TINH HOA KỲ MÔN ĐỘN GIÁP TÔNG THỐNG

TINH HOA KỲ MÔN ĐỘN GIÁP TÔNG THỐNG

Mười điều tổng luận

  1. Kỳ Môn đã thất truyền từ lâu, mỗi người dựng một ngọn cờ riêng, coi cái của mình là quý như vàng, không thể phân biệt đúng sai. Nay mỗi chữ mỗi nghĩa, nếu có hai, ba thuyết khác nhau thì xin cùng lưu giữ lại để tham khảo.

  2. Kỳ Môn có nhiều thuyết khác nhau, lấy thuyết nào hợp lý, chính thống làm hàng đầu, ghi trước; những thuyết khác ghi sau hoặc chú thích riêng là thứ yếu. Không dám tự ý lấy bỏ, nhưng cũng phần nào thấy được sự hơn kém.

  3. Kỳ Môn trong việc binh có rất nhiều điều kiêng kỵ. Ngoài Tam Thắng, Ngũ Bất Kích, còn có Thái Tuế, Nguyệt Kiến đều không nên đánh. Chỗ có vượng khí cũng nên tránh, đó là câu "xuân không đánh phía đông, thu không đánh phía tây". Cùng với Đại Đình Đình, Bạch*, Tam Môn, Tứ Hộ, Đại Mã Phương... đều phải tra cứu theo tuế, nguyệt, thái dương, sách viết không dám ghi sẵn.

  4. Kỳ Môn coi trọng nhất là cách cục (Cát Cách, Hung Cách). Ví dụ như Long Hồi Thủ, Điểu Điệt Hốt là cát (lành); nếu gặp Canh làm Trực Phù thì là Cách Bột, Cách Bột không thể dùng. Long Tẩu, Tước Đầu là hung (dữ), nhưng chủ phương không bị hại; Hổ Cuồng, Xà Kiêu là hung, nhưng khách phương không bị hại. Đều có hoạt quyết (phép linh hoạt), không thể đánh đồng.

  5. Kỳ Môn khi chọn lựa (ngày giờ tốt) coi trọng nhất là suy, vượng, hưu, tù. Ví dụ Khai Môn vốn là cửa tốt, nhưng bản tính thuộc Kim, nếu lâm vào cung Thổ, cung Kim hoặc các tháng cuối hạ (Thìn, Mùi, Tuất, Sửu - quý tam hạ) và ba tháng mùa thu (Thân, Dậu, Tuất), tức là được thời được đất, đó là thời điểm rất tốt. Nếu vào mùa xuân, mùa hè mà lâm vào cung Mộc, Hỏa, thì khí Kim suy yếu lớn, há có thể cho là tốt? Tám cửa đều như vậy, Tam Kỳ cũng vậy.

  6. Kỳ Môn khi chọn lựa lấy Hội Hợp (Kỳ môn tương hội) làm thượng cát. Nếu có môn mà không có kỳ, vẫn có thể dùng; có kỳ mà không có môn, thì nên chọn lựa cách khác. Tuy nhiên, như săn bắn dùng Thương Môn, trốn chạy dùng Đỗ Môn, phúng viếng dùng Tử Môn... đều phải chọn đúng lúc đúng đất (được thời được địa) mới là thượng cát, không nhất thiết chỉ coi trọng Kỳ và Môn.

  7. Kỳ Môn chọn đất âm trạch (mồ mả) và dương trạch (nhà cửa), người học nông cạn chỉ biết Hội Hợp là thượng cát, mà không biết rằng dương trạch cần mệnh chủ nhà (sinh mệnh của gia chủ) phối hợp với sinh vượng của môn và kỳ; âm trạch cần phối hợp với Sơn Đầu (hướng núi) và Hóa Mệnh (mệnh của người đã khuất) để được sinh vượng của môn và kỳ. Các lý như Thiên Lộc, Thiên Đức, Thiên Quý, Thiên Mã, Tam Hợp, Lục Hợp cũng nên tham khảo.

  8. Kỳ Môn chỉ dùng để chọn lựa (ngày giờ) thì có thể bỏ qua nhiều yếu tố khác, nhưng cũng phải kiểm điểm, nhất định phải phối hợp với Đẩu Thủ Ngũ Hành, Thái Dương, các sao xấu tốt (Cát Tinh, Hung Sát), không có kiêng kỵ và lại hợp với Kỳ Môn mới là vạn cát. Những nhà xây nhà, cải táng, thường có khi tính đến mười mấy năm sau mới được, bởi vì muốn cầu cái thuần cát không có hung, rất khó.

  9. Phép chiêm đoán Kỳ Môn phải phân biệt dụng của động và tĩnh. Tĩnh thì chỉ tra Trực Phù, Trực Sứ, Thời Cán, xem chúng sinh, khắc, suy, vượng thế nào; động thì chuyên xem phương hướng. Bởi vì động là cơ manh nha hiện ra trước. Ví dụ nghe tin việc phương nam thì chiêm quẻ Ly; nghe tin việc phương bắc thì chiêm quẻ Khảm. Phàm chim kêu (quạ kêu, chích chòe hót), phía đông kêu thì xem quẻ Chấn, phía tây kêu thì xem quẻ Đoài. Đây đều không thể "cổ sắt cầm sắt" (câu nệ), "khắc thuyền cầu kiếm" (cứng nhắc) được. Các lệ chiêm khác cũng như vậy.

