Tiêu chuẩn vượng suy ngũ hành của địa chi Tam Hội Cục và hỷ kỵ

Học tập Kỳ Môn Độn Giáp – Tiêu chuẩn vượng suy ngũ hành của địa chi Tam Hội Cục và hỷ kỵ

Kỳ Môn Độn Giáp Can Chi học thuyết là một hệ thống học thuật hoàn chỉnh. Hôm nay chúng ta học thấu đáo về địa chi, giảng giải về địa chi Tam Hội Cục. Tam Hội Cục chính là: Dần Mão Thìn hội Mộc cục, Tỵ Ngọ Mùi hội Hỏa cục (hay còn gọi là hội Hồng cục), Thân Dậu Tuất hội Kim cục, Hợi Tý Sửu hội Thủy cục. Tam Hội Cục đều lấy Thìn – Tuất – Sửu – Mùi (tứ mộ khố) làm kết thúc, trên chưởng quyết thuộc về Tứ Lập.

Tam Hội Cục nhìn bề ngoài rất đơn giản, dễ thuộc lòng, nhưng bất kỳ thuật pháp nào cũng không thể chỉ dựa vào việc học thuộc lòng mà vận dụng. Chỉ khi hiểu rõ nguyên lý thực sự của nó, khi vận dụng mới linh hoạt và đa biến hơn. Kỳ Môn Độn Giáp vận dụng địa chi Tam Hội tương hỗ bổ trợ lẫn nhau, lấy nhau làm căn cơ. Đại đạo đại thuật vạn pháp, tiểu đạo tiểu thuật tiểu pháp, vô đạo thì vô thuật vô pháp.

Tam Hội Cục trong đó, Dần Mão Thìn hội Mộc cục: Dần chủ lệnh Mạnh Xuân, Mộc vượng vào mùa Xuân. Dần là Mạnh, Mão là Trọng, Thìn là Quý. Mạnh Xuân chính là bản khí của Dần Mộc. Trong bốn mùa, khí Thổ đếm ngược 12 ngày để thu thập dư khí của bốn mùa, tức là khi Thìn – Tuất – Sửu – Mùi bước vào khí Thổ ở ngày đếm ngược thứ 12, chúng sẽ thu nạp dư khí của bốn mùa.

Hội” nghĩa là tụ hợp, khép lại, hợp lại với nhau, rất giống với chữ “hội” (匯) ngày nay. Toàn bộ Tam Hội Cục tụ hợp toàn bộ sức mạnh của cả một mùa, tức là tổng hợp và vận dụng sức mạnh của Mạnh – Trọng – Quý. Tam Hội Cục Dần Mão Thìn so với Tam Hợp Cục Hợi Mão Mùi, dù cùng là Mộc cục, nhưng sức mạnh của Tam Hội Cục mạnh hơn rất nhiều so với Tam Hợp Cục. Dùng khoa học hiện đại để giải thích: địa chi Tam Hội vừa có sự biến đổi về mặt vật lý, vừa có sự biến đổi về mặt hóa học, thuộc phạm trù chất biến (biến đổi bản chất). Lấy Mộc cục làm ví dụ: Dần Mão vốn là Mộc, Thìn là Thổ. Sau khi Dần Mão kết hợp, chúng làm cho Thìn Thổ xảy ra chất biến, khiến Thổ chuyển hóa về bản chất thành Mộc. Giống như khí Hydro kết hợp với khí Oxy tạo thành nước, thì Dần Mão Thìn chính là một loại chất biến theo hướng hóa học, chứ không phải lượng biến của hiện tượng vật lý.

1. Dần Mão Thìn Tam Hội Mộc Cục

Trong cục diện Kỳ Môn Độn Giáp, chỉ cần có đủ ba địa chi Dần, Mão, Thìn, tức là Dần Mão Thìn Tam Hội Mộc Cục.

  • Trong sáu tháng lệnh: Dần, Mão, Thìn, Mùi, Hợi, Tý → Tam Hội Mộc Cục thuộc vượng tướng (gọi là Tam Hội Cục vượng, dưới đây tương tự).
  • Trong sáu tháng lệnh: Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu, Tuất, Sửu → Tam Hội Mộc Cục thuộc suy nhược (gọi là Tam Hội Cục suy).

Dần Mão Thìn Tam Hội Mộc Cục biểu thị sức mạnh của Dần Mão Mộc tăng lên, bản chất của Thìn Thổ không còn tồn tại nữa mà biến hóa thành Mộc. Nếu nhật chủ hỷ Mộc, thì đại diện cho thông tin dụng thần vận khí tốt và thân thể khỏe mạnh. Nếu dụng thần kỵ Mộc, thì đại diện cho dụng thần vận khí không tốt, đồng thời kinh Can, kinh Đởm, kinh Tỳ Vị, kinh Thận… có bệnh.

