Sửu), ngày 27 tháng 4 (Giáp Ngọ) siêu dùng Mang Chủng, ngày mồng 7 tháng 5 (Giáp Thìn) giờ Sửu giao tiết Mang Chủng, đã vượt quá 10 ngày, thế không còn lý siêu nữa, nên chỗ này đặt nhuận. Ngày 12 tháng nhuận 5 (Kỷ Dậu) lặp lại làm cuộc thượng nguyên của tiết Mang Chủng, Dương Độn 6 cung, Càn cung khởi Giáp Tý, đây gọi là Nhuận kỳ. Cho nên sách nói: "Trước Nhị chí có nhuận kỳ" là thế.
ĐỘN GIÁP SAI LẦM CẦN KIỂM ĐIỂM
Ca rằng: Lại hợp từ bên cạnh thêm kiểm điểm, các cung khác chớ có tì vết nhỏ.
Ví dụ: Nếu được ba môn Khai, Hưu, Sinh, lại hợp với ba kỳ Ất, Bính, Đinh, cũng chưa hẳn là toàn cát, vẫn còn kỵ các cung khác phạm cách. Tiên hiền giấu chỗ huyền cơ diệu, chẳng nói rõ nguyên do. Cho nên Kỳ Môn chẳng cát, trăm mười cách, không phạm cái này thì phạm cái khác, chẳng tinh cứu khó biết. Nếu các cung khác có phạm, mà được Trực Phù, Trực Sứ, Thời can tương tả (hỗ trợ), thì cũng chẳng sao. Bởi vì phù, sứ, can tả, là chủ tể nhất thời của tam kỳ bát môn.
Hoặc dùng Ất kỳ, các cung khác chớ để "đào tẩu", "sương cuồng". Canh gia Ất v.v. các cách không tốt. Còn các cách "đầu giang", "dược kiểu" không đủ kiêng.
Phép dùng độn, không suy bản mệnh hành niên, chưa thấy tinh diệu. Ắt phải mệnh năm sinh của người thừa cát tinh, kỳ môn sinh vượng chi phương của cuộc cục, mới được thần tướng hộ trì, không gì chẳng lợi. Nếu mệnh vào cung tù, tử, hình, khắc, lại thêm ác tinh, dù mưu việc hợp với sinh, khai cát môn, rốt cuộc chẳng tốt. Cho nên khiển tướng trước chọn người có năm mệnh lợi làm chủ, bằng không thì phải đợi Trực Phù dời đổi mới được.
Phép lấy mệnh sống tùy theo cuộc cục thuận nghịch làm chủ, hành niên theo mệnh, đếm đến cung đậu là đúng. Nam thuận cung Dần, nữ nghịch cung Thân, đều khởi Ngũ Hổ độn. Sự sinh khắc hình hại của cung đậu, phải dùng nạp âm mà luận. Tuế nguyệt dùng chi. Bởi vì phương góc sinh thành chi thần, mệnh năm dùng âm, là vì tám phương có ngũ mệnh chi oánh (vùng sáng). Nhân năm ngày là một cuộc, một cuộc 60 giờ, mà trong một giờ, thiện ác chẳng đồng, nếu không tham khảo với năm mệnh, sao có thể tận dụng được cái đẹp?
Ví dụ: Tam Kỳ đắc sứ: Ất kỳ gia Thiên bàn Giáp Tuất, Giáp Ngọ là được. Nhưng Ất kỳ gia Giáp Ngọ Tân thượng, là "Thanh Long đào tẩu". Bính kỳ đắc sứ gia Giáp Thân Canh thượng, "Hỏa nhập kim hương", tên là "Huỳnh nhập Thái Bạch". Đinh kỳ đắc sứ gia Giáp Dần Quý thượng, là "Chu Tước đầu giang", đều không thể dùng. Nếu gặp Trực Phù của bản tuần lâm trên đó, thì có thể dùng.