  10. Phép chiêm Kỳ Môn, các thuyết không giống nhau. Ví dụ như chiêm thời tiết, có thuyết chuyên xem Trực Phù, có thuyết chuyên xem cách cục, có thuyết chuyên xem Bồng, Anh là hai sao Thủy, Hỏa, có thuyết chuyên xem Nhâm, Quý, Bính, Đinh là cai quản mưa nắng, có thuyết chuyên xem Phong Sư, Vũ Bá, Lôi Công, Điện Mẫu... Các thuyết đó không thể cho là hoàn toàn sai, lý cũng không thể bỏ hẳn. Lâm thời hội ý, đầu mối rối ren, linh cơ xúc động, đều khó phán đoán trước. Các lệ chiêm khác cũng như vậy.

Ba điều cuối rất hợp lý.


TỔNG PHÚ BÍ QUYẾT KỲ MÔN

Giáp gia lâm Bính, Long hồi thủ,
Bính gia lâm Giáp, Điểu điệt hốt.
Hồi thủ thì duyệt dịch dịch (vui vẻ dễ dàng),
Điệt hốt thì hiển trác dịch thành (hiển hách dễ thành).

Thân tàn hủy hề, Ất ngộ Tân nhi Long tẩu (Long chạy trốn);
Tài hư hao hề, Tân ngộ Ất nhi Hổ xướng cuồng (Hổ cuồng).
Quý kiến Đinh, Đằng Xà yêu kiểu (Rắn uốn éo);
Đinh kiến Quý, Chu Tước đầu giang (Chim sẻ xuống sông).

Sinh Bính lâm Mậu, Thiên độn (Thiên Độn) dụng binh;
Khai Ất lâm Kỷ, Địa độn (Địa Độn) an phần (mồ mả);
Hưu Đinh ngộ Thái Âm, Nhân độn (Nhân Độn) an dinh (cắm trại).

Canh lâm Nhật Cán, phục cán cách (Phục Cán);
Nhật Cán lâm Canh, phi cán cách (Phi Cán).
Canh lâm Trực Phù, phục cung cách chi danh (Phục Cung);
Trực Phù lâm Canh, phi cung cách chi thuyết (Phi Cung).

Đại cách: Canh lâm Lục Quý.
Hình cách: Canh lâm Lục Kỷ.
Thời Cán khắc Nhật Cán, ngũ bất ngộ tai sinh (năm không gặp);
Bính kỳ lâm Thời Cán, bột cách họa khởi (Bột Cách).

Tam Kỳ đắc sử (Tam Kỳ được dùng), chúng thiện giai trăn (mọi lành đều đến);
Lục Nghi kích hình, bách hung câu tập (trăm dữ đều tụ).

Thái Bạch (Canh) gia Phù (Bính), tặc dục lai (giặc muốn đến);
Hỏa nhập Kim hương (Bính gia Canh), tặc tương khứ (giặc sắp đi).

Địa La giáo chướng bất năng tiền (không thể tiến lên);
Thiên Cương tứ trương vô tẩu lộ (không đường chạy).

Trực Phù cung đồng Thiên Ất vị nhi thủ (lấy cung Trực Phù làm vị trí Thiên Ất),
Như phùng cấp nan, nghi tùng Trực Phù phương hạ nhi hành (nên đi theo phương Trực Phù).

Thái Âm tiềm hình nhi ẩn tích (ẩn mình),
Lục Hợp độn thân nhi mưu nghị (bàn mưu).

Cửu Thiên chi thượng dương uy vũ (giương uy),
Cửu Địa chi hạ nặc binh mã (giấu quân).

Thảng tam điệt chi đắc kỳ môn (nếu ba lần được Kỳ Môn),
Nhược giao long chi đắc vân vũ (như giao long được mây mưa).

Kiến lục hợp chi phùng sát cục (gặp sát cục mà có Lục Hợp),
Như hổ lang chi sản vũ dực (như hổ lang mọc cánh).

Kỵ thủ hưu tù, phòng kỳ hình kích (kiêng hưu tù, phòng hình khắc).
Thần tàng sát một, phương hòa vạn sự (Thần ẩn Sát mất, mọi việc mới hòa hợp).

Giai hòa phản ngâm, phục ngâm (phản ngâm, phục ngâm),
Tri thị cang ánh sổ tập (biết là tai họa dồn dập).

Hòa hoặc kỳ phùng vượng tướng (kỳ gặp vượng tướng),
Thị vi phú quý chi mưu (mưu đồ phú quý).

Môn phùng Hưu, Khai (gặp cửa Hưu, Khai),
Phương hiệp anh hùng chi ứng (ứng với bậc anh hùng).

Như ngộ Thanh Long phản thủ (Long về đầu),
Trực Giáp Ất chi diệu tường (diệu ứng của Giáp Ất).