2. Tỵ Ngọ Mùi Tam Hội Hồng Cục (Tam Hội Hỏa Cục)

Trong cục diện Kỳ Môn Độn Giáp, chỉ cần có đủ ba địa chi Tỵ, Ngọ, Mùi, tức là Tỵ Ngọ Mùi Tam Hội Hồng Cục.

  • Trong sáu tháng lệnh: Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Mùi, Tuất → Tam Hội Hồng Cục thuộc vượng tướng.
  • Trong sáu tháng lệnh: Thìn, Thân, Dậu, Hợi, Tý, Sửu → Tam Hội Hồng Cục thuộc suy nhược.

Tỵ Ngọ Mùi Tam Hội Hồng Cục biểu thị sức mạnh của Tỵ Ngọ Hỏa tăng lên, bản chất của Mùi Thổ không còn tồn tại nữa mà biến hóa thành Hỏa. Nếu dụng thần hỷ Hỏa, thì đại diện cho dụng thần vận khí tốt và thân thể khỏe mạnh. Nếu dụng thần kỵ Hỏa, thì đại diện cho dụng thần vận khí không tốt, đồng thời kinh Can Đởm, kinh Phế, kinh Tỳ Vị, kinh Thận… có bệnh.

3. Thân Dậu Tuất Tam Hội Kim Cục

Trong cục diện Kỳ Môn Độn Giáp, chỉ cần có đủ ba địa chi Thân, Dậu, Tuất, tức là Thân Dậu Tuất Tam Hội Kim Cục.

  • Trong sáu tháng lệnh: Thìn, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Sửu → Tam Hội Kim Cục thuộc vượng tướng.
  • Trong sáu tháng lệnh: Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Hợi, Tý → Tam Hội Kim Cục thuộc suy nhược.

Thân Dậu Tuất Tam Hội Kim Cục biểu thị sức mạnh của Thân Dậu Kim tăng lên, bản chất của Tuất Thổ không còn tồn tại nữa mà biến hóa thành Kim. Nếu dụng thần hỷ Kim, thì đại diện cho dụng thần vận khí tốt và thân thể khỏe mạnh. Nếu dụng thần kỵ Kim, thì đại diện cho dụng thần vận khí không tốt, đồng thời kinh Can Đởm, kinh Tỳ Vị, kinh Phế… có bệnh.

4. Hợi Tý Sửu Tam Hội Thủy Cục

Trong cục diện Kỳ Môn Độn Giáp, chỉ cần có đủ ba địa chi Hợi, Tý, Sửu, tức là Hợi Tý Sửu Tam Hội Thủy Cục.

  • Trong sáu tháng lệnh: Thìn, Thân, Dậu, Hợi, Tý, Sửu → Tam Hội Thủy Cục thuộc vượng tướng.
  • Trong sáu tháng lệnh: Dần, Mão, Tỵ, Ngọ, Mùi, Tuất → Tam Hội Thủy Cục thuộc suy nhược.

Hợi Tý Sửu Tam Hội Thủy Cục biểu thị sức mạnh của Hợi Tý Thủy tăng lên, bản chất của Sửu Thổ không còn tồn tại nữa mà biến hóa thành Thủy. Nếu dụng thần hỷ Thủy, thì đại diện cho dụng thần vận khí tốt và thân thể khỏe mạnh. Nếu dụng thần kỵ Thủy, thì đại diện cho dụng thần vận khí không tốt, hoặc kinh Tâm, kinh Can Đởm, kinh Tỳ Vị… có bệnh.

Tam Hội Cục trong toàn bộ hệ thống thuật số có ứng dụng rất rộng rãi, đối với cát hung họa phúc của con người, biến hóa bệnh lý, đều có căn cứ rất khách quan. Toàn bộ Tam Hội Cục còn lấy Tý – Ngọ – Mão – Dậu làm trung tâm cốt lõi để cấu thành. Khi bất kỳ Tam Hợp Cục nào gặp Tam Hội Cục đều phải nhường bước.

Trong Tam Hợp Cục có hiện tượng bán hợp (ví dụ trong Hợi Mão Mùi Tam Hợp Cục, Hợi Mão hoặc Mão Mùi đều có thể tạo thành bán hợp cục). Về bán hợp cục sẽ giảng chi tiết khi ứng dụng. Nhưng trong Tam Hội Cục thì không có bán hội hình thành, vì toàn bộ Tam Hội Cục được cấu thành bởi Mạnh – Trọng – Quý, thiếu một cái cũng không được. Đây là điều kiện tiên quyết để hình thành Tam Hội Cục, chỉ có “hội” hoặc “không hội”.

Tam Hội Cục cần là Mạnh – Trọng – Quý tụ hợp thành một sức mạnh, ba cái thiếu một không được, đây là điều kiện quan trọng. Một khi Tam Hội Cục hình thành và xảy ra hiện tượng xung khắc với Tam Hợp Cục, thì Tam Hợp Cục phải nhường bước, vì sức mạnh của cục (Tam Hội) lớn hơn rất nhiều so với Tam Hợp Cục.