Nhược phùng Bạch Hổ xướng cuồng (Hổ cuồng),
Kiến Canh Tân hung chi họa đoan (mối họa hung của Canh Tân).

Nhược kiến Đằng Xà yêu kiểu (Rắn uốn éo),
Tri Nhâm Quý chi tranh vinh (sự cạnh tranh của Nhâm Quý).

Nhược ngộ Chu Tước đầu giang (Chim sẻ xuống sông),
Quản Bính Đinh chi yêu quái (yêu quái của Bính Đinh).

Nhược kiến Phi Điểu điệt hốt (Chim bay xuống hang),
Tiện vân bách sự giai thần (trăm việc đều thần diệu).

Quý nhân đăng đàn (Quý nhân lên đàn),
Quản thủ Cửu cung câu khánh (chín cung đều mừng).


Âm Dương nhị độn phân thuận nghịch,

Nhất khí tam nguyên nhân mạc trắc.
Ngũ nhật đô lai hoán nhất nguyên,
Tiếp khí siêu thần vi chuẩn đích.

Cát môn nhưng hựu hợp tam kỳ,
Đại khái tu vân bách sự nghi.
Kỳ gian thảng hoặc đa hung cát,
Nhất thiên vị túc cứu tinh vi.

Tam Kỳ đắc sử thành khả thủ,
Ất quy khuyển mã (Tuất, Ngọ), Bính thử hầu (Tý, Thân),
Lục Đinh ngọc nữ kỵ long hổ (Dần, Thìn, Tuất, Sửu? Thực tế: Đinh kỵ Dần, Thân? Cần tra: Ngọc nữ kỵ long hổ là Đinh gia Mậu, Kỷ? Để nguyên "cưỡi rồng hổ").

Hựu hữu tam kỳ du lục nghi (Tam Kỳ du Lục Nghi),
Hiệu vi Ngọc Nữ thủ môn thời.
Phàm tác âm tư hòa hợp sự,
Thỉnh quân đàn hướng thử trung suy.

Tựu trung phục ngâm vi tối hung,
Thiên thượng Bồng gia địa thượng Bồng.
Nhị Bồng nhược tại Thiên Anh thượng,
Tu tri tiện thị phản ngâm cung.

Giả nhiêu cát túc đắc kỳ môn,
Vạn sự giai hung bất kham sử.

Lục Nghi kích hình vi đại hung,
Giáp Tý Trực Phù sầu hướng đông (cung 3 Mão).
Tuất hình tại Mùi (cung 2), Thân tại Dần (cung 8),
Dần Tỵ Thìn Thần Ngọ hình Ngọ (cung 9).

Tam Kỳ nhập mộ khả thôi tường,
Ất nhật na kham kiến Mùi thời (mộ tại Tuất? Thực tế Ất mộ tại Tuất, ở cung Càn. Nguyên văn "Ất nhật na kham kiến Mùi thời" có lẽ ý nói Ất lâm Mùi? Cần giữ nguyên: Ất ngày nào có thể chịu được giờ Mùi?).
Bính Đinh nhập hỏa hỏa mộ Tuất (Bính, Đinh mộ tại Tuất),
Thử thời chư sự bất tu vi.

Cánh hiềm lục Ất lai lâm nhị (cung 2 Khôn? Ất đến cung 2 là nhập mộ?),
Bính Đinh lâm lục diệc như chi (Bính Đinh đến cung 6 Càn cũng vậy).

Hựu hữu thời can nhập mộ trung,
Khóa trung thời hạ kỵ tương phùng.
Ất Mùi, Nhâm Thìn kiêm Bính Tuất,
Tân Sửu đô lai tận thị hung.

Ngũ bất ngộ hề long bất tinh,
Hiệu vi nhật nguyệt tổn quang minh.
Thời cán lai khắc nhật can thượng,
Giáp nhật tu tri thời kỵ Canh.
Ất kỵ Tân hề Bính kỵ Nhâm,
Đinh kỵ Quý hề Mậu kỵ Giáp.

Kỳ dữ tù hề cộng Thái Âm,
Tam ban nan đắc tổng lai lâm.
Nhược giao đắc nhị giai vi mục,
Học tổn hành tàng đắc toại tâm.

Thiên Ất chi nhân sở tại cung,
Đại tướng trực cư kích đối xung.
Giả như Trực Phù cư Ly cửu,
Thiên Anh tọa thủ kích Thiên Bồng.

Giáp Ất Bính Đinh Mậu dương thời,
Thần cư thiên thượng yếu quân tri.
Tọa kích hướng thiên thượng kỳ,
Âm như địa hạ diệc đồng chi.

Nhược kiến tam kỳ tại ngũ dương,
Tiện nghi vi chủ tự cường cao.
Hốt nhiên ngộ trước ngũ âm thượng,
Lợi nghi vi khách hảo thôi tường.

Trực Phù Cửu Thiên khả trần binh,
Cửu Địa phục tàng thành khả bằng.
Phục binh đàn hướng Thái Âm vị,
Duy hữu Lục Hợp khả độn hình.

Thiên Địa nhân phân tam độn tầm,
Thiên độn nhật tinh hoa cái lâm.
Địa độn nguyệt tinh tử viếc,
Nhân độn đương tri thị Thái Âm.

Sinh môn lục Bính lâm lục Mậu,
Thử vi Thiên độn thị phân minh.
Khai môn lục Ất lâm lục Kỷ,
Địa độn như tư nhi dĩ hỹ.
Hưu môn lục Đinh hợp Thái Âm,
Dục thức Nhân độn mạc quá thử.

Yếu tri tam độn hà sở nghi,
Hình tàng ảnh ẩn tư vi mỹ.

Canh vi Thái Bạch, Bính vi Phù Hoắc,
Canh Bính tương gia thùy hội đắc.
Lục Canh gia Bính Bạch nhập Phù,
Lục Bính gia Canh Phù nhập Bạch.
Bạch nhập Phù hề tặc tức lai,
Phù nhập Bạch hề tặc dục cách.

Bính vi bột hề Canh vi cách,
Cách tắc bất thông, bột loạn nghịch.
Canh gia lục Giáp vi phục cán,
Giáp gia lục Canh phi cán cách.
Canh gia Trực Phù Thiên Ất phục,
Trực Phù gia Canh Thiên Ất phi.

Gia nhất cung hề chiến tại dã,
Đồng nhất cung hề chiến quốc trung.
Canh gia Quý hề vi đại cách,
Gia Kỷ vi hình đại bất nghi.
Gia Nhâm chi thời vi tiểu cách,
Cách hiềm tuế nguyệt nhật thời di.

Cánh hữu nhất bản thời cách giả,
Lục Canh thận vật gia tam kỳ.
Thử cục nhược hoàn hành sư khứ,
Thất mã đơn luân vô phản kỳ.

Lục Quý gia Đinh Đằng Xà kiểu,
Lục Đinh gia Quý Tước nhập thủy.
Lục Tân gia Ất Hổ xướng cuồng,
Lục Ất gia Tân Long tẩu thoát.

Chư quân tứ thị viết hung thần,
Phàm sự ngộ chi nghi bất bình.

Bính gia Giáp hề Điểu điệt hốt,
Giáp gia Bính hề Long hồi thủ.
Chỉ thử nhị giả thị cát thần,
Vi sự gia cát thập bát cửu.

Bát môn nhược ngộ Hưu, Khai, Sinh,
Chư sự ngộ chi tổng xưng tình.
Thương nghi bổ liệp chung tu hoạch,
Đỗ hảo đào già cánh ẩn hình.
Cảnh sĩ đầu thư dữ phá trận,
Tử duy du liệp táng mai nghi.
Thí vấn Kinh môn hà sở ích,
Bắt bộc công đình hiệu thị phi.

Bồng, Nhậm, Xung, Phụ, Cầm dương tinh,
Anh, Nhuế, Trụ, Tâm âm túc ích.
Phụ, Cầm, Tâm tinh vi đại cát,
Xung, Nhậm tiểu cát vị toàn hanh.
Đại hung Bồng, Nhuế bất kham ngộ,
Tiểu hung Anh, Trụ tại trung cung.
Đại hung vô khí giao vi tiểu,
Tiểu hung hữu khí diệc đinh ưu.
Cát túc cánh năng phùng vượng tướng,
Vạn cử vạn toàn công tất thành.


BỐN MƯƠI CÁCH CỦA KỲ MÔN (KỲ MÔN TỨ THẬP CÁCH)

  • Long hồi thủ (Rồng quay đầu): Giáp (Trực Phù) + địa bàn Bính Kỳ.

  • Điểu điệt hốt (Chim sa xuống hang): Bính Kỳ + địa bàn Giáp (Trực Phù).

  • Thiên độn (Trời lánh): Sinh Môn + Bính Kỳ, lại có Khai Môn + Lục Bính (có bản nói Sinh Môn + Bính Kỳ lâm Mậu).

  • Địa độn (Đất lánh): Khai Môn + Ất Kỳ lâm Kỷ.

  • Nhân độn (Người lánh): Hưu Môn + Đinh Kỳ lâm Thái Âm.

  • Vân độn (Mây lánh): Hưu, Khai, Sinh + Ất Kỳ, địa bàn Lục Tân.

  • Phong độn (Gió lánh): Hưu, Khai, Sinh lâm Ất Kỳ, địa bàn Tốn cung.

  • Long độn (Rồng lánh): Hưu Môn + Ất Kỳ hợp Khảm cung.

  • Hổ độn (Hổ lánh): Hưu Môn + Ất Kỳ hợp Cấn, Tân.

  • Thần độn (Thần lánh): Hưu Môn + Ất Kỳ hợp Cửu Thiên.

  • Quỷ độn (Ma lánh): Ất Kỳ hợp Cửu Địa + Đỗ Môn.

  • Long tẩu thoát (Rồng chạy trốn): Ất Kỳ gặp Tân.

  • Hổ xướng cuồng (Hổ cuồng): Tân gặp Ất Kỳ.

  • Xà yêu kiểu (Rắn uốn éo): Quý gặp Đinh Kỳ.

  • Tước đầu giang (Chim sẻ xuống sông): Đinh Kỳ gặp Quý.

  • Tam Kỳ đắc sử (Ba kỳ được dùng): Ất Kỳ + Giáp Ngọ, Giáp Tuất; Bính Kỳ + Giáp Tý, Giáp Thân; Đinh Kỳ + Giáp Dần, Giáp Thìn.

  • Ngọc Nữ thủ môn (Ngọc nữ giữ cửa): Giáp Kỷ thời - Bính; Ất Canh thời - Tân; Bính Tân thời - Ất; Đinh Nhâm thời - Kỷ; Mậu Quý thời - Nhâm.


THẬP CAN CHI PHÙ (MƯỜI CAN - KỲ MÔN CÁCH)

  • Đại cách: Canh lâm Lục Quý.

  • Hình cách: Canh lâm Lục Kỷ.

  • Tuế cách (Cách năm): Canh lâm Tuế cán (Niên Cán).

  • Nguyệt cách (Cách tháng): Canh lâm Nguyệt cán.

  • Nhật cách (Cách ngày): Canh lâm Nhật cán.

  • Thời cách (Cách giờ): Canh lâm Thời cán.

  • Tam kỳ (Ba kỳ): [Chú thích: đây là đầu mục, nội dung ngắn]

  • Tiểu cách: Canh lâm Nhâm.

  • Phục cung: Canh lâm Trực Phù.

  • Phục cán: Canh lâm Nhật cán.

  • Phi cán cách: Nhật cán lâm Canh.


THÁI BẠCH NHẬP PHÙ (KIM NHẬP HỎA) - PHÙ NHẬP THÁI BẠCH (HỎA NHẬP KIM)

  • Thái Bạch nhập Phù (Kim vào lửa): Lục Canh + Bính Kỳ, lại Canh + Mão nhật, Dậu thời, Đinh? (nguyên văn "Lục Canh gia Bính kỳ hựu Canh gia Mão nhật thời Dậu Đinh" - khó hiểu, dịch sát: Lục Canh gia Bính Kỳ, lại Canh gia Mão nhật, giờ Dậu, Đinh).

  • Hỏa nhập Kim hương (Lửa vào chỗ Kim): Bính Kỳ + Lục Canh Kim, lại Bính Kỳ + Kinh Môn dụng Trực Phù chi Canh Tân.


PHẢN NGÂM, PHỤC NGÂM

  • Phản ngâm: Sao (Cửu Tinh) lâm cung đối xứng (xung cung).

  • Phục ngâm: Sao lâm cung của chính nó.


NGŨ BẤT NGỘ CÁCH

  • Ngũ bất ngộ cách: Thời cán khắc Nhật cán.

TAM KỲ NHẬP MỘ

  • Tam Kỳ nhập mộ:

    • Ất Kỳ: cung Khôn (Mùi, Thân? Ất mộ tại Tuất - cung Càn, nhưng nguyên văn ghi "Ất Kỳ Khôn cung" - có thể theo một phái khác. Dịch giữ nguyên: Ất Kỳ cung Khôn).

    • Bính Kỳ: cung Càn (Tuất).

    • Đinh Kỳ: cung Cấn (Sửu).

THỜI MỘ

  • Thời mộ: Dùng can của giờ nhập mộ (ví dụ giờ Mùi, Tuất, Sửu, Thìn).


LỤC NGHI KÍCH HÌNH

  • Giáp Tý Trực Phù: cung 3 (Mão)

  • Giáp Tuất Trực Phù: cung 2 (Khôn - Mùi? Thực tế Tuất hình Mùi)

  • Giáp Thân Trực Phù: cung 8 (Cấn - Dần? Thực tế Thân hình Dần)

  • Giáp Ngọ Trực Phù: cung 9 (Ly - Ngọ)

  • Giáp Thìn Trực Phù: cung 4 (Tốn - Thìn? Thìn tự hình)

  • Giáp Dần Trực Phù: cung 4 (Tốn - Dần hình Tỵ? Có khác biệt, dịch nguyên bản: Giáp Dần cung 4)


LỤC NGHI THỤ CHẾ (Sáu nghi bị chế ngự)

  • Hưu môn + cung Ly (Thủy khắc Hỏa, Hưu Thủy bị Ly Hỏa khắc - "khắc nhập" hay "thụ chế"? Thực tế là môn sinh cung hay cung khắc môn? Ở đây "thụ chế" là môn bị cung khắc. Dịch giữ nguyên các cặp:

    • Hưu (Thủy) + Ly (Hỏa) -> Hỏa khắc Thủy? Nhưng Hưu là Thủy, Ly là Hỏa, Thủy khắc Hỏa mới đúng. Có thể họ ghi "thụ chế" theo nghĩa môn bị thương tổn? Để nguyên: Hưu gia Ly.

    • Thương (Mộc) + Khôn (Thổ) -> Mộc khắc Thổ.

    • Đỗ (Mộc) + Cấn (Thổ) -> Mộc khắc Thổ.

    • Cảnh (Hỏa) + Càn (Kim) -> Hỏa khắc Kim.

    • Sinh (Thổ) + Đoài (Kim) -> Thổ sinh Kim, không phải khắc. Có lẽ ý nói Sinh Thổ bị Đoài Kim tiết? Ghi theo nguyên văn: Sinh gia Đoài.

    • Tử (Thổ) + Khảm (Thủy) -> Thổ khắc Thủy.

    • Khai (Kim) + Chấn (Mộc) -> Kim khắc Mộc.

    • Kinh (Kim) + Tốn (Mộc) -> Kim khắc Mộc.
      => Thực tế đây là "môn khắc cung" thì gọi là "chế", còn "cung khắc môn" gọi là "phá". Nhưng nguyên văn đề là "Lục Nghi thụ chế", có lẽ muốn nói đến sự chế ngự lẫn nhau. Tạm dịch giữ nguyên danh sách.


ĐỊA LA GIÁO CHƯỚNG

  • Địa La giáo chướng: Lục Nhâm lâm Thời cán (Nhâm + Thời cán? Hoặc Nhâm lâm giờ).

THIÊN CƯƠNG TỨ CHƯƠNG

  • Thiên Cương tứ chương: Lục Quý lâm Thời cán.


XÍCH THƯỞNG CAO THẤP (KÍCH THƯỚC CAO THẤP - dùng cho bát môn)

  • Cung 1,2,3,4,5: kích thước thấp.

  • Cung 6,7,8,9: kích thước cao.


BÁT TIẾT ỨNG BÁT MÔN VƯỢNG TƯỚNG (Tám tiết khí ứng với tám cửa)

  • Đông chí: Hưu môn vượng, Sinh môn tuyệt, Thương môn thai, Đỗ môn mộc, Cảnh môn tử, Tử môn tù, Kinh môn hưu, Khai môn phế.

  • Lập xuân: Sinh môn vượng.

  • Xuân phân: Thương môn vượng.

  • Lập hạ: Đỗ môn vượng.

  • Hạ chí: Cảnh môn vượng.

  • Lập thu: Tử môn vượng.

  • Thu phân: Kinh môn vượng.

  • Lập đông: Khai môn vượng.

  • Sau Đông chí lại tuần hoàn.


CỬU TINH VƯỢNG TƯỚNG

  • Cửu tinh vượng vào tháng Tý (tháng 11), tướng vào tháng bản thân (tháng của sao), tử vào tháng sinh ra nó (mẹ), tù vào tháng khắc nó (quỷ), phế vào tháng nó sinh ra (vợ).

  • Ví dụ: Thiên Bồng (Thủy tinh): tháng 1,2 vượng; tháng 10,11 tướng; tháng 7,8 tử; tháng 3,6,9,12 tù; tháng 4,5 phế.


BÁT MÔN BỊ PHÁ (PHÁ) - NGUYÊN VĂN GHI "PHÁ" (迫)

  • Khai môn lâm cung 3,4 (Chấn, Tốn): Kim khắc Mộc (môn khắc cung = phá).

  • Hưu môn lâm cung 9 (Ly): Thủy khắc Hỏa.

  • Sinh môn lâm cung 1 (Khảm): Thổ khắc Thủy.

  • Thương môn lâm cung 8 (Cấn): Mộc khắc Thổ.

  • Cảnh môn lâm cung 6 (Càn): Hỏa khắc Kim.

  • Tử môn lâm cung 1 (Khảm): Thổ khắc Thủy.

  • Kinh môn lâm cung 3,4 (Chấn, Tốn): Kim khắc Mộc.

  • Đỗ môn lâm cung 2,8 (Khôn, Cấn): Mộc khắc Thổ.


LUẬN BÁT MÔN CHẤP SỰ CA (Bài ca về việc dùng tám cửa)

Dục cầu tài lợi vãng sinh phương (muốn cầu tài lợi đến phương Sinh môn),
Táng liệp tu tri tử lộ cường (chôn cất săn bắn nên biết Tử môn mạnh).
Chinh chiến viễn hành khai môn cát (đánh trận đi xa Khai môn tốt),
Hưu môn kiến quý tối vi lương (Hưu môn gặp quý nhân là tốt nhất).
Tróc tặc kinh môn vô bất hoạch (bắt cướp Kinh môn chẳng gì chẳng được),
Đỗ môn vô sự hảo đào tàng (Đỗ môn vô sự ẩn náu tốt).
Sóc trái tu phòng thương môn thượng (đòi nợ nên dùng Thương môn),
Tư lượng ẩm tửu cảnh môn cao (toan tính ăn uống Cảnh môn cao).


ÂM DƯƠNG NHỊ ĐỘN THUẬN NGHỊCH KHỞI LỆ (Ví dụ khởi cục âm dương độn)

  • Đông chí, Kinh trập: 1,7,4 (Nhất thất tứ)

  • Hạ chí, Bạch lộ: 9,3,6 (Cửu tam lục)

  • Tiểu hàn: 2,8,5 (Nhị bát ngũ)

  • Tiểu thử: 8,2,5 (Bát nhị ngũ)

  • Đại hàn, Xuân phân: 3,9,6 (Tam cửu lục)

  • Đại thử, Thu phân: 7,1,4 (Thất nhất tứ)

  • Mang chủng: 6,3,9 (Lục tam cửu)

  • Lập thu: 2,5,8 (Nhị ngũ bát)

  • Cốc vũ, Tiểu mãn: 5,2,8 (Ngũ nhị bát)

  • Sương giáng, Tiểu tuyết: 5,8,2 (Ngũ bát nhị)

  • Lập xuân: 8,5,2 (Bát ngũ nhị)

  • Đại tuyết: 4,7,1 (Tứ thất nhất)

  • Thanh minh, Lập hạ: 4,1,7 (Tứ nhất thất)

  • Xử thử: 1,4,7 (Nhất tứ thất)

  • Vũ thủy: 9,6,3 (Cửu lục tam)

  • Lập đông, Hàn lộ: 6,9,3 (Lục cửu tam)


CỬU TINH TRỰC PHÙ ĐỒ (Sơ đồ chín sao - vị trí cố định)

  • Thiên Phụ: Tốn 4 (Mộc)

  • Thiên Anh: Ly 9 (Hỏa)

  • Thiên Nhuế: Khôn 2 (Thổ)

  • Thiên Xung: Chấn 3 (Mộc)

  • Thiên Cầm: Trung 5 (Thổ)

  • Thiên Trụ: Đoài 7 (Kim)

  • Thiên Nhậm: Cấn 8 (Thổ)

  • Thiên Bồng: Khảm 1 (Thủy)

  • Thiên Tâm: Càn 6 (Kim)


BÁT MÔN TRỰC SỬ ĐỒ (Sơ đồ tám cửa - vị trí cố định)

  • Đỗ môn: Tốn 4 (Lục)

  • Cảnh môn: Ly 9 (Hoàng)

  • Tử môn: Khôn 2 (Hắc)

  • Thương môn: Chấn 3 (Bích)

  • Kinh môn: Đoài 7 (Xích)

  • Sinh môn: Cấn 8 (Bạch)

  • Hưu môn: Khảm 1 (Bạch)

  • Khai môn: Càn 6 (Bạch)


TRỰC PHÙ TRỰC SỬ QUYẾT (Quyết tìm Trực Phù, Trực Sử)

Nhất phùng Khảm thượng nhất Khảm hưu,
Nhuế tử hoàn bài đệ nhị lưu,
Cánh hữu xung thương cư Chấn vị,
Tốn phùng Đỗ phụ sổ vi đầu.
Cầm tâm tử ngũ tâm khai lục,
Kinh trụ hoàn tòng thất thượng lai,
Duy hữu nhậm sinh cư bát Cấn,
Cửu tầm Anh cảnh trục phương chu.

(Nghĩa: cung Khảm số 1 - Hưu môn, cung Khôn số 2 - Tử môn, cung Chấn số 3 - Thương môn, cung Tốn số 4 - Đỗ môn, cung Trung số 5 - (Cầm, Tâm) - Tử môn? Thực tế Trung cung không có cửa, gán ghép. Càn 6 - Khai môn, Đoài 7 - Kinh môn, Cấn 8 - Sinh môn, Ly 9 - Cảnh môn. Ở đây "Cầm tâm tử ngũ tâm khai lục" ý nói: sao Cầm, Tâm ở cung 5 (Trung) thì Tử môn? Không rõ, dịch sát nguyên bản.)


NIÊN GIA CÔ HƯ PHƯƠNG VỊ (Phương Cô - Hư theo năm)

  • Năm (Niên vận): Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi

  • Niên cô (孤 - lẻ): Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất

  • Niên hư (虛 - không): Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn

NGUYỆT GIA CÔ HƯ

  • Tháng (Nguyệt vị): 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12

  • Nguyệt cô: Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý

  • Nguyệt hư: Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ

NHẬT GIA CÔ HƯ

  • Ngày (Nhật vị): Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi

  • Nhật cô: Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất

  • Nhật hư: Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn

THỜI GIA CÔ HƯ (Theo phương vị - có vẻ không đúng với 12 địa chi, mà là 8 hướng)

  • Thời vị: Đông, Bắc, Đông, Tây, Tây, Tây, Nam, Bắc, Nam, Bắc, Bắc, Nam (phiên âm: Đông Bắc Đông Tây Tây Tây Tây Nam Bắc Nam Bắc Nam? Nguyên văn: "Đông, Bắc, Đông, Tây, Tây, Tây, Nam, Bắc, Nam, Bắc, Nam, Nam" - cần kiểm tra. Dịch sát: "thời vị: đông, bắc, đông, tây, tây, tây, nam, bắc, nam, bắc, nam, nam")

  • Thời cô: Đông, Bắc, Đông, Tây, Tây, Tây, Tây, Nam, Bắc, Nam, Bắc, Nam (tương tự)

  • Thời hư: Tây, Nam, Tây, Đông, Đông, Đông, Đông, Bắc, Nam, Bắc, Nam, Bắc? Rất lộn xộn, dịch sát nguyên bản:

Thời vị: Đông, Bắc, Đông, Tây, Tây, Tây, Nam, Bắc, Nam, Bắc, Nam, Nam.
Thời cô: Đông, Bắc, Đông, Tây, Tây, Tây, Tây, Nam, Bắc, Nam, Bắc, Nam.
Thời hư: Tây, Nam, Tây, Đông, Đông, Đông, Đông, Bắc, Nam, Bắc, Nam, Bắc.

(Khuyến cáo: phần này có vẻ sai lệch hoặc theo một hệ thống khác, cần tham khảo chuyên gia.)


TAM KỲ THẦN CHÚ (Ba bài chú của Tam Kỳ)

  • Ất Kỳ chú:

    Thiên đế thần uy, trụ diệt quỷ tặc.
    Lục Ất tương phù, thiên đạo tán đức.
    Ngô lệnh sở hành, vô công bất khắc.
    Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.

  • Bính Kỳ chú:

    Ngô đức thiên trợ, tiền hậu giá la.
    Thanh Long Bạch Hổ, tả hữu khu ma.
    Chu Tước đạo tiền, sử ngã hội tha.
    Thiên uy trợ ngã, lục Bính trừ a.
    Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.

  • Đinh Kỳ chú:

    Thiên đệ đệ tử, bộ lệnh thiên binh.
    Thưởng thiện phạt ác, xuất u nhập minh.
    Lai hộ ngô giả, Ngọc Nữ lục Đinh.
    Hữu phạm ngã giả, tự diệt kỳ hình.
    Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.


TAM KỲ LỤC NGHI (Ba kỳ, sáu nghi)

Tam kỳ lục nghi, thiên địa chi cơ.
Âm dương thuận nghịch, chí thuận huyền vi.

  • Thời gia Lục Giáp (giờ có Giáp): Nhất khai nhất tịch, thượng hạ giao tiếp.

    • Gia Dương tinh vi khai (gặp sao dương là mở), bách sự cát.

    • Gia Âm tinh vi tịch (gặp sao âm là đóng), bách sự hung.

  • Thời gia Lục Ất (giờ có Ất): Vãng lai hoảng hốt, dữ thần câu xuất.

    • Thời dưới được Ất là Nhật kỳ. Phàm việc tấn công, trốn chạy, nên theo Thiên thượng Lục Ất mà xuất, thì hoảng hốt như thần, không ai thấy. Cho nên nói: "cùng thần ra đi". Lục Ất là Bồng tinh, lại là Thiên đức, trăm việc tốt, lợi cho cầm quân, chỗ nào đánh cũng được công. Người quân nên ban ơn, chớ nên làm việc phạt đánh.

  • Thời gia Lục Bính (giờ có Bính): Vạn binh mạc vãng, vương hầu chi tượng.

    • Thời dưới được Bính là Nguyệt kỳ, lại là tượng uy hỏa. Phàm tấn công nên theo Thiên thượng Lục Bính mà xuất, gặp Nguyệt kỳ, lại cầm uy hỏa, nên uy dẹp được vương hầu.

  • Thời gia Lục Đinh (giờ có Đinh): Xuất nhập u minh, đáo lão bất hình.

    • Thời dưới được Đinh là Tinh kỳ, lại là Ngọc Nữ, nên dùng cho an táng, trốn lánh. Việc người nếu theo Tinh kỳ, cầm Ngọc Nữ mà từ Thiên thượng Lục Đinh xuất, vào Thái Âm mà ẩn, thì địch tự không thấy. Trăm việc đều tốt, nếu dùng binh thì chủ thắng lớn.

  • Thời gia Lục Mậu (giờ có Mậu): Thừa long vạn lý, mạc cảm tổ chỉ.

    • Mậu là Thiên Vũ. Từ Thiên thượng Lục Mậu mà xuất, chống Thiên Vũ vào Thiên Môn, trăm việc đều tốt, đi xa vạn dặm, chẳng gì ngăn cản. Lại nên phát hào lệnh, giết ác phạt gian.

  • Thời gia Lục Kỷ (giờ có Kỷ): Thần nhân sở sử, xuất bị hung cữu.

    • Kỷ là Địa hộ, là Lục Hợp. Nên làm việc âm mưu, tư thông, không thể bày ra ngoài. Phàm việc đều hung, cầm quân ắt yếu.

  • Thời gia Lục Canh (giờ có Canh): Bão mộc nhi hành, Xi Vưu bất nhập, tất hữu đấu tranh.

    • Canh là Thiên ngục, trăm việc hung. Cầm quân thì khách chết, chủ thắng.

  • Thời gia Lục Tân (giờ có Tân): Hành phùng tử nhân, cường hữu sở tác, ương phạt triền thân.

    • Tân là Thiên đình, các việc bất lợi. Cầm quân khách chết chủ thắng.

  • Thời gia Lục Nhâm (giờ có Nhâm): Vi lợi sở cấm, cường hựu xuất nhập, phi họa tương lâm.

    • Nhâm là Thiên lao. Lúc này dụng sự ắt có kẻ thù ghét, bị quan lại quở trách, không thể cất quân, chỉ nên nghiêm hình ngục, xử kiện tụng.

  • Thời gia Lục Quý (giờ có Quý): Chúng nhân mạc thị, bất tri lục Quý, xuất môn tất tử.

    • Quý là Thiên tàng. Chỉ nên trốn xa, biệt tích. Từ Thiên thượng Lục Quý mà xuất, thì chúng không thấy. Lại nên dùng việc roi vọt (trừng phạt).